Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao phổi tại phòng khám lao quận hai bà trưng thành phố hà nội năm 2013 2014 - Pdf 29

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TẠ THỊ HƯỜNG
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA BỆNH NHÂN LAO PHỔI TẠI
PHÒNG KHÁM LAO QUẬN HAI BÀ TRƯNG
HÀ NỘI NĂM 2013- 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Hà Nội, 2014
ii

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

MỤC LỤC

MỤC TỪ VIẾT TẮT III
TÓM TẮT V
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tình hình chung 5
1.2. Một số khái niệm 17
CÂY VẤN ĐỀ 25
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27
2.4.1 Cỡ mẫu 27
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.7. Phương pháp phân tích số liệu 31
2.8. Một số định nghĩa và khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 32
2.9. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu 33
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và khống chế sai số 34
3.1 Kết quả nghiên cứu 35
3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35
3.1.2 Kiến thức về bệnh và những nguyên tắc cần tuân thủ trong điều trị bệnh Lao
của ĐTNC 37
 Kiến thức về bệnh của ĐTNC 37
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Mô tả kiến thức, thái độ về tuân thủ điều trị của bệnh nhân Lao phổi tại phòng
khám Lao quận Hai Bà Trưng, năm 2013 – 2014 49
ii

4.1.3 Mức độ tuân thủ của BN điều trị Lao tại phòng khám Lao quận Hai Bà
Trưng. 51

DOTS Hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp
(Directly Observed Treatment Short course)
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ĐT Điều trị
GDTT Giáo dục truyền thông
GĐ Gia đình
HIV Human Immunodeficiency Virus
HS-SV Học sinh – Sinh viên
HTLNN Hóa trị liệu ngắn ngày
iv

MDR-TB Bệnh Lao kháng đa thuốc (Multi-Drug Resistance-TB)
NTĐT Nguyên tắc điều trị
NVYT Nhân viên Y tế
TCYTTG Tổ chức y tế thế giới
TTĐT Tuân thủ điều trị
TTYT Trung tâm y tế
TYT Trạm Y tế
UBND Ủy ban nhân dân
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)


vi

thực trạng và một số yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị của bệnh nhân Lao phổi tại
phòng khám Lao quận Hai Bà Trưng, Hà Nội năm 2014. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp
cung cấp thông tin, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình
chống Lao. Đặc biệt nghiên cứu sẽ tìm ra giải pháp nhằm tăng cường hiểu biết và
thực hành tuân thủ điều trị Lao của bệnh nhân, tăng cường công tác giám sát điều trị
của nhân viên y tế, góp phần làm tăng cường việc tuân thủ điều trị và từ đó sẽ tăng
tỷ lệ điều trị khỏi bệnh Lao và dự phòng Lao có hiệu quả.

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Lao đã và đang là một vấn đề sức khỏe lớn trên thế giới và tại Việt Nam.
Theo Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2013 cho thấy khoảng 1/3
dân số thế giới bị nhiễm Lao; 12 triệu người hiện mắc Lao; 8,6 triệu người mới mắc
Lao; 13% số mắc Lao có đồng nhiễm HIV; 1,3 triệu người tử vong do Lao. Lao là
nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trong các bệnh nhiễm trùng[27]. Tình hình
dịch tễ Lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các Quốc
gia. Việt Nam đứng hàng thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh Lao cao nhất
thế giới. Hàng năm, Việt Nam có khoảng 130.000 người mắc Lao mới, 170.000 người
mắc Lao lưu hành, khoảng 3.500 người mắc Lao đa kháng thuốc và đặc biệt có đến
18.000 người tử vong do bệnh Lao.
Theo BS.CKII Đỗ Phúc Thanh, nguyên nhân phổ biết nhất của Lao đa kháng
thuốc là do người bệnh không tuân thủ đúng theo điều trị, bệnh nhân tự ý ngưng dùng
thuốc Lao hay dùng thuốc không đúng và không đầy đủ. Một số bệnh nhân sau một thời
gian uống thuốc, thấy khỏe và không có triệu chứng gì, cho rằng đã khỏi bệnh nên tự ý

Quận Hai Bà Trưng, có chức năng khám và điều trị bệnh nhân Lao và bệnh Phổi. Năm
2011, Phòng khám đã khám cho gần 1.003 lượt bệnh nhân, trong đó có 105 là bệnh
nhân Lao có AFB (+), thể Lao gây hậu quả lớn về sức khỏe và có khả năng lây lan lớn
trong cộng đồng, nếu không được quản lý và điều trị tốt. Trong những năm qua, Phòng
khám đã có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ như: nâng cấp cơ sở hạ
tầng; cải tiến thủ tục hành chính; nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ
công nhân viên; tuy nhiên chất lượng và hiệu quả của dịch vụ như thế nào luôn là câu
hỏi cần tìm câu trả lời thỏa đáng.
Bệnh Lao hầu như chỉ lây lan qua đường hô hấp. Như vậy, chỉ những bệnh nhân
bị Lao phổi mới có khả năng phát tán vi trùng Lao và lây lan bệnh cho người khác.
Những bệnh nhân không bị Lao ở phổi, mà bị Lao ở các cơ quan khác (Lao hạch, Lao ổ
bụng, Lao màng não…) thì hầu như không lây lan bệnh Lao cho người khác. Phòng
khám Lao quận Hai Bà Trưng có số bệnh nhân Lao khá cao trong thành phố. Những
năm qua công tác phát hiện, quản lý và điều trị bệnh nhân Lao tại quận Hai Bà Trưng đã
đạt được những thành tích nhất định, năm 2011, phòng khám này thu nhận và điều trị
cho 250 bệnh nhân Lao, trong đó có 105 trường hợp Lao phổi AFB(+) mới, 34 trường
hợp tái phát có AFB(+), và 3 trường hợp điều trị thất bại [19]. Như vậy tỷ lệ tái phát và
thất bại khá cao chiếm 14,8%, theo báo cáo thì tỷ lệ điều trị khỏi năm 2011 ở đây chỉ
3
đạt 85.2%, thấp so với tất cả các quận huyện trong toàn thành phố Hà Nội và thấp nhất
từ trước đến nay, mà mục tiêu chương trình chống Lao Hà Nội đề ra là đạt tỷ lệ khỏi
trên 90%. Qua sổ sách và đánh giá sơ bộ về tình hình tuân thủ các NTĐT bệnh Lao ở
đây cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm đờm trong điều trị Lao phổi là
10.2%, không lĩnh đủ thuốc là 16,0%. Năm 2010, có một nghiên cứu của Uông Mai
Loan về “Một số yếu tố liên quan với thực hành tuân thủ điều trị của bệnh nhân Lao
phổi tại phòng khám Lao quận Hai Bà Trưng năm 2009”, nghiên cứu này kết luận tỷ lệ
không tuân thủ điều trị tại phòng khám còn cao, ở giai đoạn tấn công, tỷ lệ không tuân 5 Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình chung
1.1.1 Tình hình Lao trên thế giới
Bệnh Lao đã và đang là một vấn đề sức khỏe lớn trên thế giới và tại Việt
Nam. Theo Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 2013 cho thấy
khoảng 1/3 dân số thế giới bị nhiễm Lao; 12 triệu người hiện mắc Lao; 8,6 triệu
người mới mắc Lao; 13% số mắc Lao có đồng nhiễm HIV; 1,3 triệu người tử vong
do Lao. Đây là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trong các bệnh nhiễm
trùng. Tình hình dịch tễ Lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện
6 ở hầu hết các quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh
nặng bệnh Lao cao nhất thế giới. Hàng năm, Việt Nam có khoảng 130.000 người
mắc Lao mới, 170.000 người mắc Lao lưu hành, khoảng 3.500 người mắc Lao đa
kháng thuốc và đặc biệt có đến 18.000 người tử vong do bệnh Lao[27].
Hiện nay trên toàn cầu 75% tương đương 2,9 triệu trường hợp bị bỏ qua
(missed – cases) – là những người có thể được chẩn đoán Lao nhưng không được
báo cáo trong những Chương trình Lao quốc gia (NTPs) – bao gồm 12 nước. Mức

nhân không biết rằng vi trùng Lao “sống dai” và rất nguy hiểm. Sau một thời gian
“nằm ẩn mình” và tìm cách chống lại thuốc Lao, chúng sẽ hoạt động gây bệnh trở
lại. Lúc này, người bệnh bị Lao kháng thuốc và bệnh sẽ nguy hiểm hơn lúc phát
bệnh. Ngoài ra, cũng có những bệnh nhân bị khó chịu do tác dụng phụ của thuốc
Lao trong quá trình điều trị, nhưng không đến tái khám để bác sỹ điều chỉnh thuốc,
mà tự bỏ trị nửa chừng hoặc bệnh nhân uống thuốc Lao không đều đặn, hay uống
không đủ liều… Tất cả những trường hợp này đều tạo điều kiện thuận lợi cho vi
trùng Lao kháng thuốc.
8 Ngoài ra, kháng thuốc có thể do vi trùng Lao: vi trùng Lao là loại vi trùng
dễ đột biến, dễ thay đổi cấu trúc để chống lại thuốc Lao. Ngay cả khi bệnh nhân
được điều trị đúng cách và tuân thủ tốt việc dùng thuốc thì vi trùng Lao vẫn có khả
năng tìm cách chống lại thuốc Lao. Vì vậy, bệnh nhân cần tái khám trong suốt quá
trình điều trị để bác sỹ có thể phát hiện sớm tình trạng kháng thuốc. Không những
thế, bệnh nhân cũng có thể mắc phải bệnh Lao kháng thuốc ngay từ trước khi điều
trị Lao, có nghĩa là hít phải vi khuẩn Lao vốn đã kháng thuốc từ những người khác
bị Lao kháng thuốc trong cộng đồng. Sau đó loại vi trùng kháng thuốc này sẽ sinh
sôi nảy nở trong cơ thể. Cần biết rằng trong cộng đồng chúng ta có rất nhiều người
bị Lao kháng thuốc, nhưng chưa được điều trị và những người này là nguồn lây lan
Lao kháng thuốc cho những người khỏe mạnh khác trong cộng đồng.
Các nghiên cứu kinh tế y tế cho thấy, mỗi bệnh nhân Lao sẽ mất trung bình
từ 3- 4 tháng Lao động, làm giảm 20-30% thu nhập bình quân gia đình[21]. Những
gia đình có người chết sớm vì bệnh Lao có thể sẽ mất tới 15 năm thu nhập. Bệnh
Lao đã tác động mạnh tới 70% đối tượng Lao động chính của xã hội, làm lực lượng
sản xuất giảm sút, năng suất Lao động giảm và mùa màng, chợ búa không tham gia
được. Bệnh Lao là nguyên nhân chủ yếu làm đói nghèo dai dẳng và trở ngại đối với
sự phát triển kinh tế xã hội. Bệnh Lao là bệnh của người nghèo, lây lan trong cộng
đồng có điều kiện sống chật chội, thiếu vệ sinh, thông khí và dinh dưỡng kém.

Phòng, chống bệnh Lao chủ yếu dựa vào cộng đồng và được mạng lưới phòng
chống Lao và bệnh Phổi từ trung ương đến địa phương thực hiện, có sự phối hợp
giữa các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập [17].
Theo Chiến lược quốc gia phòng, chống Lao đến năm 2010 và tầm nhìn
2030, Việt Nam đang đứng trước những khó khăn và thách thức sau[22]:
- Dịch tễ Lao ở Việt Nam còn cao, một số lượng lớn ca bệnh Lao trong
cộng đồng chưa được phát hiện, tiếp tục là nguồn lây;
- Lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp do sự gia tăng của y
tế thực hành điều trị chưa đạt chuẩn, diện bao phủ dịch vụ kiểm soát lao kháng
10 thuốc còn thấp (25% năm 2013), nguồn lực cho lao đa kháng thuốc hoàn toàn từ
ngân sách viện trợ;
- Đại dịch HIV, tuy bước đầu đã được khống chế nhưng số ca nhiễm
HIV tích lũy tiếp tục tăng lên và đến lúc có nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội xuất hiện
mà lao là bệnh phổ biến nhất ở người nhiễm HIV, chẩn đoán lao/HIV còn khó khăn,
kết quả điều trị lao/HIV còn chưa cao do tỷ lệ được điều trị ARV còn thấp;
- Đặc biệt, thách thức rất lớn về nguồn lực do sự giảm nhanh nguồn
viện trợ quốc tế trong những năm tiếp theo đối với các nước có thu nhập trung bình
và khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, nếu không có các giải pháp đầu tư đột
phá từ chính phủ về nhân lực và tài chính sẽ không giải quyết được vấn đề bệnh lao.
1.1.3 Tình hình bệnh Lao ở Hà Nội và quận Hai Bà Trưng
Sau khi mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8/2008 Hà Nội có diện tích
3.324,92 km
2
với 6,449 triệu người cư trú trên địa bàn 29 quận huyện với 577 xã
phường [15]. Tại đây cùng với những chương trình y tế khác, chương trình phòng
chống bệnh Lao là một trong những chương trình luôn được Sở Y tế Hà Nội quan
tâm hàng đầu.

Trung tâm y tế phối kết hợp với 14 trạm y tế phường đảm nhiệm. Tình hình phát
hiện và điều trị bệnh Lao phổi tại quận Hai Bà Trưng từ 2010 đến 2012 được tóm tắt
trong bảng 1 và bảng 2:
Bảng 1: Tình hình thu nhận người bệnh Lao từ 2010 đến 2012 – Quận Hai Bà
Trưng:
Năm Lao phổi AFB(+) Lao phổi
AFB(-)
Lao ngoài
phổi
Tổng cộng
Mới T.phát, T.bại

2010 100 20 52 66 252
2011 105 13 61 62 250
2012 85 28 71 53 259

Bảng 2: Kết quả điều trị khỏi và hoàn thành người bệnh Lao các thể
Năm Khỏi Hoàn Tử Thất Bỏ trị Chuyển

12 AFB(+) mới thành vong bại
Tổng %
2010 92 94,8 114 4 3 0 5
2011 96 96 120 6 3 0 4
2012 97 92,4 124 5 2 0 6

Hai Bà Trưng có tỷ lệ mắc Lao phổi khá cao của thành phố Hà Nội [6].
Đặc biệt qua tìm hiểu sơ bộ trên sổ sách, báo cáo của phòng khám Lao Hai Bà

nhiên 400 trong số 736 người bệnh đang được điều trị bệnh lao trong thời gian sáu
tháng ở Ndola, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính. Kết quả
thu được có 29,8% người bệnh không tuân thủ điều trị, trong đó 39,1% người bệnh
nữ và 33,9% nam tự ngừng thuốc trong vòng 2 tháng đầu điều trị. Tuổi tác, tình
trạng hôn nhân và trình độ văn hóa không liên quan đáng kể với việc tuân thủ điều
trị. Các yếu tố chính dẫn đến không tuân thủ bao gồm bệnh nhân bắt đầu cảm thấy
tình trạng bệnh tốt hơn (45,1% nữ và 38,6% nam), thiếu kiến thức về tuân thủ điều
trị là (25,7%), tình trạng thiếu thuốc tại nhà (25,4% nữ và 29,1% nam), uống thuốc
lao có tác dụng phụ (20,1% và 20,2%), trong khi đó có 32 % phụ nữ hay quên uống
thuốc. Kết quả từ nghiên cứu định tính cho thấy 10/17 người không tuân thủ điều trị
cho rằng việc thiếu thuốc điều trị là một trong những lý do để họ ngừng thuốc [23].
Năm 2008, tại Trung Quốc, Daiyu và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu mô
tả nhằm tìm hiểu việc kiểm soát trực tiếp (DOTS) và mối liên quan của nó với
TTĐT. Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 401 bệnh nhân Lao và một số thầy thuốc
địa phương tại khu tự trị Chongqing. Kết quả cho thấy chỉ có 16% bệnh nhân được
giám sát điều trị thường xuyên như khuyến cáo của chương trình Chống Lao quốc
gia Trung Quốc, có 11,9% bệnh nhân không được giám sát điều trị thường xuyên và
72,1% chưa bao giờ được giám sát điều trị trực tiếp. Chỉ có ít hơn 5% bệnh nhân
được giám sát điều trị bởi các nhân viên y tế và 11% được giám sát điều trị bởi
người thân. Có 12,5% bệnh nhân thừa nhận uống thuốc không đều, và tỷ lệ này gặp
14 ở những bệnh nhân không được giám sát điều trị. Nghiên cứu định tính còn cho thấy
hầu hết bệnh nhân tự dùng thuốc ở nhà, một số bệnh nhân sống rất gần với các thầy
thuốc địa phương nhưng cũng không được giám sát điều trị. Thậm chí một số bệnh
nhân ngạc nhiên khi nghe từ “giám sát điều trị”. Một số bệnh nhân thì cho rằng việc
giám sát điều trị như là sự quấy rầy và làm phiền thầy thuốc. Một số khác lại cho
rằng không cần thiết phải giám sát điều trị vì họ đã nhớ cách dùng thuốc Lao và luôn
luôn tuân thủ điều trị vì bản thân họ rất mong muốn khỏi bệnh. Khi phỏng vấn

– 22,9%; sai 2 nguyên tắc – 21,4%; đặc biệt vẫn còn trường hợp sai 5 nguyên tắc là
2,1%[4]. Năm 2006, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Trung ương tiến hành một nghiên
cứu tìm hiểu sự quan tâm của gia đình, cộng đồng với bệnh nhân Lao và giám sát
điều trị của nhân viên y tế trong thời gian điều trị tại 8 tỉnh Bắc Giang, Hải Dương,
Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Tây Ninh, Kiên Giang, Bình Dương trong đó có
tìm hiểu thực tế hoạt động giám sát điều trị của nhân viên y tế đối với bệnh nhân.
Kết quả cho thấy việc thực hiện hoạt động giám sát điều trị tại nhà bệnh nhân của
nhân viên y tế vẫn chưa tốt và chưa đầy đủ các nội dung theo như qui định của
CTCLQG. Nếu được khám phát hiện và đưa vào điều trị đúng phác đồ, hầu hết các
bệnh nhân Lao mới đều có thể khỏi bệnh sau một thời gian điều trị theo DOTS. Tuy
nhiên, trên thực tế vẫn có một số lượng bệnh nhân Lao mới có được điều trị bằng
DOTS nhưng thất bại, nguyên nhân quan trọng là do bệnh nhân đã bỏ trị hoặc không
tuân thủ các NTĐT. Ngoài ra thầy thuốc cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong việc giám sát TTĐT của bệnh nhân. Theo TCYTTG thì sự TTĐT của bệnh
nhân là một yếu tố quan trọng để việc điều trị thành công. Vì vậy, việc quản lí thuốc
Lao và giám sát điều trị đầy đủ thường xuyên là hai nội dung rất quan trọng của
DOTS với mục đích là tăng cường sự TTĐT của bệnh nhân. Khi có một người thứ
hai quan sát bệnh nhân uống thuốc thì đảm bảo chắc chắn rằng bệnh nhân sẽ dùng
thuốc theo chỉ định. Phương pháp này dẫn đến tỉ lệ khỏi bệnh cao và giảm nguy cơ
kháng thuốc. Phác đồ DOTS đã đưa ra phương thức giúp nhân viên y tế cách quản lí
thuốc Lao cũng như quản lí bệnh nhân từ lúc điều trị cho đến khi kết thúc, theo đó
nhân viên y tế phải quản lí việc cung cấp thuốc Lao cho bệnh nhân đúng theo qui
16 định và bắt buộc phải giám sát người bệnh điều trị để bảo đảm rằng họ đang sử dụng
đúng và đầy đủ phác đồ điều trị[4].
Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới việc tuân thủ
nguyên tắc điều trị của bệnh nhân Lao được quản lý, điều trị tại quận Hoàn Kiếm”
của tác giả Phạm Ngọc Hân (2005) mô tả thực trạng và tìm hiểu những yếu tố ảnh

tại quận Hoàng Mai “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị
Lao tại phòng khám Lao quận Hoàng Mai – Hà Nội, năm 2013”. Kết quả cho thấy tỷ
lệ bệnh nhân hiểu biết tốt về các nguyên tắc điều trị bệnh Lao đạt 72,1%. Tỷ lệ hiểu
biết chưa tốt chiếm 27,9 %. Có 92,6% cho rằng cần thực hiện đủ những nguyên tắc
điều trị (NTĐT). Có 7,4% BN cho rằng không cần thực hiện đủ những NTĐT. Tỷ lệ
BN tuân thủ đúng, đủ các NTĐT là 67,6%, Tuân thủ sai là 32,4%. Mức độ tuân thủ
sai từ 3 nguyên tắc trở lên chiếm 11,4%. Nguyên tắc dùng thuốc đều đặn tuân thủ sai
nhiều nhất, chiếm 52,3%[8].
Nhìn chung hầu hết các nghiên cứu về Lao là đánh giá kiến thức, thái độ
và thực hành (tuân thủ) của bệnh nhân Lao, rất ít nghiên cứu chuyên biệt về đánh giá
vai trò của giám sát điều trị (DOTS) với việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân Lao.
Nên chưa đánh giá được bao quát thực trạng khó khăn, thuận lợi trong điều trị có
giám sát trực tiếp từ phía bệnh nhân Lao và của cán bộ y tế.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1 Đặc điểm bệnh Lao phổi
Lao phổi là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn Lao gây nên. Vi khuẩn
Lao xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp do hít phải những hạt nhỏ trong
không khí có chứa vi khuẩn Lao. Từ những tổn thương ban đầu vi khuẩn Lao qua
đường máu, bạch huyết, đường phế quản hoặc đường tiếp cận có thể đến để gây
bệnh ở nhiều cơ quan khác trong cơ thể. Lao phổi là thể bệnh phổ biến nhất chiếm
khoảng 80-85% các thể bệnh Lao và cũng là nguồn lây bệnh chủ yếu trong cộng
đồng [1].
Ca bệnh lâm sàng: Người bị bệnh lao phổi là những người có biểu hiện ho
khạc kéo dài trên 2 tuần, kèm theo các triệu chứng sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi "

Trích đoạn Đối với bệnhnhân và người nhà bệnhnhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status