TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
****** BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG SỐNG ĐẾN
BỆNH LAO PHỔI VÀ NGUY CƠ NHIỄM LAO
CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN LAO PHỔI ưu Ngọc Hoạt
Chủ nhiệm đề tài: TS. L
2.2.2. Tình hình lao ở Việt Nam: 7
2.2.3. Tình hình bệnh lao và HIV/AIDS: 8
2.3. Dịch tễ học bệnh lao 9
III/ Đối tượng và phương pháp 11
3.1. Đối tượng nghiên cứu 11
3.2. Phương pháp nghiên cứu: 11
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu: 11
3.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu: 11
3.2.3. Phương pháp nghiên cứu 12
3.2.4. Quy trình nghiên cứu, biến số và mối liên quan giữa các biến số 12
3.2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 13
3.2.6. Thời gian tiến hành nghiên cứu: 13
3.2.7. Đạo đức nghiên cứu: 13
IV/ Kết quả 13
1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 13
2. Một số yếu tố môi trường sống trong gia đình của các bệnh nhân lao AFB(+) và
nhóm đối chứng 14
3. Nguy cơ nhiễm lao của người nhà bệnh nhân lao 15
4. Triệu chứng lâm sàng liên quan đến lao của hai nhóm 16 5. Kết quả xét nghiệm đờm của người nhà các bệnh nhân lao AFB (+) và người
thuộc gia đình nhóm đối chứng. 16
6. Các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng nhiễm lao 17
V. Bàn luận 18
VI. Kết luận 19
VII. Khuyến nghị 20
VIII. Tài liệu tham khảo 21
AFB Acid Fast Bacillus
ARTI Anual Risk of Tuberculosis Infection
BCG Bacille Calmette Guerin
BK Koch Bacillus
BN Bệnh nhân
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CĐ Cao đẳng
CTCLQG Chương trình Phòng chống Lao Quốc gia
ĐH Đại học
DOTS Directly Observed Treatment, Short course
GDSK Giáo dục sức khỏe
MT Mucobacterium Tubercolosis
WHO Tổ chức Y tế thế giới
I/ Đặt vấn đề
Năm 2004 trên thế giới có khoảng 2,2 tỷ người đã nhiễm lao (chiếm 1/3 dân số
thế giới) [1]. Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính năm
2008 toàn thế giới có khoảng 8,9-9,9 triệu người mắc lao mới, tuy nhiên chi có 5,7
triệu ca mắc mới được báo cáo [2]. Theo thống kê của WHO, hiện có khoảng 95% số
bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75%
số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động. Trong đó, có khoảng 80% số bệnh
nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao [1].
Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu đạt khá cao, nhưng tỷ lệ phát
hiện chỉ đạt 55-67% số bệnh nhân ước tính. Như vậy, còn rất nhiều bệnh nhân lao
không được chữa trị đang tiếp tục lây bệnh cho cộng đồng, và theo ước tính một bệnh
nhân lao nếu không được phát hiện thì một năm có thể lây lan cho khoảng 20 người
khác [3] và mỗi năm có thêm khoảng 1% dân số thế giới bị nhiễm lao (65 triệu người),
trong số hơn 33% số bệnh nhân lao toàn cầu là từ khu vực Đông-Nam Á[1].
Ở nước ta, bệnh lao còn phổ biến và ở mức độ trung bình cao. Việt Nam đứng
thứ 13 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên loàn cầu, (WHO, 2004). Trong khu
vực Tây - Thái Bình Dương, Việt Nam đứng thứ ba sau Trung quốc và Philipinnes về
Bệnh lây truyền chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu hoá bởi những giọt nước bọt
nhỏ bị bắn ra và đồ dùng bát đũa sinh hoạt hàng ngày [1],[5].
2.1.2. Tiến triển của bệnh
Bệnh tiến triển qua 2 giai đoạn
- Lao tiên phát (lao sơ nhiễm)
- Lao hậu phát (lao bệnh)
Bệnh biểu hiện bằng một bệnh cảnh với các triệu chứng ho, sốt nhẹ về chiều, khạc
đờm, tức ngực…Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm bệnh có thể gây những
biến chứng nặng như: xơ hoá phổi, ho máu, chết [1],[5],[7],[12].
2.1.3. Lịch sử bệnh lao phổi
- Bệnh lao phổi có từ rất lâu, người ta đã tìm thấy tài liệu về bệnh lao phổi trước
công nguyên, thời kỳ đó bệnh lao phổi được mô tả lẫn với một số bệnh khác đặc
biệt là bệnh phổi [1].
- Đến thế kỷ 19 mới có một số hiểu biêt rõ ràng về bệnh lao phổi.
- Năm 1819 Laennec và 1838 Sokolski đã mô tả khá chính xác các tổn thương
của lao [5].
- Năm 1865 Ville-min làm thực nghiệm bằng cách tiêm truyền bệnh phẩm lấy từ
bệnh nhân lao cho súc vật, ông đã chứng minh được bệnh lao là là một trong
những bệnh có nguyên nhân nằm trong các bệnh phẩm [7].
- Năm 1882 Robert Koch tìm thấy nguyên nhân của bệnh lao là một trực khuẩn,
trực khuẩn nay ngày nay gọi là Bacillus de Kock viết tắt là BK, đã mở ra giai
đoạn vi khuẩn học của bệnh lao [1],[5],[7]
2.1.4. Vi khuẩn học.
- Mycobacterium tuberculosí hominis và Bovis la loại trực khuẩn có hình gậy,
thẳng, thân mảnh dẻ, không có nha bào, kích thước từ 0,5 x 2- 5μm, kháng cồn,
kháng acid, bắt màu Gram(+). Nhuộm Zielh-neelsen có màu đỏ tươi [1].
3
Sơ đồ 1: Thời gian nguy hiểm với các bệnh nhân có AFB (+)
c/ Thời kỳ ủ bệnh lao phổi ( từ khi nhiễm lao tới khi bị bệnh lao)
Phát hiện
và điều t
r
ị
2 tuần
Thời gian
Thời gian nguy hiểm
4 Thời kỳ ủ bệnh từ khi nhiễm lao tới khi bị bệnh lao trung bình là 6 tháng [1].
Có khi lâu hơn (10 - 20 năm) tuỳ thuộc rất nhiều vào điều kiện sinh hoạt, mức sống
của mỗi người và cơ địa [5].
d/ Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
- Mọi người đều có thể mắc bệnh như nhau
- Yếu tố nguy cơ cao ở những người :
+ Những người tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, trẻ em càng nhỏ càng dễ mắc
bệnh hơn, và người già cũng dễ mắc hơn
+ Người chưa được tiêm phòng lao bằng vaccine BCG
+ Người nghèo, sống nơi ẩm thấp, nhà ổ chuột, suy dinh dưỡng, còi xương,
giảm sức đề kháng của cơ thể.
+ Người bị bệnh đái tháo đường, bệnh bụi phổi, loét dạ dày tá tràng, ung thư…
- Ở vùng có bệnh lưu hành thì bệnh thường xảy ra ở lứa tuổi trẻ em, người già,
người suy giảm miễn dịch hoặc người có sức đề kháng kém.
- Ở nơi không có dịch lưu hành tần suất mắc bệnh không liên quan tới tuổi.
2.1.6. Cơ chế gây bệnh
- Nhiễm vi khuẩn lao ban đầu gọi là lao sơ nhiễm, khoảng 90% lao sơ nhiễm qua
+ Phản ứng Tuberculin (Mantoux) là phản ứng sinh hoá để phát hiện dị ứng của
cơ thể đối với trực khuẩn lao
+ Chẩn đoán tế bào mô bệnh học: Sinh thiết đồ, sinh thiết màng phổi
+ Chẩn đoán nội soi bệnh lao: thanh phế quản, màng phổi…
+ Các xét nghiệm thăm dò khác: thông khí phổi, sinh hoá
Cần chú ý: một số triệu chứng của bệnh lý sang nổ (triệu chứng sức ép), gần giống
triệu chứng cơ năng của lao phổi, ví dụ khái huyết , đau ngực… triệu chứng của sốt rét
mạn tính. Cũng có thể nhầm với hội chứng nhiễm độc lao (gầy sút, chán ăn mệt mỏi,
sốt) [7].
2.1.8. Biện pháp phòng chống:
a/ Nguyên tắc phòng chống [5].
- Phòng lao cho cộng đồng. Muốn phòng lao cho cộng đồng phải giảm được
nguồn lây lao bằng cách phát hiện được tối đa người lao phổi BK(+) và chữa
khỏi lao cho những người này.
- Phòng lao cho cá nhân
+ Những người thường xuyên tiếp xúc, sống gần gũi, chung đụng với người bị
lao phổi nguy cơ nhiễm lao cao. Như vậy cần tránh tiếp xúc với nguồn lây, không tiếp
xúc nếu không cần thiết. Ngăn chặn người bệnh truyền cho người lành, bảo vệ người
lành không mắc.
+ Có chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý phù hợp với sức khoẻ, có điều kiện nuôi
dưỡng tốt, môi trường sống trong lành sạch sẽ, nhà cửa thoáng đãng không tối tăm
chật chội.
+ Giáo dục cho người lao phổi khạc nhổ đúng chỗ, vào lọ có chất sát trùng và
nắp đậy, biết cách phòng cho người khác.
+ Khử trùng , sát trùng và quản lý tốt đờm dãi và các chất tiết của người bệnh
+ Đối với trẻ em tiêm phòng BCG cho mọi trẻ sơ sinh.
b/. Biện pháp phòng
- Truyền thông GDSK cho mọi người biết cách giữ gìn vệ sinh môi trường sống
và biết cách phòng lao cho bản thân, gia đình và cộng đồng. Thực hành tốt 3
sạch ( ăn sạch, ở sạch, uống sạch)
Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới khoảng 1/3 dân số đã bị nhiễm vi khuẩn
lao, ước tính năm 1995 có khoảng 8,8 triệu tăng lên 10,2 triệu năm 2000 và 11,9 triệu
vào năm 2003. Mỗi năm có khoảng 2 triệu người chết do lao, trong đó có nhiều nạn
nhân là trẻ em, khoảng 95% số bệnh nhân mới, 99% số người chết do lao thuộc các
nước đang phát triển [15].
Bảng 1: Tình hình bệnh lao và xu thế diễn biến theo tác giả Do lin P.J Raviglionl và
Kochi A (1995).
1995 2000 2005
Khu vực
Số trường
hợp(1)
Tỷ lệ
(2)
Số trường
hợp
Tỷ lệ Số trường
hợp
Tỷ lệ
7 Đông Nam Á 3.499 241 3.952 247 4.454 256
Tây TBD 2.044 140 2.255 144 2.469 151
Châu Mỹ 606 123 645 120 681 114
Đông Âu 202 47 210 48 218 49
Tây Âu 204 23 211 24 217 24
Toàn thế giới 8.768 152 10.222 163 11.815 178
(1) Tính bằng 1.000
(2) Tính trên 100.000 dân
Theo Crofton J; Chaulat P; Maher D (1997) thế giới đã phải đối mặt với tình
- Tổng số lao phổi có vi khuẩn : 78.000
- Tử vong do lao : 20.000
Ở nước ta tỷ lệ phát hiện lao phổi rất khác nhau theo từng khu vực, cụ thể chia
thành 3 mức độ khác nhau [13],[14].
- Dưới 40 AFB(+)/ 10.000 dân khu vực Bắc Tây Bắc.
- Từ 40-60 AFB(+)/ 10.000 dân đồng bằng sông Hồng, khu Đông Bắc, Bắc
Trung bộ.
- Từ 80-100 AFB(+)/ 100.000 dân khu Nam Trung bộ, Đông Nam Bộ, đồng bằng
sông Cửu Long. Tỷ lệ phát hiện ở các khu vực phần nào phản ánh tình hình dịch
tễ lao trong cả nước, theo dõi điều tra nhuy cơ nhiễm lao. Tình hình bệnh lao ở
tại khu vực Duyên Hải, Nam Trung bộ và Nam bộ nặng nề hơn ở khu vực phía
Bắc và Bắc Trung bộ.
Việt Nam là nước đứng thứ 13 trong 22 nước có số bệnh nhân lao cao trên toàn
thế giới (tổ chức y tế thế giới 2000) trong khu vực Tây Thái Bình Dương, Việt nam
đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philippines về số lượng bệnh nhân lao [15].
Tình hình kháng thuốc của vi khuẩn lao cũng là vấn đề đáng lo ngại, tỷ lệ kháng
thuốc lao tiên phát 33,5% (năm1997). Tuy nhiên, tỷ lệ đa kháng thuốc vẫn còn ở mcs
thấp 2,3%.
2.2.3. Tình hình bệnh lao và HIV/AIDS:
Trong những năm gần đây đại dịch HIV/AIDS là một vấn đề lớn mang tính thời
sự của toàn cầu vì tính chất nguy hiểm của bệnh. Tính đến năm 2000 trên toàn thế giới
có khoảng 36 triệu người đang sống bị HIV/AIDS, trong đó 1/3 số này đồng thời
nhiễm lao, ở vùng cận Saharan Châu Phi 70% người bị bệnh lao có nhiễm HIV(+),
20% ở Châu Á, 8% thuộc Mỹ La Tinh [16]. Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong
hàng đầu ở những người bị nhiễm HIV/AIDS [40].
Sự bùng nổ của đại dịch HIV/AIDS trên toàn cầu là một trong những nguyên
nhân chính làm cho bệnh lao quay trở lại. Theo WHO (2001) 20% số tăng người bệnh
lao trong năm 1999 rơi vào các nước thuộc Châu Phi do hậu quả của đại dịch
HIV/AIDS [41].
HIV/AIDS rút ngắn thời gian từ lao nhiễm thành lao bệnh, tăng nguy cơ chuyển
- Tỷ lệ mới mắc bệnh trong một năm (Incidence=I) gồm lao phổi AFB (+), lao
phổi nuôi cấy có vi khuẩn, lao phổi AFB (-) và lao ngoàI phổi.
- Lao phổi có vi khuẩn mới hàn năm ( Incidence of Microbacteria = IM (+) tính
trên 100.000 dân, chỉ số này cho biết mức độ lan tràn và xu hướng diễn của
bệnh lao. Tuy nhiên, chỉ số này phụ thuộc rất nhiều vào hoạ động của màng lưới
y tế cũng như của CTCLQG.
- Tử vong do lao (Mortality = M) là số bệnh nhân chết trong một năm tính trên
100.000 dân hoặc tỷ lệ chết trong 100 bệnh nkân điều trị.
- Nguy cơ nhiễm lao hàng năm (Annual Risk of Tubercerlosis infetion = ARTI)
là tỷ lệ % số người bị nhiễm lao trong một năm. Chỉ số này được xem là khách
quan và chính xác nhất về tình hình dịch tễ, không lệ thuộc vào các yếu tố tâm
lý, xã hội của bệnh nhân và màng lưới phát hiện của CTCLQG.
Mối quan hệ giữa một số khác đã được một số tác giả nêu lên ở bảng sau [19].
Bảng 2. Tương quan giữa một số chỉ số
Số lao mới/100.000 dân/năm Tổng số nhiễm lao
Mức độ
bệnh lao
ARTI
AFB(+) mới Lao hàng năm từ 0-4 tuổi 15 tuổi 30 tuổi
Nước có tỷ
6 360 30 60 86
10 6 180 15 36 60
lệ lao cao
1,5 90 8 20 36
0,75 45 4 11 20
0,37 22 2 6 11
Nước có tỷ
11 III/ Đối tượng và phương pháp
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân lao phổi AFB(+) sống tại thị xã Thái Bình đã được chẩn đoán và
điều trị lao tại bệnh viện Lao tỉnh Thái Bình trong năm 2003 và những người
sống cùng nhà với các bệnh nhân lao này.
- Nhóm dân khoẻ mạnh sống cùng địa phương với bệnh nhân lao được lựa chọn
là nhóm đối chứng và những người sống cùng trong gia đình của họ
- Yếu tố môi trường, vi khí hậu trong nhà, điều kiện sống của các bệnh nhân và
gia đình bệnh nhân so với nhóm đối chứng.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
3.2.1.
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu Bệnh chứng ghép cặp.
3.2.2
. Chọn mẫu và cỡ mẫu:
Chọn nhóm nghiên cứu: Gia đình của tất cả các bệnh lao sống trong địa phận thị xã
Thái Bình có AFB(+) được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện lao tỉnh Thái Bình năm
2003 (Có 73 bệnh nhân) và tất cả thành viên trong gia đình bệnh nhân (tổng cộng 245
người). Do kinh phí và thời gian nghiên cứu hạn hẹp nên chúng tôi đã không chọn các
bệnh nhân đã phát hiện năm trước cũng như bệnh nhân ở ngoài Thị xã Thái Bình.
Chọn nhóm đối chứng: Gia đình của 73 người đối chứng và tất cả thành viên trong gia
đình nhóm chứng cùng trong địa phận thị xã Thái Bình, ghép cặp với gia đình bệnh
nhân theo phương pháp sử dụng hàng xóm (neighborhood) để hạn chế một số yếu tố
nhiễu có liên quan đến yếu tố môi trường sống ngoài gia đình. Tổng số có 243 người
thuộc 73 gia đình nhóm chứng. Các gia đình nhóm chứng được chọn theo các nguyên
tắc sau:
tuổi) cũng được thu thập để xem xét có sự khác biệt giữa hai nhóm hay không.
Các xét nghiệm như Mantoux, xét nghiệm đờm, chụp XQ phổi được triển khai bởi
Bệnh viện Lao tỉnh Thái Bình. Xác định môi trường, vi khí hậu nhà ở được triển khai
bởi Trung tâm Y học Dự phòng Tỉnh Thái Bình. Công cụ thu thập số liệu được trình
bày trong phần Phụ lục.
3.2.4. Quy trình nghiên cứu, biến số và mối liên quan giữa các biến số
Môi trường sống
Sơ đồ 2: Các nhóm biến số trong từng bước triển khai nghiên cứu - Số người trong gia đình
- Diện tích nhà ở/người
- Thể tích ở/đâu người
Formatted: Font: 11 pt, Font color:
Blue
Formatted: Font: 11 pt,
Blue
Các xét nghiệm
- Kết quả Mantoux
- Kết quả XN đờm
- Kết quả XQ phổi
Font color:
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
Formatted: Font: 11 pt
13 Sơ đồ trên đây trình bày hai bước của nghiên cứu phù hợp với hai mục tiêu và các biến
số cần được thu thập cho mỗi bước:
1.
Bước 1: Thu thập các yếu tố môi trường sống và một số yếu tố nhiễu có thể ảnh
hưởng đến mắc lao để so sánh tìm sự khác biệt giữa nhóm bệnh và chứng;
2.
Bước 2: Xác định một số chỉ số đánh giá tình trạng nhiễm lao của người nhà bệnh
nhân lao và thành viên trong các gia đình nhóm chứng.
3.2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
-
So sánh hai tỷ lệ giữa nhóm bệnh và nhóm chứng bằng thuật toán χ
2
<15 49 20,0% 44 18,1%
15 – 59 145 59,2% 138 56.8%
Tuổi
>59 51 20,8% 61 25,1%
p=0,57
14 Nam 121 49,4% 128 52,7%
Giới
Nữ 124 50,6% 113 47,3%
p=0,47
Chưa đi học 16 6,5% 19 7,8%
Cấp 1 + cấp 2 29 11,8% 36 14,8%
Cấp 3 59 24,1% 51 21,0%
Trung cấp, CĐ, ĐH 127 51,8% 119 49,0%
Trình
độ văn
hóa
Trên ĐH 14 5,7% 18 7,4%
p=0,67
Còn nhỏ 15 6,1% 16 6,6%
Học sinh 47 19,3% 44 18,1%
Nông nghiệp 74 30,3% 68 28,0%
CBCNV 33 13,5% 40 16,5%
Buôn bán 10 4,1% 8 3,3%
Lao động tự do 43 17,6% 41 16,9%
Nghề
nghiệp
p=0,000006
15 Bảng 5 cho thấy, mặc dù diện tích ở/đầu người thuộc nhóm đối chứng cao
không đáng kể có với nhóm nghiên cứu (gấp 1,15 lần với p > 0,05), nhưng thể tích ở
trên/đầu người thuộc nhóm chứng lại cao hơn rất đáng kể so với nhóm nghiên cứu
(gấp 1,6 lần, p <0,0001). Trong khi đó mức độ chiếu sáng ban ngày trong nhà của các
gia đình thuộc nhóm chứng cũng cao hơn nhóm nghiên cứu rất đáng kể (gấp 1,76 lần,
p < 0,00001). Các tiêu thức khác không có sự khác biệt rõ rệt.
Bảng 6. Bảng loại nhà của gia đình bệnh nhân lao và gia đình nhóm chứng.
Loại nhà
Gia đình bệnh nhân lao
và bệnh nhân(n=244)
Gia đình nhóm
chứng(n=243)
p
Nhà ≥ 2 tầng 71 (29,1%) 63 (25,9%) p=0,43
Nhà 1 tầng mái bằng 119 (48,8%) 118 (48,6%) p=0,96
Nhà 1 tầng mái ngói 52 (21,3%) 59 (24,3%) p=0,43
Khác 2 (0,8%) 3 (1,2%) p=0,99
Bảng 6 cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt giữa loại nhà của các gia đình
thuộc nhóm bệnh và chứng (p>0,05) và đa số loại nhà là một tầng mái bằng.
Bảng 7. Bảng hướng nhà của gia đình bệnh nhân lao và gia đình nhóm chứng
Hướng nhà
Gia đình bệnh nhân lao
và bệnh nhân (n=244)
Gia đìnhnhóm
10,9 ± 3,5 9,3 ± 4,6 p=0,08
Bảng 8 cho thấy nhóm người nhà bệnh nhân có tỷ lệ nhiễm lao (Mantoux +)
cao hơn gấp 1,6 lần so với các đối tượng thuộc nhóm đối chứng. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p <0,001). Xét về đường kính trung bình của các trường hợp
Mantoux + thì nhóm người nhà bệnh nhân cũng cao hơn nhưng không có sự khác biệt
so với nhóm đối chứng.
4. Triệu chứng lâm sàng liên quan đến lao của hai nhóm.
Triệu chứng lâm sàng có giá trị nhất, đó là ho khạc đờm kéo dài, kết quả phỏng
vấn cho thấy có tới 13,8% người nhà bệnh nhân lao có triệu chứng này, trong khi tỷ lệ
này ở nhóm chứng chỉ là 7,0% (Biểu đồ 1)
13.8
7.0
0
5
Tỷ lệ
10
15
phần trăm
Nhóm bệnh Nhóm chứng
Biểu đồ 1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có ho khạc đờm kéo dài
5. Kết quả xét nghiệm đờm của người nhà các bệnh nhân lao AFB (+) và người
thuộc gia đình nhóm đối chứng.
Bảng 9. Kết quả xét nghiệm đờm của các đối tượng thuộc hai nhóm có ho khạc
đờm kéo dài.
Xét nghiệm đờm
Yếu tố nguy cơ
Số lượng (Tỷ lệ) Số lượng (Tỷ lệ)
P
Có 30 (15.9%) 58 (23.9%)
Hút thuốc lá
Không 159 (84,1%) 185 (76,1%)
OR= 0,61
p=0,06
Có 31 (16,4%) 52 (21,4%)
Uống rượu
Không 158 (83,6%) 191 (78.6%)
OR=0,66
P=0,19
Có 51 (27%) 77 (31,1%)
Tiếp xúc với khói
bụi
Không 138 (73%) 166 (68,3%)
OR=0,80
p=0,33
Có 184 (97,4%) 29 (11,9%)
Tiền sử tiếp xúc
với bệnh nhân lao
Không 5 (2,6%) 214 (88,1%)
OR=271
p=0,000
Không 3/47 (6,4%) 1/42 (2,4%)
Tiêm BCG (tuổi
<15)
Có 44/47 (93,6%) 41/42 (97,6%)
OR=2,8
nhóm chứng chỉ gấp 1,15 lần nhóm bệnh) (Bảng 5). Như vậy trung bình phòng ở của
người thuộc nhóm chứng cao hơn gần 1,4 lần so với phòng ở của người thuộc nhóm
bệnh (1,6/1,15). Phải chăng câu nói « nhà cao, cửa rộng » không chỉ đúng với việc thể
hiện sự giầu sang, phú quý mà còn có tác dụng phòng bệnh lao? Rõ ràng là khi ở nhà
cao thì thể tích ở sẽ tăng lên (có thể không cần tăng diện tích ở), còn cửa rộng thì sẽ
tăng sự thoáng mát, lưu thông không khí, tăng lượng ánh sáng vào nhà [4],[5],[7]. Tuy
nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi thì diện tích cửa chưa phải là yếu tố quyết định
làm tăng ánh sáng trong nhà vì bảng 5 cho thấy mức độ chiếu sáng trong nhà ban ngày
(đo bằng Lux) ở nhóm chứng cao gấp gần 1,8 lần so với nhóm bệnh trong khi diện tích
cửa sổ và cửa ra vào/ diện tích nền nhà ỏ nhóm chứng chỉ cao gấp 1,1 lần nhóm bệnh.
Bằng quan sát chúng tôi đã thấy là hướng các cửa ra vào và cửa sổ, vật liệu làm cánh
cửa (kính hoặc gỗ), mức độ mở các cửa và cây cối trồng trước các của cũng như chiều
cao nhà hàng xóm có ảnh hưởng không nhỏ đến cường độ chiếu sáng trong nhà của
các gia đình.
Một điều thú vị nữa là nhà của các bệnh nhân phần lớn có hướng Nam và Đông
Nam (81,1%), trong khi hướng Tây và Tây Nam rất ít (7,8%) (Bảng 7), ngược lại nhà
của các đối tượng nhóm chứng hướng Nam và Đông Nam chỉ là 67%, trong khi hướng
Tây và Tây Nam lên tới 16,5%. Phải chăng câu « lấy vợ đàn bà làm nhà hướng Nam »
có giá trị gợi ý về hướng nhà tạo ra sự mát mẻ vào mùa hè nhưng lại không phù hợp
dưới góc nhìn của việc phòng tránh nhiễm lao? Thái Bình là một tỉnh gần biển nên
phải chăng làm nhà hướng Nam và Đông Nam sẽ hứng được gió biển làm cho nhà mát
hơn về mùa hè nhưng lại làm tăng độ ẩm trong nhà do gió biển mang theo hơi nước,
trong khi nhà hướng Tây và Tây Nam sẽ làm cho căn được chiếu nắng buổi chiều
nhiều hơn, gió thổi vào từ hướng Tây, Tây Nam thường khô nên sẽ làm cho căn nhà
19 đỡ bị ẩm thấp? Các câu hỏi này cần phải có những nghiên cứu tiếp theo mới có thể giải
đáp được.
Về phản ứng Mantopux, rõ ràng là tỷ lệ người có phản ứng Mantoux (+) trong
5. Tỷ lệ ho khạc đờm kéo dài trong số người nhà bệnh nhân lao là 13,8% , cao gấp
gần 2 lần so với nhóm chứng (7,0%), nhưng tỷ lệ người có BK (+) trong số người
ho, khạc đờm của nhóm chứng lại cao hơn rất đáng kể so với nhóm người nhà bệnh
nhân lao (11,8% so với 3,8%);
20 VII. Khuyến nghị
Cần có những nghiên cứu thêm về độ ẩm, mức độ thông thoáng gió, sự tồn lưu
của các loại vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là trực khuẩn lao vào các mùa khác nhau với
các loại nhà có chiều cao phòng, cường độ chiếu sáng và hướng nhà khác nhau để
đánh giá ảnh hưởng của thiết kế xây dựng đến điều kiện vi khí hậu và nguy cơ nhiễm
lao.
Cần phải tiếp tục triển khai các phương pháp phát hiện lao chủ động tại cộng
đồng để hạn chế tối đa việc bỏ sót các bệnh nhân lao có AFB (+), nhất là khi triệu
chứng lâm sàng chưa rõ ràng.
21 VIII. Tài liệu tham khảo
A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Phổ biến kiến thức Lao
http://www.tudienthuoc.net/tudienthuoc/noidungphobien.asp?ID=256
2. Global tuberculosis control: a short update to the 2009 report
http://www.who.int/tb/publications/global_report/2009/update/en/index.html
3. Lao, http://vi.wikipedia.org/wiki/Lao
4. World Health Organization. A deadly Partnership Tuberculosis in Era of HIV
2004.
5. Trường Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Lao: “Bệnh học lao” Nhà xuất bản Y học Hà