1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, gây dịch
do muỗi truyền bởi 4 týp vi rút Dengue. Trên thế giới trước năm 1970 chỉ có
9 quốc gia đã ghi nhận bệnh này, ước tính hàng năm có 500.000 trường hợp
SXHD phải nhập viện, phần lớn là trẻ em. Ít nhất 2,5% các ca bệnh dẫn tới tử
vong. Do số lượng người mắc và chết cao trong các vụ SXHD nên bệnh
SXHD luôn là vấn đề của cộng đồng. Trong những năm gần đây, khi vấn đề
biến đổi khí hậu toàn cầu được quan tâm, người ta dự báo rằng biến đổi khí
hậu có thể tác động trực tiếp lên sức khỏe con người (ví dụ tác động của ứng
suất nhiệt, chết/ bị thương do bão lũ) và gián tiếp thông qua những biến đổi
của của một loạt các véc tơ bệnh tật như muỗi, ve, ... mầm bệnh từ nước, chất
lượng nước, không khí, chất lượng và khả năng đáp ứng thực phẩm, thì
SXHD lại càng ngày được quan tâm nhiều hơn.
Việt Nam được xác định là một trong 8 nước đứng đầu khu vực Đông
Nam châu Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh SXHD. Bệnh lưu hành
rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu long và duyên hải miền Trung.
Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có véc tơ truyền
bệnh [13]. Bệnh có chiều hướng gia tăng ở tất cả các khu vực và là một trong
10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nước ta, năm 2009 cả
nước đã ghi nhận 108.756 ca mắc SXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắc
lên tới 121 ca/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,08%; Năm 2010, dịch cũng
đã xảy ra ở cả 4 khu vực với 125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắc
tăng 13,59% và số ca tử vong tăng 14,94% so với năm 2009 , ,,,,,,.
Thành phố Hà Nội hiện nay bao gồm thành phố Hà Nội cũ (14 quận,
huyện, 232 xã, phường, thị trấn), toàn bộ tỉnh Hà Tây (2 thành phố, 12 huyện,
2
323 xã, phường, thị trấn), huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc (18 xã, thị trấn) và 4
Hình 1.1: Bản đồ dịch tễ SXHĐ trên thế giới
Những ghi nhận đầu tiên về bệnh SXHD trên thế giới vào năm 1779 tại
Jakarta (Indonesia) và Cairo (Ai Cập), 1780 tại Philadenphia (Mỹ). Tại khu
vực châu Á có những tài liệu ghi chú về lịch sử bệnh SXHD xảy ra từ những
năm 1927-1928 tại Athens (Hy Lạp) làm khoảng 1250 người chết, 1953-1954
tại Philippine và trong vòng 20 năm sau đó bệnh SXHD đã trải rộng khắp
vùng Đông Nam châu Á tới Ấn Độ, Srilanka, Trung Quốc, Nam và Tây Thái
Bình Dương, Châu Phi, châu Mỹ và vùng biển Caribê. Tháng 5 năm 1945, lần
đầu tiên tác nhân gây bệnh được phân lập bởi Alber Sabin từ những binh lính
4
bị ốm tại Calcuta (Ấn Độ), NewGuinea và Hawaii. Những chủng vi rút
Dengue mà Sabin phân lập được tại Ấn Độ, New Guinea và một chủng tại
Hawaii đều có tính kháng nguyên giống nhau ngoài ra còn 3 chủng khác tại
New Guinea, Sabin nhận thấy có sự khác biệt về tính kháng nguyên với các
chủng trên. Hai chủng vi rút này được gọi là Dengue típ 1 và Dengue típ 2.
Hai chủng vi rút Dengue tiếp theo là Dengue 3 và Dengue 4 đã được William
Mcd Hammon và cộng sự phân lập được từ những trẻ em bị bệnh SXH tại vụ
dịch ở Manila năm 1956. Tiếp theo sau đó rất nhiều chủng vi rút Dengue
được phân lập từ các vùng khác nhau trên thế giới nhưng tính kháng nguyên
của chúng đều được định dạng trong 4 típ huyết thanh trên .
Hình 1.2: Mức độ gia tăng của dich SXHD qua các năm.
Các nhà nghiên cứu về vi rút Dengue đã sớm cho rằng bệnh SXHD được
lây truyền bởi muỗi nhưng mãi đến tận năm 1903 H. Graham mới chứng
minh được điều này. Năm 1906, T.L. Brabcroft đã chỉ ra rằng muỗi
Ae.Aegypti chính là vectơ chính truyền bệnh SXHD. Những nghiên cứu sâu
hơn về sau cho thấy muỗi A. Albopictus và A. Polynesiensis cũng tham gia
nhiên những số liệu mới đây đã chỉ ra rằng bệnh đã phát triển đến vùng cao
nguyên Trung bộ, nơi đang phát triển đô thị mới với điều kiện cung cấp nước
sinh hoạt và vệ sinh môi trường kém. Tại các tỉnh đồng bằng Sông Hồng, sự
lan truyền bệnh bị hạn chế trong những tháng đông xuân do nhiệt độ môi
trường thấp không thích hợp cho sự phát triển và sinh sản của muỗi truyền
bệnh. Ở những vùng núi xa xôi hẻo lánh cao nguyên biên giới phía Bắc không
thấy bệnh xuất hiện, kể cả những năm có dịch lớn .
Trước năm 1990, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét,
với khoảng cách trung bình 3-5 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với
quy mô và cường độ ngày một gia tăng. Đặc biệt năm 1998 dịch SXHD đã
bùng nổ với qui mô lớn ở Việt Nam, có tới 57/61 tỉnh thành trong cả nước có
xuất hiện dịch với 234,920 trường hợp mắc và 377 tử vong, tỷ lệ mắc
306,3/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc 0,16%. Giai đoạn 1999-2003, số mắc, chết
trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 trường hợp và tử vong 66 trường
hợp. Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay số mắc và tử vong do SXHD có xu
hướng gia tăng. Đặc biệt năm 2009 cả nước đã ghi nhận 108.756 ca mắc
SXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắc lên tới 121/100.000 dân và tỷ lệ
chết/mắc là 0,08 %; Năm 2010, dịch cũng đã xảy ra ở cả 4 khu vực với
7
125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắc tăng 13,59% và số ca tử vong
tăng 14,94% so với năm 2009.
Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam. Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới,
bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra
vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của Ae.
aegypti. Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào
tháng 7,8,9 và 10. Ở miền Nam và nam Trung bộ bệnh SXHD xuất hiện trong
suốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng
91, 930
101,339
123,928
Tỷ lệ mắc /
100.000 dân
51,60
39,03
59,56
92,61
70,39
88,60
122,61
106,27
117,55
140,08
Số chết
82
53
72
114
53
68
88
90
84
100
Tỷ lệ
2 ngày, với hiệu giá ở mức có thể phát hiện được, ít khi vượt quá 106
MID50/ml, loại động vật này tỏ ra thích ứng đặc biệt với vi rút Dengue,
không biểu lộ các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh.
Vi rút Dengue không gây nhiễm hoặc rất khó gây nhiễm đối với các
động vật có xương sống khác. Ngay cả chuột mới đẻ, vẫn thường được dùng
để phân lập vi rút, cũng không có bất kỳ một dấu hiệu nào của bệnh sau khi
đã tiêm vào não các vi rút chưa được cấy truyền nhiều lần.
Một số loài muỗi thuộc giống Aedes được coi là ổ chứa tự nhiên của vi
rút Dengue, đó là Ae.Aegypti, Ae.Albopictus, Ae.Scutellaris, Ae.Africanus và
Ae.Lentrocephalus. Các loài muỗi khác không phải là ổ chứa của vi rút
9
Dengue, mặc dù gần đây có thông báo của Trung Quốc cho rằng Culex
quinquefasciatus cũng là véc tơ truyền bệnh SXHD, nhưng nhiều tác giả
không công nhận loài muỗi này có thể đóng vai trò truyền bệnh .
Muỗi Aedes có thể bị nhiễm vi rút Dengue sau khi đốt bệnh nhân ở giai
đoạn nhiễm vi rút huyết (từ 6-8 giờ trước, đến khoảng 3 ngày sau khi khởi
phát). Cần có thời gian để vi rút nhân lên trong cơ thể muỗi, thời gian này dài
hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường. Ở nhiệt độ 220C, sau 8-12
ngày (trung bình 9 ngày) là muỗi có thể truyền bệnh. Nếu nhiệt độ bên ngoài
thấp hơn 160C, vi rút không nhân lên được trong cơ thể muỗi. Muỗi cái
nhiễm vi rút có thể truyền bệnh suốt đời. Như vậy một số loài động vật linh
trưởng và muỗi hợp lại thành chu kỳ nhiễm vi rút Dengue trong tự nhiên.
1.2.2. Biến đổi khí hậu, thời tiết.
Việt Nam là một trong bốn nước đứng đầu thế giới chịu ảnh hưởng biến
đổi khí hậu (BĐKH) kể từ 20 năm qua. Trong danh sách của tổ chức
Germanwatch công bố tại Copenhagen ngày 09/12/2009, Việt Nam đứng
hàng thứ tư trong chỉ số rủi ro chỉ sau Bangladesh, Myanmar, Honduras. Bên
cạnh những tác hại cho đời sống, BĐKH còn ảnh hưởng đến sức khỏe con
có điểm chung là loại virút cúm đều là những chủng loại mới mà con người
chưa phát triển được hệ miễn dịch. Nhiệt độ càng tăng thì tỷ lệ thuận với bệnh
truyền nhiễm càng nhiều. Nhiệt độ ấm lên cùng lượng mưa tăng có thể gây
nhiễu loạn hệ sinh thái, tác động đến các động vật ký sinh cũng như trung
gian truyền bệnh đã làm tăng các dịch bênh ở những vùng không có sự chuẩn
bị phòng chống đầy đủ. Các vật truyền bệnh (như muỗi, bọ chét, ve, mò, mạt)
sẽ thay đổi về sinh học, sinh thái và vùng phân bố, theo xu hướng sẽ phát triển
ở các vành đai cao hơn, mùa phát triển sẽ kéo dài hơn. Hậu quả là các dịch
bệnh do chúng truyền sẽ phức tạp và gây tác hại nhiều hơn do mở rộng vùng
11
phân bố làm tăng nguy cơ dịch bệnh phụ thuộc vào điều kiện môi trường và
sự thay đổi của xã hội .
Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới cũng đã thấy một số loại bệnh truyền
nhiễm lây lan nhiều hơn, với địa bàn rộng hơn trong những năm qua, từ khi
khí hậu trái đất bị hâm nóng. Trong thời gian vừa qua, dịch sốt xuất huyết (do
muỗi Aedes aegypty truyền) bùng phát trên phạm vi cả nước, có dịch tễ phức
tạp, mùa bệnh kéo dài vì thời tiết bất thường và nóng lên (muỗi truyền bệnh
phát triển…). Bệnh dịch tả quay lại cũng tương tự như vậy: do trời nóng, điều
kiện vệ sinh nói chung và vệ sinh thực phẩm nói riêng không tốt. Bệnh truyền
qua nước và các côn trùng véctơ (theo cơ chế nhiễm bẩn cơ học) nên rất khó
quản lý nguồn bệnh/ phân.. Đối với động vật nuôi, tác động của BĐKH cũng
rất rõ rệt. Trong những năm gần đây, các vụ dịch của gia cầm, gia súc (cúm
gia cầm, cúm lợn, …) đã gây ra các vụ dịch lớn và thiệt hại đáng kể ở nhiều
địa phương.
Theo tính toán, các bệnh do véc tơ truyền, bệnh tiêu chảy gây thiệt hại
ước tính hàng năm khoảng 40 tỷ USD. Tổ chức Y tế thế giới cho biết trong
năm 2000 có khoảng 2,4% số trường hợp tiêu chảy cấp trên thế giới, 6% các
trường hợp mắc sốt rét trong các nước có mức thu nhập trung bình và thấp
Xét nghiệm thấy giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu (100.000/mm3),
hematocrit tăng ( 20% giá trị bình thường theo tuổi và giới).
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả toàn bộ các ca bệnh SXHD được báo cáo và ghi nhận
tại Trung tâm YTDP Hà Nội bằng phiếu điều tra ca bệnh.
2.4.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu
- Cỡ mẫu: chọn toàn bộ 6488 phiếu phiếu điều tra ca bệnh SXHD từ
13
2002 - 2007 được báo cáo ghi nhận trên 14 quận, huyện thuộc Thành phố Hà
Nội cũ đang quản lý tại Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội.
2.4.3. Kỹ thuật thu thập thông tin
Hồi cứu số liệu từ các ca bệnh SXHD năm 2002-2007.
2.5.
NHẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU.
- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata và xử lý bằng phần mềm
SPSS 16.0.
- Thống kê mô tả sử dụng test χ2 , r tương quan.
- Mô tả bản đồ dịch tễ học sử dụng phần mềm ArcMap.
- Phân tích đường cong dịch, mùa dịch, chu kỳ dịch, ngưỡng dịch bằng
kỹ thuật “time series”. Phần mềm phân tích chuỗi thời gian (time-series
analysis) viết trên nền Mathlab có sử dụng các thuật toán của Fourier
2.6.
SAI SỐ VÀ CÁCH KHẮC PHỤC.
+ Sai số: Nghiên cứu hồi cứu dựa trên phiếu điều tra ca bệnh sẵn có.
1
Giới
Giới tính khi sinh được ghi 1. Tỉ lệ % ca bệnh theo giới theo năm
trong phiếu điều tra ca bệnh
Phân bố ca bệnh theo nhóm tuổi ≤ 15 tuổi và
nhóm >15 tuổi
2
Tuổi
Tuổi dương lịch tính theo 2.
năm sinh ghi trong phiếu
điều tra ca bệnh:
Tỉ lệ % ca bệnh theo nhóm tuổi/năm
3. Tỉ lệ % ca bệnh phân bố theo địa bàn 14 quận
huyện/năm
3
Địa
điểm
nơi
khởi
phát
(seasonal trend)
8. Đường cong dịch, ngưỡng dịch
Thời
tiết
Các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, 9. Tương quan nhiệt độ với ca bệnh
lượng mưa theo thời gian với 10. Tương quan độ ẩm với ca bệnh
các giá trị được đo và ghi 11. Tương quan lượng mưa với ca bệnh
nhận tại tổng cục khí tượng
thuỷ văn Hà Nội theo tháng
từ 2002-2007
15
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. PHÂN BỐ CÁC TRƯỜNG HỢP MẮC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE.
Bảng 3.1: Phân bố SXHD theo giới của Hà Nội từ 2002-2007.
Nam
Nữ
N
%
n
%
2002
3534
54,5
2954
45,5
Nhận xét: Trong tổng số các ca mắc SXHD được báo cáo và ghi nhận trên
địa bàn 14 quận huyện thành phố Hà Nội từ 2002-2007, tỉ lệ nam mắc qua các
năm đều cao hơn nữ.
Bảng 3.2: Phân bố các ca bệnh SXHD theo nhóm tuổi từ 2002-2007
< 15 tuổi
≥ 15 tuổi
n
%
n
%
2002
14
11,2
111
88,8
2003
61
11,2
482
88,8
2004
49
10,6
412
2004
(%)
2005
(%)
2006
(%)
2007
(%)
Tổng
2002-2007
(%)
16
Nội thành
Ngoại thành
Đống Đa
22,4
18,6
11,9
13,7
30,5
18,1
32,3
23,6
Cầu Giấy
7,2
1,3
6,3
1,7
1,7
2,5
2,4
Hoàn Kiếm
7,2
4,8
1,5
4,1
3,2
2,9
3,2
3,0
Hoàng Mai
0,0
0,2
29,7
20,8
28,1
10,1
19,1
90,4
Đông Anh
2,4
1,8
3,5
1,1
0,5
1,1
1,1
Từ Liêm
2,4
2,6
2,4
3,8
2,0
1,9
3,5
4,1
Gia Lâm
3,2
1,7
0,4
0,3
0,6
0,9
0,8
Tổng
16,8
27,8
8,7
Mai là những quận có mật độ mắc trên 100.000 dân cao nhất từ 2002-2007.
19
Biểu đồ 3.2: Phân bố dịch tễ học SXHD theo tháng từ 2002-2007
Nhận xét : Thời điểm tháng 4 và tháng 5 hàng năm, số ca SXHD bắt đầu tăng
và thời điểm cao nhất của dịch bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 11 mà đỉnh điểm
cao nhất là tháng 10.
20
1000
900
800
700
Incidence
600
500
400
300
2
data1
data2
data3
data4
1000
1.9
900
1.8
800
1.7
700
1.6
Incidence
600
1.5
500
1.4
400
1.3
300
22
3.2. PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN BỆNH SXHD VỚI MỘT SỐ YẾU TỐ
THỜI TIẾT.
Biểu đồ 3.5: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
tháng năm 2002
Biểu đồ 3.6: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
tháng năm 2003
23
Biểu đồ 3.7: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
tháng năm 2004
24
Biểu đồ 3.8: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
tháng năm 2005
Biểu đồ 3.9: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
tháng năm 2006
25
Biểu đồ 3.10: Phân bố ca bệnh SXHD, nhiệt độ, độ ẩm và lượng mưa theo
0,54
0,738
p
< 0,05
> 0,05
< 0,05
r
0,23
-0,38
-0,169
p
> 0,05
> 0,05
> 0,05
r
r
0,25
0,02
0,321
p
> 0,05
> 0,05
> 0,05
r
0,08
0,14
0,608
p
> 0,05
> 0,05