đặc điểm lâm sàng của các chủng nấm candida sp. phân lập được trên bệnh nhân có hội chứng tiết dịch âm đạo tại bệnh viện phong và da liễu tỉnh sơn la - Pdf 23

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, khí hậu nóng và ẩm là những yếu
tố thuận lợi cho nấm phát triển và gây bệnh ở khắp các bộ phận trên cơ thể
trong đó có viêm âm hộ, âm đạo. Viêm âm hộ, âm đạo do bất kỳ căn nguyên
nào là bệnh phụ khoa phổ biến trên toàn thế giới và được xếp vào các nhiễm
khuẩn lây truyền qua đường tình dục (Sexually Transmitted Infection - STI).
Các bệnh STI có xu hướng ngày càng gia tăng nhất là ở các nước đang phát
triển, nó vừa là bạn đồng hành, vừa là chỉ điểm của đại dịch HIV/AIDS. Theo
Tổ chức y tế thế giới, có khoảng 340 triệu người mắc STI trên thế giới, riêng
vùng Đông Nam Á có khoảng 150,5 triệu người mắc các bệnh này. Hiện nay
STI đã trở thành vấn đề y tế cộng đồng mang tính toàn cầu, triệu chứng điển
hình nhất là tiết dịch ở âm đạo, niệu đạo nhiều hơn bình thường và được chẩn
đoán có hội chứng tiết dịch âm đạo, niệu đạo. Nguyên nhân gây bệnh có thể
do: vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm Trong đó căn nguyên do nấm
Candida chiếm tỷ lệ tương đối cao từ 12-26% 29], [33], [42].
Khi nhiễm nấm Candida âm đạo người bệnh có cảm giác ngứa ngáy,
bứt rứt khó chịu, nếu viêm nhiễm nặng có thể đau đớn ảnh hưởng đến sức
khoẻ, tinh thần thậm chí cảm thấy chán nản, tự ti, mất hứng thú trong quan hệ
tình dục. Nếu bệnh tái phát nhiều, không điều trị đúng và kịp thời bệnh sẽ tiến
triển nặng và có thể gây nhiều biến chứng như: viêm tử cung, ống dẫn trứng,
viêm buồng trứng, có thể dẫn đến vô sinh.
Vì vậy việc tìm hiểu tình hình mắc bệnh, việc chẩn đoán sàng lọc tại
cộng đồng, những yếu tố liên quan đến căn nguyên lây bệnh nhằm phát hiện
điều trị sớm để giảm các biến chứng là hết sức cần thiết.
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc
điểm lâm sàng, các yếu tố có liên quan đến tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo nhưng ở
1
Sơn La cho tới nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này. Với đặc
điểm là một tỉnh miền núi hầu hết là các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí
thấp, còn nhiều hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, việc quan tâm đến sức khoẻ nói

đạo tại Bệnh viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn từ tháng 10/2012 đến tháng
6/2013.
- Định loại nấm Candida spp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tất cả các bệnh nhân có hội chứng tiết dịch âm đạo đến
khám tại Bệnh viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn La có biểu hiện lâm sàng và
xét nghiệm trực tiếp tìm nấm dương tính từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2013.
- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Sơn La
4. Những đóng góp cơ bản của luận văn
- Lần đầu tiên đánh giá được mức độ nhiễm, các yếu tố ảnh hưởng tới tỉ
lệ nhiễm bệnh nấm Candida spp. ở bệnh nhân có hội chứng tiết dịch âm đạo
đến khám tại Bệnh viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn La.
- Nuôi cấy và định loại được 5 loài nấm Candida gây bệnh viêm âm
đạo trên địa bàn nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu góp phần tăng cường biện pháp giáo dục sức khỏe sinh
sản và tuyên truyền an toàn tình dục.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về nấm Candida
Candida là một loại nấm men thuộc bộ Saccharomycetales, lớp
Saccharomycetes, ngành nấm túi (Ascomycota) [54]. Ngày nay có khoảng
377 loài Candida được công nhận, trong đó có khoảng 17 loài gây bệnh [55].
Candida là một loại nấm tồn tại phổ biến trong thiên nhiên, sống ký sinh ở
người và sinh vật nhưng chỉ có Candida albicans được xem là thường xuyên
gây bệnh còn đại đa số các loài khác sống hoại sinh và gây bệnh cơ hội.
Candida có những đặc điểm sau:
- Tồn tại ở trạng thái đơn bào, thường là tế bào hình tròn hay hình trái
xoan. Kích thước nấm Candida thường lớn gấp 10 lần vi khuẩn, C. albicans
quan sát dưới kính hiển vi thường có dạng hình trái xoan, thành dày, nẩy chồi
dạng hẹp và thường kèm dạng sợi mảnh, giả sợi.

đầu tiên về nấm ở một bệnh nhân sốt thương hàn. Nấm hầu họng và thực quản
có màng giả được tìm thấy khi giải phẫu tử thi. “Dưới kính hiển vi phóng đại,
các lớp màng giả chứa rất nhiều nấm” . Ông miêu tả chi tiết những thứ mà
ngày nay người ta gọi là sợi nấm có vách ngăn, giả sợi và bào tử nảy chồi
(pseudohyphae và blastoconidia). Nhưng ông lại cho rằng đây là vi khuẩn
thương hàn chứ không phải là nấm [47]. Năm 1844, J. H. Bennett quan sát
được 1 loại nấm tương tự ở đờm và phổi của một bệnh nhân bị tràn khí màng
phổi và chỉ trích kết luận của Langenbeck. Mô tả hình thái của ông về cơ bản
giống với của Langenbeck. Bennett kết luận rằng bệnh là “biểu thị của sự suy
giảm miễn dịch và sự suy yếu các chức năng dinh dưỡng của vật chủ” [36].
Hai năm sau, Fredrik Theodor Berg kết luận rằng tưa lưỡi trẻ em là do nấm
5
và lây truyền có thể là do dùng chung những chai sữa cho trẻ em bú. Sau phát
hiện này, hai loại bệnh khác cũng được cho là do Candida gây ra là nhiễm
Candida âm đạo và tiêu hóa.
Candida ở âm đạo lần đầu tiên được Wilkinson mô tả vào năm 1849.
Vào năm 1875, Haussmann đã chứng minh rằng sinh vật gây bệnh trong
Candida đường miệng và đường âm đạo là một [48].
Khi căn nguyên đã được các nhà nấm học xác định thì cuộc tranh luận
tiếp theo là xác định tác nhân gây bệnh. Năm 1847, nhà nấm học danh tiếng
người Pháp, Charles Philippe Robin, đã phân loại được nấm Oidium albicans,
sử dụng chữ “albicans” (có nghĩa là “làm cho trắng, hóa trắng”) để đặt tên cho
loại nấm gây tưa lưỡi ở trẻ em. Hill và sau đó là Martin và Jones đã phân loại
nhầm Candida vào chi Monilia, một chi nấm thường phát triển ở thực vật. Sau
đó các bác sỹ gọi nhầm căn nguyên gây tưa lưỡi là Monilias mặc dù các nhà
nấm học đã làm sáng tỏ sự khác biệt hình thái giữa nấm gây tưa lưỡi với nấm
trong chi Monilia. Christine Marie Berkhout đã ghi nhận những khác biệt này,
đặc biệt là khả năng lây nhiễm sang người của Candida trong luận án tiến sỹ
của bà ở đại học Utrecht năm 1923. Berkhout đã phân loại lại là chi Candida,
và hiện nay ta vẫn sử dụng tên này. Candida bắt nguồn từ chữ “toga candida”

như Candida albicans tồn tại và gây bệnh là nhờ có các men như protease,
phospholipase, lipophospholipase. Ngoài ra nó còn liên quan đến khả năng
hình thành các thụ thể (receptors) đối với steroide và đối với sắt là
siderophores [4], [5], [1], [58].
Sự phát triển của nấm Candida gây đáp ứng mạnh mẽ là biểu hiện lâm
sàng của bệnh. Đáp ứng miễn dịch trong bệnh nấm Candida là đáp ứng miễn
7
dịch qua trung gian tế bào. Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào suy giảm
ở bệnh nhân bị bệnh nấm Candida da, niêm mạc mạn tính [32].
Candida có thể gây bệnh ở nhiều cơ quan, tổ chức. Tổn thương có thể
nông trên da, niêm mạc miệng, lưỡi, họng, hầu, niêm mạc sinh dục nam, nữ, ở
móng, ở tóc nhưng cũng có thể xâm nhập vào sâu trong phủ tạng như: tim,
phổi, gây nhiễm Candida hệ thống và có thể gây tử vong [11], [24].
Gần đây người ta thấy nhiễm nấm Candida hệ thống có chiều hướng
tăng lên. Theo Đỗ Thị Nhuận ở Mỹ khoảng 25% số bệnh nhân tử vong do một
loại nấm Candida trong tổng số các bệnh nhân tử vong do nấm [26].
1.2.2. Các bệnh do Candida gây ra
1.2.2.1. Nhiễm Candida ở niêm mạc
+ Nhiễm nấm Candida ở niêm mạc miệng, hầu
Người ta thấy có tới 30 - 50% người khoẻ mạnh bị nhiễm nấm Candida
niêm mạc miệng. Bệnh nhân đái tháo đường, trẻ vị thành niên dùng steroid xịt
điều trị hen phế quản, trẻ bú mẹ cũng hay bị nhiễm nấm Candida miệng.
Nhiễm nấm Candida hầu họng có thể là một trong những dấu hiệu chỉ điểm
của suy giảm miễn dịch mắc phải HIV/ AIDS [49].
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm nấm Candida miệng, hầu là những mảng
đốm trắng trên bề mặt lưỡi hoặc ở niêm mạc má, lợi. Những mảng trắng này
có thể bong để lại nền trầy xước, đỏ, rớm dịch hoặc chảy máu [11].
+ Nhiễm nấm Candida ở da, móng
Nhiễm nấm Candida thường gặp ở các kẽ, vùng da bị ẩm ướt như:
nách, bẹn, nếp vú, rãnh liên mông, nếp lằn mông trên những người béo phì,

1.2.2.3. Nhiễm nấm Candida phủ tạng
+ Nhiễm nấm Candida ở ống tiêu hoá
Bệnh nấm Candida ở thực quản có thể là một trong những biểu hiện
đầu tiên của bệnh nhân HIV/AIDS. Khoảng 10% bệnh nhân AIDS hoặc bị các
bệnh suy giảm miễn dịch khác có nhiễm Candida thực quản. Biểu hiện của
nhiễm Candida thực quản thường thấy là khó nuốt, sút cân, suy dinh dưỡng
và hội chứng suy mòn, khó điều trị, đôi khi tử vong do suy dinh dưỡng [49].
Nấm Candida đường ruột gây tiêu chảy kéo dài.
+ Nhiễm nấm Candida đường hô hấp
Candida có thể gây viêm thanh quản, viêm nắp thanh quản và tắc
nghẽn khí quản, viêm phổi hoặc phế quản phổi. Việc chẩn đoán xác định phải
căn cứ vào sinh thiết nhu mô phổi và cấy nước rửa thanh khí phế quản. Tuy
nhiên cần phải nuôi cấy để phân biệt với Paracocidimycosse [10].
+ Nhiễm nấm Candida ở tim
Candida có thể gây viêm màng ngoài tim nhất là sau mổ tim. Viêm nội
tâm mạc do Candida chủ yếu xẩy ra sau phẫu thuật tim hở kéo dài, trên bệnh
nhân đã điều trị bằng kháng sinh hoặc truyền dịch dài ngày qua vi ống
(catheter). Ngoài ra những người có van tim nhân tạo hoặc nghiện ma túy
cũng là yếu tố thuận lợi cho viêm nội mạc do Candida [10].
+ Nhiễm nấm Candida máu
Bệnh cảnh lâm sàng này chủ yếu gặp ở bệnh nhân bị ác tính, nhất là
leucose hoặc u lympho Hogdkin hoặc không Hogdkin.Những thủ thuật mổ xẻ
phức tạp kéo dài, bị bỏng rộng, nghiện ma tuý cũng là những yếu tố thuận lợi
cho nhiễm Candida máu.
Candida còn có thể xâm nhập vào thần kinh trung ương, mọi bộ phận
của mắt như: nhãn cầu, kết mạc gây mù loà vĩnh viễn [10].
10
1.3. Nhiễm nấm Candida âm đạo
1.3.1.Đặc điểm sinh lý âm đạo bình thường
* Khí hư: là chất dịch không có máu chảy ra từ âm đạo có thể là chất tiết

trò rất quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của bệnh viêm nhiễm đường sinh
dục. Hệ vi sinh vật này gồm chủ yếu là vi khuẩn và có thể có nấm men. Trong
đó chiếm ưu thế là các chủng Lactobacillus. Đó là vi khuẩn có lợi, tạo ra sự
bảo vệ âm đạo bằng cách sinh ra hydrogen peroxide, chất diệt khuẩn và axit
lactic làm cho pH thấp, ức chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh.Khi hệ
vi sinh vật bị thay đổi thì viêm âm đạo dễ xảy ra [21], [37], [38].
* Độ pH của âm đạo: pH trung bình của âm đạo phụ thuộc vào tuổi, tình
trạng nội tiết sinh dục. Ở trẻ em chưa hành kinh pH là 7, ở phụ nữ trong độ
tuổi hoạt động sinh đẻ pH dao động trong khoảng 4-5 và ở phụ nữ mãn kinh
pH thay đổi từ 6-7. pH âm đạo tạo điều kiện thuận lợi cho sự cân bằng của hệ
sinh thái vi sinh vật trong âm đạo. Sự thay đổi pH âm đạo là điều kiện cho
viêm âm đạo xảy ra. Biến động của nhóm Lactobacillus ảnh hưởng đáng kể
đến pH âm đạo và tình trạng viêm nhiễm âm đạo [5], [39], [34].
1.3.2. Tác nhân gây bệnh
Bình thường trong cơ thể người, nấm có thể sống trong âm đạo nhiều
phụ nữ mà không có biểu hiện lâm sàng, còn gọi là nấm hoại sinh. Sự phát
triển và gây bệnh của nấm chịu sự kìm chế của các vi khuẩn khác sống trong
âm đạo và phụ thuộc vào độ cân bằng môi trường âm đạo và hệ thống miễn
dịch của cơ thể. Khi một yếu tố nào đó phá vỡ sự bình ổn môi trường này thì
nấm sẽ phát triển mạnh và gây bệnh (Từ Candida hoại sinh thành Candida
gây bệnh) [20].
Khoảng 50% người mang Candida sẽ trở thành bệnh có triệu chứng. Khi
Candida gây bệnh ở âm đạo thì gọi là nhiễm nấm Candida âm đạo. Khoảng
12
85% các trường hợp nhiễm nấm âm đạo là do chủng Candida albicans gây ra,
15% còn lại là do các chủng C. glabrata. Ngoài ra các chủng C. torulosis, C.
krusei cũng có thể gây viêm âm hộ, âm đạo nhưng ít gặp hơn [41], [45].
Người ta biết rằng nấm Candida chỉ phát triển trên vật chủ bị suy giảm
sức đề kháng tại chỗ hoặc toàn thân. Candida sp. tồn tại được trong môi
trường âm đạo đầu tiên chúng phải bám dính được vào tế bào biểu mô âm

viêm âm đạo do nấm, nhất là kháng sinh phổ rộng như: Cephalosporin,
tetracyclin, ampicylin. Những kháng sinh này làm giảm lượng vi khuẩn
Lactobaccilus bảo vệ âm đạo. Nấm Candida không bị kìm hãm sẽ có cơ hội
phát triển và trở nên gây bệnh [8].
+ Đái tháo đường
Đối với bệnh nhân đái tháo đường song song với tăng đường huyết thì
đường ở dịch âm đạo cũng tăng. Chính sự tăng đường ở dịch âm đạo đã tạo điều
kiện cho nấm Candida nhân lên và gây nên các triệu chứng lâm sàng của bệnh.
+ Ảnh hưởng nội tiết tố sinh dục
- Đang có thai
Trong thời kỳ có thai, nồng độ hormon tăng, nhất là vào tháng thứ 7 và
thứ 9. Tăng hormon làm cho môi truờng axit của âm đạo thay đổi và glycogen
của tế bào tăng lên thuận lợi cho nấm phát triển.
14
- Dùng thuốc tránh thai
Những loại thuốc có nồng độ Estrogen cao, có tác dụng như của nội tiết
tố trong thời kỳ thai nghén. Vì thế khi sử dụng thuốc tránh thai sẽ tạo điều
kiện cho nấm phát triển. Để khắc phục tình trạng này , ngày nay người ta sử
dụng thuốc tránh thai có nồng độ Estrogen thấp [18].
- Chu kỳ kinh nguyệt
Nấm phát triển liên tục trong giai đoạn trước kỳ kinh. Trên thực tế lâm
sàng có rất nhiều triệu chứng viêm âm đạo do nấm xuất hiện thường xuyên
vào tuần thứ 3 và 4 của kỳ kinh.
Có lẽ sự thay đổi hormon của vòng kinh đã ảnh hưởng đến sự phát triển
của nấm [18].
+ Các yếu tố khác [8]
- Bạn tình bị nhiễm Candida: Nếu bạn tình bị nhiễm nấm Candida thì
Candida cũng sẽ lây truyền như bất cứ một bệnh lây truyền qua đường tình
dục nào khác.
- Tổn thương lớp nhầy bảo vệ âm hộ, âm đạo: Dùng hoá chất khử mùi,

chiếm 28,2% [35]. Trong nghiên cứu của Hamad và cs. (2013) ở Bệnh viện
Latifa, Dubai, UAE từ 2005 đến 2011 thấy rằng tỷ lệ mắc mới Candida âm
đạo có sự gia tăng từ 10.76% năm 2005 lên 17,61% năm 2011, tỷ lệ nhiễm
trung bình là 13.88% [42]. Còn Akinbiyi, Watson và Feyi (2008) nghiên cứu
ở 1073 thai phụ đến khám tại bệnh viện đa khoa Barnsley, Anh cho biết tỷ lệ
nhiễm C. albicans là 12.5% [33]. Theo Catalan và cs. (2000) trong viêm âm
đạo nấm Candida chiếm 30% trường hợp [40]. Theo Barraco (1996), khi
khám cho 1462 bệnh nhân thì có 10% viêm âm đạo có nguyên nhân do nấm,
trong đó có 13% trước 50 tuổi, 4% sau 50 tuổi [50]. Pfaller, M.A và cs.
16
(2010) lại cho chúng ta một số liệu khổng lồ nghiên cứu trên nhiều quốc gia:
trong 256,882 chủng Candida phân lập được từ 142 trung tâm y tế thuộc 41
nước, từ 6/1997 đến 12/2007 (24 vùng thuộc châu Á Thái Bình Dương, 16
vùng thuộc Mỹ Latin, 18 vùng thuộc châu Âu, 11 vùng thuộc Châu Phi-Trung
Đông và 13 vùng thuộc Bắc Mỹ) nhận thấy tỷ lệ nhiễm C. albicans là 65,3%
(70.9% từ 1997-2000; 62,9% từ 2001-2004 và 65% từ 2005-2007); C.
glabrata là 11.3% (10.2% từ 1997-2000; 11.5% từ 2001-2004 và 11.7% từ
2005-2007); C.tropicalis là 7.2% (5.4% từ 1997-2000; 7.5% từ 2001-2004 và
8% từ 2005-2007); C. inconspicua là 0.2% (0.02% từ 1997-2000; 0.2% từ
2001-2004 và 0.3% từ 2005-2007); C. guilliermondii là 0,7% (0.7% từ 1997-
2000; 0.8% từ 2001-2004 và 0.6% từ 2005-2007) [52].
1.4.2. Ở Việt Nam
Có rất nhiều nghiên cứu về nấm Candida âm đạo tại các bệnh viện,
trường y dược, các cơ sở y tế và các địa phương trên cả nước. Theo Nguyễn
Thị Đào ở âm hộ phụ nữ khoẻ mạnh có thể tìm thấy các chủng nấm Candida
khoảng 25-30%. Đối với phụ nữ có thai tỷ lệ có thể tới 30-50% [11]. Nghiên
cứu của Đàm Thị Hoà tại Viện Da liễu TW (Năm 1996-1998) cho thấy tỷ lệ
nhiễm Candida âm đạo là 26,2% [15]. Tác giả Dương Thị Cương tổng kết các
tài liệu thấy tỷ lệ viêm âm đạo do nấm trong khoảng từ 22-26% [9]. Theo
Phạm Văn Hiển - Nguyễn Duy Hưng tỷ lệ nhiễm nấm âm đạo là 17,4% trên

đẻ tại huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam năm 2004 có 56 trường hợp nhiễm
Candida albicans chiếm 10,21%. Trần Cẩm Vân (2010) khi nghiên cứu các
yếu tố nguy cơ và độ nhạy cảm với kháng sinh chống nấm của các chủng nấm
Candida spp. ở bệnh nhân có hội chứng tiết dịch âm đạo tại bệnh viện Da Liễu
TW thấy rằng có 21,5% nhiễm nấm Candida [29]. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ
18
cho thấy rằng: Candida là nguyên nhân chính của hội chứng tiết dịch đường
sinh dục. Ngày nay nhiễm Candida âm đạo đang ngày càng gia tăng. Có nhiều
bệnh nhân bị tái phát nhiều lần, một năm có khi 4-5 đợt nhiễm bệnh. Ngoài
những yếu tố thuận lợi như: có thai, đái tháo đường, uống thuốc tránh thai
cũng có giả thiết rằng do có thể thiếu hụt rõ rệt kháng thể IgG kéo dài gây nên
nhiễm nấm trầm trọng [44].
1.4.3. Tại Sơn La
Theo số liệu những năm gần đây tình hình nhiễm các bệnh lây truyền
qua đường tình dục tại Phòng khám, Bệnh viện Phong và Da liễu ngày một gia
tăng (số liệu báo cáo hàng năm của bệnh viện). Trong đó số bệnh nhân có biểu
hiện lâm sàng của nấm Candida chiếm tỷ lệ không nhỏ, ước tính khoảng 20%.
1.5. Một vài đặc điểm về khu vực nghiên cứu
Sơn La là một tỉnh miền núi có 11 huyện, thành phố và 204 xã,
phường, thị trấn. Dân số trên 1.132.000 người, gồm 12 dân tộc với 82% là
đồng bào dân tộc thiểu số (trong đó dân tộc Thái chiếm 54,76%, dân tộc Kinh
17,43%, dân tộc Mông 13%, dân tộc Mường 8,15%, Xinh mun 1,89%, Dao
1,82%, dân tộc Khơ mú 1,13%, dân tộc La Ha 0,61% và một số dân tộc
khác, tỉnh có đường biên giới dài 250km với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân
dân Lào.
Tuy đời sống kinh tế văn hoá, xã hội đã phát triển và đạt được nhiều
thành tựu quan trọng nhưng vẫn còn một bộ phận không nhỏ nhân dân ở vùng
sâu, vùng xa, vùng cao biên giới còn gặp nhiều khó khăn (Tỷ lệ hộ nghèo còn
khoảng 27%), trình độ dân trí thấp, đời sống sinh hoạt và tiếp cận các dịnh vụ
phúc lợi xã hội còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các dịch vụ về y tế. Đến nay

viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn La có biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm trực
tiếp tìm nấm dương tính.
Bệnh phẩm dịch âm đạo
Các chủng nấm Candida sp. phân lập được trên bệnh nhân có hội
chứng tiết dịch âm đạo tại Bệnh viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn La.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Phụ nữ có biểu hiện tiết dịch âm đạo
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Sử dụng thuốc trước khi đến khám.
- BN đang trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc ra máu bất thường.
- Các đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân HIV/AIDS
2.2. Địa điểm nghiên cứu
- Tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Phong và Da liễu tỉnh Sơn La: Thu thập
thông tin bệnh nhân làm bệnh án. Tiến hành thăm khám bệnh nhân có hội chứng
tiết dịch âm đạo ( HCTDÂĐ) và xét nghiệm trực tiếp dịch âm đạo tìm nấm.
- Tại khoa xét nghiệm Bệnh viện Da liễu Trung ương: Nuôi cấy và định
loại chủng Candida sp. gây viêm âm đạo.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Thời gian từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2013.
21
2.4. Thiết bị, dụng cụ và hóa chất dùng cho nghiên cứu
2.4.1. Thiết bị, dụng cụ
Kính hiển vi quang học Euromex - Holland; Tủ an toàn sinh học cấp II -
Malaixia; Tủ ấm 25
o
C - 37
o
C Memmert - Germany; Tủ sấy Gally - Trung

(có thể thêm Chloramphenicol hoặc Actidion).
Cách làm: Trộn đều các chất vào nước cất, vừa đun vừa khuấy cho đến
khi sôi và tan hết, lọc qua gạc, đóng 5-7 ml vào ống thủy tinh. Hấp khử khuẩn
ở 110°C trong 30 phút hoặc 120°C trong 15 phút, lấy ra để nhiệt độ hạ xuống
khoảng 50°C, ngả ống tạo thạch nghiêng, bảo quản trong tủ lạnh.
- Môi trường thạch Bột ngô + Tween 80:
Bột ngô 4g
Thạch 1,5g
Tween 80 1ml
Nước cất 100ml.
Cách làm: Cho bột ngô vào nước, đun nhỏ lửa 1giờ, lọc qua gạc vài lần.
Cho thạch, nước cất và Tween 80 cho đủ 100ml, đun sôi cho tan thạch, hấp
khử khuẩn ở 110°C trong 30 phút hoặc 120°C trong 15 phút, đổ ra đĩa petri,
mỗi đĩa khoảng 25 - 30ml trong buồng cấy vô trùng.
- Môi trường đồng hóa đường:
(NH
2
)SO
4
5g
KH
2
PO
4
1g
MgSO
4
0,5g
Thạch 20g
Nước cất 1000ml.

24
Khám âm đạo: đặt mỏ vịt vào trong âm đạo, mở mỏ vịt và định vị cổ tử
cung vào giữa hai cành của mỏ vịt, kiểm tra tình trạng âm đạo, cổ tử cung.
Quan sát tính chất của khí hư: màu sắc, số lượng nhiều hay ít, tính chất
(Bột, váng sữa, đặc hay loãng) .
Phát hiện các tổn thương:
- Viêm âm hộ: âm hộ có thể đỏ, phù nề, trợt , loét
- Viêm âm đạo: thành âm đạo đỏ phù nề, xung huyết nhẹ, có thể viêm
âm đạo và rải rác có những điểm trợt hoặc loét.
- Viêm loét cổ tử cung.
- Lộ tuyến cổ tử cung.
* Kỹ thuật đo pH âm đạo
- Sử dụng dải giấy pH chỉ thị màu có kèm bảng theo bảng màu chuẩn
(Bảng chuẩn màu có chỉ thị pH từ 1-14) .
- Lấy dịch tiết âm đạo bằng que cấy vô khuẩn qua mỏ vịt.
- Để bệnh phẩm tiếp xúc trực tiếp với dải giấy pH trong thời gian 10 giây.
+ Đánh giá kết quả: so dải pH đã thấm dịch âm đạo với bảng màu
chuẩn để xác định pH của dịch âm đạo.
3.3.3. Phương pháp vi sinh [6], [23]
3.3.3.1. Xét nghiệm trực tiếp tìm nấm Candida sp. trong dịch âm đạo
* Xét nghiệm trực tiếp
- Lấy bệnh phẩm: mở âm đạo bằng mỏ vịt và lấy bệnh phẩm ở cùng đồ
sau và thành âm đạo hai bên.
- Làm tiêu bản: dùng que cấy hoặc tăm bông vô khuẩn lấy dịch ở cùng
đồ sau, hòa bệnh phẩm trong NaCl 9‰, đậy lamen và soi ngay dưới kính hiển
vi (có thể đồng thời phát hiện Trùng roi âm đạo). Sau đó, dùng tăm bông vô
khuẩn khác phết lên lam kính với đường kính khoảng 1cm, cố định bằng cách
25

Trích đoạn Thời gian bị bệnh Kết quả định loại các chủng nấm Candida Đặc điểm bệnh nấm Candida âm đạo Candida guilliermondi (mã số: 18)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status