đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại thành phố hà nội từ năm 2002 đến năm 2010 và một số yếu tố thời tiết liên quan - Pdf 23

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
HONG TH HNG
đặc điểm dịch tế học bệnh sốt xuất huyết dengue
tại thành phố hà nội năm Từ 2002 2010
và một số yếu tố thời tiết liên quan
Chuyờn ngnh: Dch t hc
Mó s : 60. 72. 70
LUN VN THC S Y HC

Ngi hng dn khoa hc:
TS. O TH MINH AN
TS. HONG C HNH
H NI 2012
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ae.aegypti : Aedes aegypti
Ae.albopictus : Aedes albopictus
Ae.Scutellaris : Aedes Scutellaris
Ae.Africanus : Aedes Africanus
Ae.Lentrocephalus : Aedes Lentrocephalus
SXHD : Sốt xuất huyết Dengue
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
TB : Trung bình
TBN : Trung bình năm
KKL : Không khí lạnh
BĐKH : Biến đổi khí hậu
LHQ : Liên Hiệp Quốc
DALYs : Disability Adjusted Life Years
SVT : Siêu vi trùng
HCSD : Hội chứng sốc Dengue

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, gây dịch
do muỗi truyền bởi 4 týp vi rút Dengue. Trên thế giới trước năm 1970 chỉ có
9 quốc gia đã ghi nhận bệnh này, ước tính hàng năm có 500.000 trường hợp
SXHD phải nhập viện, phần lớn là trẻ em. Ít nhất 2,5% các ca bệnh dẫn tới tử
vong, hiện nay theo các nhà nghiên cứu về bệnh SXHD thường xuyên có hơn
2.5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch, mỗi năm có khoảng 100 triệu
trường hợp mắc bệnh. Do số lượng người mắc và chết cao trong các vụ dịch
SXHD nên bệnh SXHD trở thành vấn đề lớn ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng
đồng trên toàn cầu []. Những năm gần đây, khi vấn đề biến đổi khí hậu toàn
cầu được quan tâm, người ta dự báo rằng biến đổi khí hậu có thể tác động trực
tiếp lên sức khỏe con người (ví dụ tác động của nhiệt độ, chết/ bị thương do
bão lũ) và gián tiếp thông qua những biến đổi của của một loạt các véc tơ
bệnh tật như muỗi, ve, …, thì SXHD lại càng ngày được quan tâm nhiều hơn.
Việt Nam được xác định là một trong 8 nước đứng đầu khu vực Đông
Nam Á và thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh SXHD. Bệnh lưu hành rộng
rãi ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và duyên hải miền Trung.
Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có véc tơ truyền
bệnh [13]. Bệnh có chiều hướng gia tăng ở tất cả các khu vực và là một trong
10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc cao nhất ở nước ta, năm 2009 cả
nước đã ghi nhận 108.756 ca mắc SXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắc
lên tới 121 ca/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,08%; Năm 2010, dịch cũng
đã xảy ra ở cả 4 khu vực với 125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắc
tăng 13,59% và số ca tử vong tăng 14,94% so với năm 2009 , ,,,,,.
Tại Hà Nội, từ năm 2003 đến 2008 số ca bệnh SXHD được ghi nhận và
báo cáo thường xuyên chiếm khoảng 90% số ca bệnh của khu vực miền Bắc.
Đặc biệt
sau trận mưa lịch sử cuối năm 2008
,
trong năm 2009, số bệnh nhân mắc
SXHD được ghi nhận là 16.267 ca (khoảng 255,4 trường hợp/100.000 dân).

6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Những hiểu biết hiện đại về bệnh sốt xuất huyết Dengue
1.1.1 Tác nhân gây bệnh và véc tơ truyền bệnh
Trong thời gian dài trước đây, người ta chỉ biết rằng các vụ dịch sốt
xuất huyết Dengue (SXHD) liên tiếp xảy ra ở Trung Mỹ, vùng biển Caribê và
Đông Nam Á do muỗi truyền, nhưng tác nhân gây bệnh vẫn chưa được biết
đến. Năm 1903 H. Graham mới chứng minh được vi rút gây bệnh SXHD
được lây truyền bởi muỗi. Năm 1906, T.L.Brabcroft đã chỉ ra rằng muỗi
Ae.Aegypti chính là vectơ chính truyền bệnh SXHD. Những nghiên cứu sâu
hơn về sau cho thấy muỗi A. Albopictus và A. Polynesiensis cũng tham gia
vào việc truyền bệnh này. Tháng 5 năm 1945, lần đầu tiên tác nhân gây bệnh
được phân lập bởi Alber Sabin từ những binh lính bị ốm tại Calcuta (Ấn Độ),
New Guinea và Hawaii. Những chủng vi rút Dengue mà Sabin phân lập được
tại Ấn Độ, New Guinea và một chủng tại Hawaii đều có tính kháng nguyên
giống nhau ngoài ra còn 3 chủng khác tại New Guinea, Sabin nhận thấy có sự
khác biệt về tính kháng nguyên với các chủng trên. Hai chủng vi rút này được
gọi là Dengue týp 1 và Dengue týp 2. Hai chủng vi rút Dengue tiếp theo là
Dengue týp 3 và Dengue týp 4 đã được William Mcd Hammon và cộng sự
phân lập được từ những trẻ em bị bệnh SXHD tại vụ dịch ở Manila năm 1956.
Tiếp theo sau đó rất nhiều chủng vi rút Dengue được phân lập từ các vùng
khác nhau trên thế giới nhưng tính kháng nguyên của chúng đều được định
dạng trong 4 týp huyết thanh trên. Tới năm 1997 vi rút Dengue và muỗi
A.Aegypti đã phát triển rộng trên toàn thế giới ,,.
Vi rút Dengue thuộc giống Flaviviruses, họ Flaviviridae. Vi rút Dengue
có 3 ổ chứa tự nhiên là người, muỗi và một số động vật thuộc nhóm linh
trưởng như vượn, hắc tinh tinh.
Thời kỳ nhiễm vi rút huyết ở người từ 2 đến 12 ngày, trung bình từ 4 đến 5 ngày.
7

Theo WHO (2000) chia làm 4 độ theo mức độ nặng nhẹ để xử trí .
Độ 1: Sốt đột ngột từ 2 đến 7 ngày kèm theo triệu chứng cơ năng: mệt
mỏi, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau đầu, đau cơ xương hoặc khớp và nổi ban.
Dấu hiệu dây thắt dương tính hoặc dễ bầm tím da khi đụng, va, đập nhẹ hoặc
tiêm chích.
Độ 2: Triệu chứng như độ 1, kèm theo xuất huyết dưới da hoặc niêm
mạc, có thể có xuất huyết nội tạng nhẹ.
Độ 3: Xuất huyết nặng, có dấu hiệu suy tuần hoàn, mạch nhanh nhỏ, tụt
huyết áp hoặc huyết áp kẹt. Kèm theo các triệu chứng như da lạnh, ẩm, người
bồn chồn hoặc vật vã hoặc li bì.
§é 4: Sèc s©u, m¹ch nhá, khã b¾t, huyÕt ¸p kh«ng ®o ®îc .
Khái niệm về dịch SXHD: Dịch SXHD xảy ra khi số lượng ca bệnh
vượt qua giới hạn 95% khoảng tin cậy của trung bình ngưỡng dịch 5 năm
trước đó.
9
1.1.3 Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới
Bản đồ 1.2: Bản đồ dịch tễ SXHD trên thế giới
Những ghi nhận đầu tiên về bệnh SXHD trên thế giới vào năm 1779 tại
Jakarta (Indonesia) và Cairo (Ai Cập), năm 1780 tại Philadenphia (Mỹ). Bệnh
SXHD tại Athens (Hy Lạp) xảy ra từ những năm 1927 - 1928 làm khoảng
1.250 người chết. Khu vực châu Á, từ năm 1953 đến năm 1954 dịch xảy ra tại
Philippine và trong vòng 20 năm sau đó bệnh SXHD đã trải rộng khắp vùng
Đông Nam Á tới Ấn Độ, Srilanka, Trung Quốc, Nam và Tây Thái Bình
Dương, châu Phi, châu Mỹ và vùng biển Caribê.
10
Nguồn: WHO.DengueNet 2009
Hình 1.1: Mức độ gia tăng của dich SXHD qua các năm.
Số mắc SD/SXHD trên thế giới có xu hướng ngày càng gia tăng. Giai
đoạn 1955-1959 số mắc trung bình hàng năm chỉ là 908 trường hợp, cho đến
những năm 1980 - 1989 con số này đã tăng lên 295.591 và tăng lên 968.564

không thấy bệnh xuất hiện, kể cả những năm có dịch lớn ,.
Trước năm 1990, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét,
với khoảng cách trung bình từ 3 đến 5 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên
tục với quy mô và cường độ ngày một gia tăng. Đặc biệt năm 1998 dịch
SXHD đã bùng nổ với qui mô lớn ở Việt Nam, có tới 57/61 tỉnh thành trong
cả nước có xuất hiện dịch với 234.920 trường hợp mắc và 377 tử vong, tỷ lệ
mắc 306,3/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc 0,16%. Giai đoạn 1999 - 2003, số mắc,
chết trung bình hàng năm đã giảm chỉ còn 36.826 trường hợp và tử vong 66
trường hợp. Tuy nhiên từ năm 2004 đến nay số mắc và tử vong do SXHD có
12
xu hướng gia tăng. Đặc biệt, năm 2009 cả nước đã ghi nhận 108.756 ca mắc
SXHD, trong đó 87 ca tử vong, tỷ lệ mắc lên tới 121/100.000 dân và tỷ lệ
chết/mắc là 0,08 %; Năm 2010 tiếp theo, dịch cũng đã xảy ra ở cả 4 khu vực
với 125.854 ca mắc SXHD, 100 ca tử vong, số mắc tăng 13,59% và số ca tử
vong tăng 14,94% so với năm 2009.
Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam. Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới,
bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra
vì thời tiết lạnh, ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của Ae.
aegypti. Bệnh phát triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào
tháng 8,9 và 10. Ở miền Nam và nam Trung bộ bệnh SXHD xuất hiện trong
suốt năm với tần số mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng
vào những tháng 7, 8, 9 và 10 ,,.
Qua các số liệu thống kê cho thấy, tuổi mắc bệnh có sự khác biệt giữa
các miền. Ở miền Bắc Việt Nam, nơi có bệnh lưu hành thấp thì tất cả các lứa
tuổi đều có thể bị mắc bệnh. Nhưng ở miền Nam, nơi mà bệnh lưu hành cao,
lứa tuổi mắc bệnh phần lớn là trẻ em. Năm 2006 trẻ em <15 tuổi mắc bệnh ở
miền Bắc chiếm 21,8%, miền Trung 47,9% và miền Nam 64,3%, Tây Nguyên
15,9% .
13

phòng Hà Nội năm 2009) .
14
1.2 Biến đổi khí hậu và thời tiết
1.2.1. Tình hình biến đổi khí hậu, thời tiết ở Việt Nam.
Theo số liệu quan trắc, biến đổi khí hậu ở Việt Nam có những điểm
đáng lưu ý sau:
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951 - 2000), nhiệt độ trung
bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,7ºC. Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập
kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn nhiệt độ trung bình năm của 3 thập kỷ
trước đó (1931 - 1960). Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở
Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931
- 1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,6ºC. Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3
nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,3ºC và cao
hơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,4 - 0,5ºC.
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 - 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ
và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
Trên lãnh thổ Việt Nam, xu thế biến đổi của lượng mưa cũng rất khác nhau
giữa các khu vực.
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu cho thấy, mực nước biển trung bình đã tăng
lên khoảng 20cm.
- Số đợt không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt
trong hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI). Năm 1994 và
năm 2007 chỉ có 15-16 đợt KKL, bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường
hợp có số đợt KKL trong mỗi tháng mùa đông (từ tháng 11 năm trước đến
tháng 3 năm sau) thấp bất thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây
(3/1990, 1/1993, 2/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện bất thường nữa gần
đây nhất về khí hậu trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu là đợt KKL gây
15

trung bình
Độ lệch
chuẩn
lượng mưa
thấp nhất
Lượng mưa
cao nhất
2002 161.0 156.5 8.6 559.4
2003 131.4 138.4 0 375
2004 131.0 130.6 3.9 355.2
2005 147.0 145.5 11.4 377.2
2006 103.4 111.5 0.4 353.8
2007 138.3 136.0 3 388.3
2008 189.0 158.3 11 469
2009 134.3 160.2 1.2 550.5
2010 103.3 104.1 0.6 280.4
Bảng 1.3: Phân bố nhiệt độ qua các năm từ 2002 - 2010 tại Hà Nội
Năm
Nhiệt độ
trung bình
Độ lệch chuẩn
Nhiệt độ thấp
nhất
Nhiệt độ cao
nhất
2002 24.5 4.3 17.7 29.6
2003 25.0 4.5 16.9 30
2004 25.1 4.7 17.2 29.7
2005 24.2 5.4 16.2 30.3
2006 24.7 4.6 18.3 30.2

riêng ở Bắc và Trung Trung Bộ tăng 0 - 5%. Đáng chú ý là ở những vùng
thường xảy ra hạn hán vào mùa khô, hạn hán có nhiều khả năng tăng lên cả về
cường độ và diện tích.
- Về mực nước biển: Trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực
nước biển có thể tăng lên 40 cm vào năm 2050 và ước tính có thể tăng lên 100
cm vào năm 2100.
1.2.4. Tác động của biến đổi khí hậu tới sức khoẻ, bệnh tật
Công ước chung của Liên Hiệp Quốc (LHQ) định nghĩa “ biến đối khí
hậu là sự biến đổi của khí hậu có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt
động của con người và làm thay đổi thành phần của bầu khí quyển toàn cầu
và bổ sung vào sự biến động khí hậu tự nhiên được quan sát trong những giai
đoạn có thể so sánh được”. BĐKH là một mối đe dọa đáng kể đối với sức
khỏe cộng đồng, và làm thay đổi các biện pháp mà chúng ta phải sử dụng để
bảo vệ các bộ phận dân cư dễ bị tác động. Ở các quốc gia đang phát triển, tác
động của BĐKH là những đe dọa rõ ràng đối với công cuộc xóa đói giảm
nghèo cũng như các thành quả của các mục tiêu Thiên niên kỷ.
Theo tính toán, các bệnh do véc tơ truyền, bệnh tiêu chảy gây thiệt hại
ước tính hàng năm khoảng 40 tỷ USD. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết trong
18
năm 2000 có khoảng 2,4% số trường hợp tiêu chảy cấp trên thế giới, 6% các
trường hợp mắc sốt rét trong các nước có mức thu nhập trung bình và thấp
đều có liên quan đến BĐKH. Dự báo trong vòng 50 năm tới, thiên tai sẽ tăng
lên 4 lần và 2 tỷ người trên hành tinh sẽ chịu ảnh hưởng. Tại Việt Nam
khoảng 10% dân số sẽ bị ảnh hưởng, kéo theo tổn thất tổng sản phẩm quốc
nội lên tới 10%, cùng với đó là hàng loạt dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm,
bệnh mới nổi bùng phát. Đây là những đánh giá được đưa ra tại hội thảo “Á -
Âu chia sẻ kinh nghiệm sẵn sàng đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các
bệnh mới nổi”, được tổ chức ngày 4 và 5-11/2009 tại Hà Nội .
Việt Nam được coi là một trong những quốc gia trên thế giới bị ảnh
hưởng nhiều nhất vì hiện tượng biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển dài và

cúm H5N1 năm 2009 đều diễn ra sau các đợt La Nina. Các dịch cúm này có
điểm chung là loại vi rút cúm đều là những chủng loại mà con người chưa
phát triển được hệ miễn dịch. Nhiệt độ càng tăng thì tỷ lệ thuận với bệnh
truyền nhiễm càng nhiều. Nhiệt độ ấm lên cùng lượng mưa tăng có thể gây
nhiễu loạn hệ sinh thái, tác động đến các động vật ký sinh cũng như trung
gian truyền bệnh đã làm tăng các dịch bênh ở những vùng không có sự chuẩn
bị phòng chống đầy đủ. Các vật truyền bệnh (như muỗi, bọ chét, ve, mò, mạt)
sẽ thay đổi về sinh học, sinh thái và vùng phân bố, theo xu hướng sẽ phát triển
ở các vành đai cao hơn, mùa phát triển sẽ kéo dài hơn. Hậu quả là các dịch
bệnh do chúng truyền sẽ phức tạp và gây tác hại nhiều hơn do mở rộng vùng
phân bố làm tăng nguy cơ dịch bệnh phụ thuộc vào điều kiện môi trường và
sự thay đổi của xã hội .
Tại Việt Nam, một quốc gia nhiệt đới cũng đã thấy một số loại bệnh
truyền nhiễm lây lan nhiều hơn, với địa bàn rộng hơn trong những năm qua,
20
từ khi khí hậu trái đất bị hâm nóng. Trong thời gian vừa qua, dịch sốt xuất
huyết (do muỗi Aedes aegypty truyền) bùng phát trên phạm vi cả nước, có
dịch tễ phức tạp, mùa bệnh kéo dài vì thời tiết bất thường và nóng lên (muỗi
truyền bệnh phát triển…). bệnh dịch tả quay lại cũng tương tự như vậy: do
trời nóng, điều kiện vệ sinh nói chung và vệ sinh thực phẩm nói riêng không
đảm bảo. Bệnh truyền qua nước và các côn trùng véctơ (theo cơ chế nhiễm
bẩn cơ học) nên rất khó quản lý nguồn bệnh/ phân. Đối với động vật nuôi, tác
động của BĐKH cũng rất rõ rệt. Trong những năm gần đây, các vụ dịch của
gia cầm, gia súc (cúm gia cầm, cúm lợn, liên cầu lợn …) đã gây ra các vụ
dịch lớn và thiệt hại đáng kể ở nhiều địa phương.
Đầu năm 2003, bệnh SARS xuất hiện tại Việt Nam từ một trường hợp
bệnh nhân tới từ Hồng Kông. Bệnh nhân được điều trị tại bệnh viện Việt
Pháp. Bệnh đã lây lan ra 63 người (55 trường hợp là người Hà Nội) và có 3
người chết. Vụ dịch này đã làm cho 8.098 người bị mắc trên thế giới, trong đó
có 774 người chết .

tăng giảm của bệnh. Tuy vậy, sự tăng giảm của bệnh còn có yếu tố phòng
chống bệnh đến đâu. Nói một cách khác là còn có khả năng của con người
thích nghi với sự thay đổi của thiên nhiên đến đâu.
Trong khoảng 2 - 3 thập kỷ trở lại đây, nhiều cảnh báo quốc tế đã đề
cập đến mối liên quan giữa thay đổi khí hậu và bệnh tật. Tổ chức Y tế Thế
giới cho rằng từ năm 1975 đến 1996 đã có ít nhất 30 loại bệnh mới nổi lên
hay xuất hiện lại nhiều hơn. Nhiều nghiên cứu cho rằng thay đổi khí hậu tác
động đến dịch bệnh do côn trùng truyền . Sự xuất hiện của bệnh tật phụ thuộc
vào mối quan hệ 3 chiều giữa vật chủ, tác nhân gây bệnh và trung gian truyền
bệnh . Có ý kiến cho rằng tác động của thay đổi khí hậu đến bệnh tật có những
mối quan hệ phức tạp hơn bao quát sự thay đổi sinh thái con người và bệnh .
22
Khi nói về sự thay đổi nhiệt độ và độ ẩm dẫn đến thay đổi nơi sinh trưởng và
đời sống của côn trùng dẫn đến thay đổi sự phân bố của chúng trên địa cầu.
Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời gian ủ bệnh của mầm bệnh trong côn trùng và
nguy cơ bộc phát thành dịch tại các vùng khác nhau .
Câu hỏi được đặt ra ở đây là “Tác động thay đổi khí hậu địa cầu đến
bệnh tật được quan sát trong bối cảnh Việt Nam như thế nào?”. vấn đề cần
được làm rõ trước khi trả lời câu hỏi này là phân nhóm các bệnh theo ảnh
hưởng của tác động thay đổi khí hậu.
Trong hội thảo quốc tế về an sinh của con người và thay đổi khí hậu
(Human Security and Climate Change) tại Oslo ngày 21-23, 2005, Huei-Ting
Tsai và Tzu-Ming Liu , đã nói về ảnh hưởng của thay đổi khí hậu. Các tác giả
nêu các bệnh mới xuất hiện và tái xuất hiện liên quan tới thay đổi khí hậu, các
bệnh do trung gian truyền bệnh dưới ảnh hưởng thay đổi khí hậu, bệnh không
truyền nhiễm dưới ảnh hưởng thay đổi khí hậu, bệnh chịu ảnh hưởng nhiệt độ
tại điểm cực (nóng và lạnh), bệnh chịu ảnh hưởng của thay đổi khí hậu. Cũng
có một số nghiên cứu khác nêu vấn đề tương tự . Song, các cách phân nhóm
và phân loại cho đến nay chưa tạo cơ cở để nghiên cứu minh chứng nguyên
nhân hậu quả giữa thay đổi khí hậu và bệnh tật bởi lẽ mỗi loại bệnh tật có

nào đó được ghi nhận tuần tự theo thời gian.
- Các giá trị của chuỗi tuần tự theo thời gian của đại lượng X được ký
hiệu X
1,
X
2
, ………, X
t
, …. X
n
, với X
t
, là giá trị quan sát của X ở thời điểm t.
1.3.1.2 Các thành phần của chuỗi tuần tự theo thời gian: (Components of
time series)
Các nhà thống kê thường chia chuỗi tuần tự theo thời gian ra làm 4
thành phần:
- Thành phần xu hướng dài hạn (long-term trend component)
- Thành phần mùa (Seasonal component)
24
- Thành phần chu kỳ (Cyclical component)
- Thành phần bất thường (irregular component)
1.3.1.2.1 Thành phần xu hướng dài hạn:
Thành phần này dùng để chỉ xu hướng tăng giảm của đại lượng X trong
khoảng thời gian dài. Về mặt đồ thị thành phần này có thể diễn tả bằng một
đường thẳng hay bằng một đường cong tròn (Smooth curve).
1.3.1.2.2 Thành phần mùa:
Thành phần này chỉ sự thay đổi của đại lượng X theo các mùa trong
năm (có thể theo các tháng trong năm).
1.3.1.2.3 Thành phần chu kỳ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status