nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường tại thành phố hà nội năm 2008 - Pdf 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
****** BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài :
Nghiên cứu kiến thức, thái độ và thực hành của
giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh cận thị học đường
tại thành phố Hà nội năm 2008
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Lê Thị Thanh Xuân
Hà Nội tháng 5 năm 2010
Danh mục các từ viết tắt

BN Bệnh nhân
CTHĐ Cận thị học đường
GV Giáo viên

nội năm 2008 28
6.3. Thực hành của giáo viên 4 trường tiểu học về phòng bệnh CTHĐ tại thành phố Hà
nội năm 2008 28
VII. Khuyến nghị 29
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Sơ đồ cây vấn đề
I. Đặt vấn đề
Cận thị học đường (CTHĐ) là một trong những bệnh trường học, có
liên quan đến quá trình học tập ở tuổi học sinh. Bệnh dễ phát sinh trong quá
trình học tập và có tác động xấu đến sức khoẻ trước mắt cũng như lâu dài
của học sinh, làm giảm sút kết quả học tập, gây khó khăn trong sinh hoạt
hàng ngày, ảnh hưởng đến thẩm mỹ, kinh tế (tốn tiền mua kính, đi khám mắt
thường xuyên, mua thuốc…) và có thể gây mù loà.
Ngày nay, tỷ lệ cận thị đang có xu hướng gia tăng trong các cấp học
phổ thông. Tại Hà nội, có lớp học tới 50% học sinh phải đeo kính [1]. Có
những em không biết mình bị cận thị nên không đeo kính [10]. Theo một số
nghiên cứu, tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học, thấp nhất ở tiểu học (TH) và
cao nhất ở trung học cơ sở (THCS) [10]. Tuy nhiên, tỷ lệ cận thị ở học sinh
tiểu học (HSTH) đã gia tăng nhanh nhất trong vòng 1965-2000 (tăng gấp 5,5
lần) [10]. Trong nghiên cứu tại bệnh viện mắt trung ương năm 2006: nhóm
tuổi bắt đầu mắc cận thị cao nhất ở HSTH, chiếm 55,5% tổng số bệnh nhân.
Cũng theo nghiên cứu này, tuổi bắt đầu mắc cận thị trung bình là 10,01[6].
Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra rằng cần có những biện pháp can
thiệp để phòng chống bệnh cận thị cho học sinh, đặc biệt là ở cấp tiểu học.
Nguyên nhân của thực trạng này là do môi trường học tập không đảm
bảo: điều kiện học tập ở trường không đầy đủ (bàn ghế không đúng quy
cách, độ chiếu sáng không phù hợp, vật phẩm học tập không đủ tiêu
chuẩn ), quá trình học tập ở nhà không đảm bảo vệ sinh (không có thời gian
biểu hợp lý giữa học và giải lao, học thêm quá nhiều môn, nhiều giờ ), sự

• Mục tiêu cụ thể:

2
1. Mô tả kiến thức phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học
tại thành phố Hà nội năm 2008.
2. Mô tả thái độ phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại
thành phố Hà nội năm 2008.
3. Mô tả thực hành phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4 trường tiểu học
tại thành phố Hà nội năm 2008.
Trên cơ sở kết quả thu được sẽ đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao kiến
thức, thái độ và thực hành của giáo viên tiểu học về phòng chống bệnh
CTHĐ.

3
II. Tổng quan
1.1. Khái niệm, hiểu biết về cận thị học đường: [1,7,10,12,14]
1.1.1. Định nghĩa:
Cận thị học đường là một trong những bệnh trường học, có liên quan đến
quá trình học tập ở tuổi học sinh.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng định nghĩa trên khi đánh giá sự
hiểu biết của giáo viên về khái niệm cận thị học đường là gì.
1.1.2. Cơ chế:
Ở mắt cận thị, hình ảnh tạo thành trước võng mạc nên mắt chỉ nhìn rõ
những vật ở gần mà không thấy rõ vật ở xa.

H1a. Mắt chính thị H1b. Mắt cận thị
Hình 1. Cơ chế gây cận thị
1.1.2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ:
1.1.2.1. Bẩm sinh:
- Nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển

điều tiết nhiều, gây mệt mỏi cho mắt.
- Yếu tố thể trạng: gày yếu, hay ốm đau, sức khỏe không tốt cũng
ảnh hưởng và có thể làm cho dễ bị cận thị cũng như làm cho cận
thị nặng thêm. 5
1.1.3. Tác hại:
- Ảnh hưởng đến quá trình học tập vì nhìn không rõ chữ và hình
vẽ ở trên bảng (do không đeo kính) dẫn đến kết quả học tập bị
giảm sút.
- Ảnh hưởng tới sinh hoạt hàng ngày, thường là chậm chạp và dễ
gây ra các tai nạn.
- Ảnh hưởng tới lựa chọn ngành nghề: Một số ngành nghề không
sử dụng những người mắt kém như lái xe.
- Ảnh hưởng tới sức khỏe (gây đau đầu, nhức mắt…). Biến chứng
nguy hiểm nhất của cận thị là bong võng mạc gây ra mù.
Ngoài ra cận thị còn gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ và kinh tế (tốn tiền
mua kính, đi khám mắt thường xuyên, mua thuốc…).
1.2. Tình hình nghiên cứu cận thị học đường trong và ngoài nước:
1.2.1. Tình hình cận thị trường học ở một số quốc gia trên thế giới:
Từ lâu trên thế giới, con người đã quan tâm đến cận thị và nghiên cứu về nó.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên thế giới về cận thị học đường chủ yếu tập
trung vào hai đối tượng là học sinh và giáo viên. Các nghiên cứu đã chỉ ra
rằng giáo viên là đối tượng có ảnh hưởng lớn đến vấn đề phòng chống cận
thị ở học sinh [15, 24].
Ngay từ rất sớm, năm 1912 W.H.Bates đã có nghiên cứu và thử nghiệm về
sự phòng tránh cận thị của giáo viên, nghiên cứu được tiến hành ở các
trường học công ở New York từ 1912- 1913 với sự tham gia của 121 giáo
viên và 5700 học sinh. Kết quả cho thấy: 31% học sinh có sự cải thiện thị

sinh khi đọc và viết. 80,9% giáo viên cho rằng hướng dẫn phòng tránh
CTHĐ là cần thiết. 61,7% cho rằng có thể phòng chống được cận thị nhưng
chỉ có 45,8% giáo viên muốn tham gia vào các hoạt động liên quan đến

7
phòng tránh cận thị. Tỷ lệ giáo viên TH có kiến thức, thái độ và thực hành
về phòng tránh CTHĐ cao nhất, thấp nhất là giáo viên THCS [24].
1.2.2. Tình hình cận thị ở Việt nam:
Ở nước ta mạng lưới y tế học đường, chăm sóc sức khoẻ cho học sinh,
phòng chống các bệnh trường học như cận thị đã được nhà nước quan tâm
và giao nhiệm vụ đó cho ngành Y tế và ngành Giáo dục. Cho đến nay có một
số nghiên cứu trong nước về tỷ lệ cận thị ở học sinh. Các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng tỷ lệ cận thị ở học sinh đang có xu hướng gia tăng (tăng gấp 5-6 lần
giai đoạn từ 1960-2003) và tỷ lệ học sinh mắc vấn đề này tăng dần theo cấp
học và ở học sinh nội thành cao hơn nhiều so với học sinh ngoại thành. Tuy
nhiên tuổi bắt đầu mắc cận thị ở học sinh tiểu học lại ngày càng cao, có xu
hướng gia tăng [8].
Theo điều tra của Hà Huy Khôi (1960), tỷ lệ học sinh Hà nội bị cận thị là 4%
[6]. Theo Ngô Như Hoà (1964) và Đoàn Cao Minh (1975) thì tỷ lệ cận thị
trong học sinh là 4,2% [6,9]. Theo Trần Văn Dần và Phạm Năng Cường
(1980) thì học sinh trung học Hà nội có tỷ lệ cận thị từ 7-8% [6].
Theo Trần Văn Dần (1998) tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 9,6%, trung
học cơ sở là 36,5%, trung học phổ thông là 24%. Tỷ lệ học sinh cận thị ở
thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếm tỷ lệ cao như ở Hà nội [4].
Theo Vũ Đức Thu và Lê Thị Kim Dung cùng nhóm tác giả (2001), tại Hà
nội: tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học. Tỷ lệ này ở bậc tiểu học là 11,3%,
cấp trung học cơ sở là 23,3% và trung học phổ thông là 29,8% [13].
Năm 2006, theo Nguyễn Thị Mai Lý những BN đến khám ở khoa Mắt trẻ
em – Bệnh viện Mắt trung ương; đã được chẩn đoán cận thị trước thời điểm
6 tháng từ 15 đến 18 tuổi: nhóm tuổi học sinh tiểu học có tỷ lệ BN bắt đầu

III. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại 2 quận/ huyện: một quận nội thành,
một huyện ngoại thành tại thành phố Hà Nội cũ (chưa bao gồm Hà Tây).

Hình 2. Bản đồ Hà nội và địa điểm nghiên cứu.
Hà Nội nằm ngay giữa vùng đồng bằng phía Bắc, bên bờ con sông
Hồng, với diện tích hơn 923,6 km
2
, bao gồm 9 quận, 5 huyện, dân số khoảng
3,4 triệu người. Dân cư chủ yếu làm trong các ngành dịch vụ và công
nghiệp.
Hà Nội là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam với hơn 50 trường
đại học và cao đẳng với khoảng 606.207 sinh viên (2007), 280 trường tiểu
học, 219 trường trung học cơ sở và 103 trung học phổ thông với tổng cộng
495.456 học sinh (2007). Cùng với sự phát triển của kinh tế, đời sống nhân
dân không ngừng được cải thiện. Tất cả đã góp phần tạo điều kiện để chăm
sóc sức khoẻ cho học sinh tốt hơn và nâng cấp cơ sở học tập phù hợp với
tiêu chuẩn vệ sinh học đường.

10
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên trường tiểu học tại Hà nội.
2.3. Phương pháp nghiên cứu :
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu :
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh.
2.3.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
2.3.2.1. Cỡ mẫu:
Xác định cỡ mẫu theo công thức:
p

α: Mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại I, lấy α
= 0,01.
β: Mức ý nghĩa thống kê, là xác suất của việc phạm phải sai lầm loại II, lấy β
= 0,05.
Z
2
(α,β)
= 17,8 : Được tra từ bảng giá trị của Z
2
(α,β)
.

11
Thay vào công thức ta có:
17,8

x {0,8x(1- 0,8) + 0,4x(1- 0,4)}
n = = 44,5 ≈ 45 (GV).
(0,8- 0,4)
2
Trong nghiên cứu này, chúng tôi điều tra ở hai huyện/quận nên dự kiến
mỗi huyện/quận sẽ điều tra 45 giáo viên và cần chọn 2 trường tiểu học ở
mỗi địa bàn điều tra (ước tính mỗi trường tiểu học có từ 20-25 lớp tương
đương với 20-25 giáo viên chủ nhiệm). Thực tế đã điều tra được 100 giáo
viên (nội thành là 51 giáo viên, ngoại thành là 49 giáo viên).
2.3.2.2. Phương pháp chọn mẫu:
Chọn mẫu tầng:
- Chọn ngẫu nhiên một quận nội thành và một huyện ngoại thành: đã
chọn được quận Đống đa/ 9 quận, huyện Thanh trì/ 5huyện.
- Trong mỗi quận/ huyện, chọn ngẫu nhiên 2 trường tiểu học: Đống đa

- Tỷ lệ GV cho rằng CTHĐ phòng tránh được: Số lượng GV trả lời CTHĐ
phòng tránh được/ tổng số GV được hỏi.
- Tỷ lệ GV thấy rất cần thiết phải phát hiện sớm CTHĐ: Số lượng GV trả
lời rất cần thiết phải phát hiện sớm CTHĐ/ tổng số GV được hỏi.
Mục tiêu 3: Mô tả thực hành phòng bệnh CTHĐ của giáo viên ở 4
trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008.
- Tỷ lệ GV có hướng dẫn học sinh biện pháp phòng chống CTHĐ (qua quan
sát): Số lượng GV có hướng dẫn học sinh từ 1 biện pháp trở lên/ tổng số GV
được quan sát.
- Tỷ lệ GV hướng dẫn học sinh tư thế ngồi học (qua phỏng vấn): Số lượng
GV có hướng dẫn học sinh tư thế ngồi học/ tổng số GV được hỏi.

13
2.3.3. Kỹ thuật thu thập thông tin:
+ Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế có sẵn: Phỏng vấn trực tiếp giáo viên các khối
1-5 (mẫu 1-phụ lục- trang 38)
+ Sử dụng bảng kiểm: Quan sát thực hành của giáo viên ở các khối 1,3,5
(mẫu 2-phụ lục- trang 41)
+ Dụng cụ điều tra:
• Bộ câu hỏi.
• Bảng kiểm.
• Giấy, bút.
2.3.6. Sai số và cách khống chế sai số:
2.3.6.1. Sai số do chọn mẫu:
- Xác định cỡ mẫu theo công thức.
- Chọn ngẫu nhiên 2 trường tiểu học ở huyện nội thành và 2 trường
tiểu học ở huyện ngoại thành. Sau đó mỗi trường chọn tất cả các giáo
viên.
2.3.6.2. Sai số do công cụ thu thập số liệu:
- Xây dựng bộ câu hỏi, bảng kiểm, biểu mẫu một cách chi tiết, kỹ

trường nơi nghiên cứu ủng hộ và tạo điều kiện.
- Tất cả các giáo viên được phỏng vấn, quan sát đều tự nguyện, không
ép buộc và có cơ hội tham gia vào nghiên cứu như nhau.
- Trong quá trình nghiên cứu các thông tin của đối tượng nghiên cứu
được giữ bí mật.

15
IV. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kiến thức về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường
tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008:
Bảng 3.1: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về khái niệm
bệnh cận thị học đường tại thành phố Hà nội năm 2008
Nội thành Ngoại thành Chung Kiến thức về khái
niệm CTHĐ
n Tỷ lệ % n Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Trả lời đầy đủ 24 47,1 18 36,7 42 42
Trả lời không đầy đủ 27 52,9 31 63,3 58 58
Tổng cộng 51 100 49 100 100 100
Nhận xét:
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ giáo viên có kiến thức hạn chế về khái
niệm CTHĐ. Tỷ lệ GV trả lời không đầy đủ về khái niệm CTHĐ chiếm
58%. Giáo viên ở nội thành có tỷ lệ hiểu biết đầy đủ về khái niệm CTHĐ
cao hơn ở ngoại thành (47,1% và 36,7%). Tuy nhiên sự khác biệt này
chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Bảng 3.2: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về nguyên
nhân và yếu tố nguy cơ bệnh CTHĐ tại thành phố Hà nội năm 2008
Nội thành
n=51
Ngoại thành
n=49

có 51% giáo viên biết được đủ cả 6 nguyên nhân và yếu tố nguy cơ và
không có sự khác biệt giữa nội thành với ngoại thành (p > 0,05). Có 7%
giáo viên cho rằng có những nguyên nhân và yếu tố khác gây ra CTHĐ
(cầm bút sai, ngồi học bàn một lâu không được đổi chỗ, lớn nhanh nên
đáy mắt dài nhanh, gió, bụi). Tỷ lệ giáo viên biết học tập không hợp vệ
sinh có thể gây ra CTHĐ ở nội thành thấp hơn ngoại thành (60,8% và
85,7% ), tuy nhiên ở yếu tố thể trạng thì nội thành lại cao hơn ngoại
thành (84,3% và 65,3%). Sự khác biệt về hai tỷ lệ này giữa giáo viên nội
thành và ngoại thành có ý nghĩa thống kê với mức xác suất 0,05.
Bảng 3.3: Kiến thức của giáo viên ở 4 trường tiểu học về tác hại của
bệnh cận thị học đường tại thành phố Hà nội năm 2008
Nội thành
n=51
Ngoại thành
n=49
Chung
n=100
Hậu quả
n Tỷ lệ % N Tỷ lệ % n Tỷ lệ %
Giá trị p
Đối với kết quả
học tập
51

100 49 100 100 100 > 0,05
Trong sinh hoạt 50 98 47 95,9 97 97 > 0,05
Trong nghề nghiệp 46 90,2 39 79,6 85 85 > 0,05
Đối với sức khoẻ 28 55 21 42,9 49 49 > 0,05
Đủ 4 tác hại
27 52,9 16 32,7 43 43 < 0,05

Giá trị p
Ngồi học đúng
tư thế
50 98 46 93,9 96 96 > 0,05
Cách chiếu
sáng lớp học
8 15,7 8 16,3 16 16 > 0,05
Bàn ghế phù
hợp
23 45,1 25 51 48 48 > 0,05
Vệ sinh trong
học tập
48 94,1 45 91,8 93 93 > 0,05
Tránh để mắt
điều tiết nhiều
44 86,3 44 89,8 88 88 > 0,05
Phòng bệnh
liên quan đến
thị giác
38 74,5 33 67,3 71 71 > 0,05
Ăn đủ chất 49 96,1 46 93,9 95 95 > 0,05
Đủ 7 biện
pháp
5 9,8 5 10,2 10 10 > 0,05
Khác 2 3,9 2 4,1 4 4 > 0,05 18
Nhận xét:
Kết quả ở bảng 3.4 cho thấy chưa có sự khác biệt đáng kể giữa kiến thức

3.2. Thái độ về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4 trường
tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008:
Bảng 3.5: Thái độ của giáo viên ở 4 trường tiểu học tại thành phố Hà
nội đối với việc phòng tránh CTHĐ năm 2008:
Nội thành Ngoại thành Chung
Biến số
n % n % n %
Rất cần thiết 51 100 49 100 100 100
Cần thiết 0 0 0 0 0 0
Không cần thiết 0 0 0 0 0 0
Phát hiện sớm
CTHĐ
Tổng cộng 51 100 49 100 100 100
Phòng được 51 100 49 100 100 100
Không phòng được/
không có ý kiến
0 0 0 0 0 0
Phòng tránh
được CTHĐ
Tổng cộng 51 100 49 100 100 100
Nhận xét:
Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy giáo viên tiểu học ở cả nội và ngoại thành đều
có thái độ tích cực đối với phòng bệnh CTHĐ. Tất cả 100 giáo viên được hỏi
đều cho rằng phòng tránh được và việc phát hiện sớm CTHĐ là rất cần thiết.

20
3.3. Thực hành về phòng bệnh cận thị học đường của giáo viên ở 4
trường tiểu học tại thành phố Hà nội năm 2008:
Bảng 3.6: Tỷ lệ giáo viên ở 4 trường tiểu học hướng dẫn học sinh các
biện pháp phòng bệnh CTHĐ (kết quả quan sát)

Nhận xét:
Kết quả ở bảng 3.6 cho thấy có 50% giáo viên có hướng dẫn học sinh từ
1 biện pháp phòng chống CTHĐ trở lên (tư thế ngồi học đúng, thói quen
học tập hợp vệ sinh, tránh để mắt điều tiết nhiều, ăn đủ chất, cách chiếu
sáng góc học tập, phòng các bệnh liên quan đến thị giác). Tỷ lệ này ở
ngoại thành là 83,3%, lớn hơn ở nội thành là 16,7%. Sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê với mức xác suất 0,05 (p < 0,05). Kết quả cũng cho thấy
giáo viên mới chỉ tập trung vào hai biện pháp như hướng dẫn cho học
sinh tư thế ngồi học đúng, vệ sinh trong học tập (nhắc nhở học lúc chiều
muộn là phải bật đèn để đủ ánh sáng, không được vừa đi vừa đọc sách ).
Các biện pháp còn lại (tránh để mắt điều tiết nhiều, ăn đủ chất, cách
chiếu sáng góc học tập, phòng các bệnh liên quan đến thị giác) không có
giáo viên nào thực hiện.
21
V. Bàn luận
Để trả lời hai mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 100
giáo viên ở 4 trường tiểu học nội và ngoại thành thành phố Hà nội và quan
sát trực tiếp 12 lớp tại 4 trường, mỗi lớp quan sát trong 3 buổi học liên tiếp.
Câu hỏi đầu tiên mà chúng tôi quan tâm trong nghiên cứu này đó là
giáo viên tiểu học biết gì về phòng chống cận thị học đường?
Kết quả từ bảng 3.1 đến bảng 3.4 cho thấy giáo viên tiểu học có kiến
thức rất hạn chế về vấn đề này, đặc biệt là về khái niệm. Trong nghiên cứu
này đa số giáo viên nằm trong độ tuổi trên 30 và có trên 10 năm kinh nghiệm
dạy học, vậy mà chưa đến 50% giáo viên biết đầy đủ thế nào là cận thị học
đường (chỉ có 42% giáo viên trả lời được đầy đủ thế nào là CTHĐ). Kiến
thức mà giáo viên hiểu biết nhiều nhất là các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
của CTHĐ (tỷ lệ giáo viên nêu đủ 6 nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status