Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết dengue tại tỉnh gia lai năm 2010 - Pdf 49

Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sốt xuất huyết dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus
Dengue gây nên. Virus Dengue có 4 type là DEN-1, DEN-2, DEN-3 và
DEN-4. Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt. Muỗi
Aedes aegypti là vec tơ truyền bệnh chủ yếu.
Sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh nhiễm trùng hàng
đầu trẻ em nhập viện và tử vong ở các vùng Đông Nam Á và Tây Thái
Bình Dương trong những thập kỷ qua. Hiện nay, theo Tổ chức Y tế Thế
giới, bệnh xảy ra ở khắp mọi nơi từ thành thị đến nông thôn như Châu Phi,
châu Mỹ, Tây Địa Trung Hải… Tuy nhiên, Đông Nam Á và Tây Thái Bình
Dương vẫn là hai nơi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Ước tính hàng năm, có
trên 50 triệu người nhiễm virus Dengue trên toàn thế giới trong đó có hơn
500.000 bệnh nhân cần phải nhập viện. Việt Nam là một trong những nước
có tỉ lệ bệnh nhân sốt xuất huyết cao trong khu vực.
Ở Việt Nam, bệnh bắt đầu xuất hiện vào những năm của thập niên
1960 tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bệnh phát thành dịch nhanh chóng và
lan nhanh đến các vùng. Trước đây theo chu kỳ mỗi 3 – 5 năm, bệnh phát
thành dịch lớn mà cao điểm vào mùa mưa các tháng 6 đến tháng 10.
Trong hơn một thập niên qua, năm 1998 là năm có dịch lớn nhất, cả
nước có 234.866 ca mắc và 383 ca tử vong ở 56/61 tỉnh/ thành phố. Bệnh
xảy ra chủ yếu ở các tỉnh Nam bộ và duyên hải miền Trung, riêng ở Tây
Nguyên, cả khu vực có 14.652 ca mắc và 10 ca tử vong, dịch đều xảy ra cả
3 tỉnh (Đăk Lăk – Gia Lai – Kon Tum )[6].
Khu vực Tây nguyên, virus Dengue lưu hành quanh năm, dịch Sốt
1


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa


CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.

Vài nét về lịch sử bệnh
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh lây, gây dịch do muỗi

truyền.
Lâm sàng bệnh SXHD được biết từ trên 200 năm nay. Đầu tiên là 2
vụ dịch ở Cairo và Batavia – Indonesia năm 1777 và Philadelphia năm
1780.
Năm 1906 Bancroft đã chứng minh vectơ truyền bệnh là Aedes
aegypti.
Từ năm 1920 nhiều dịch lớn không gây tử vong xảy ra ở Hy Lạp,
Nam Phi, Châu Úc, Nhật, Mỹ.
Năm 1944 – 1945, Sabin phân lập ra virus ở Hawaii và New Guinea
(type 1 và 2).
Năm 1945 Florancis Quintos và cộng sự mô tả bệnh Philippines, là
bệnh ở thành phố, đa số trường hợp mắc là ở khu người nghèo, bệnh chỉ
xảy ra vài tháng trong một năm.
Năm 1965, dịch lớn xảy ra ở Manila, trẻ em mắc nhiều, bắt đầu bằng
sốt, có hội chứng xuất huyết và suy sụp về hệ tuần hoàn, tỷ lệ tử vong
khoảng 10%. Ở Thái Lan dịch xảy ra nặng ở Băng Cốc. Cũng năm này
Hammon và Sather phân lập 2 type mới – type 3 và 4.

3


Năm 1953 ở Manila, Philippin, xảy ra một vụ dịch sốt đi kèm biểu
hiện xuất huyết truỵ mạch dẫn đến tử vong ở trẻ em. Căn bệnh này lúc đó
4


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

được gọi tên là “SXH Philippin”, sau đó đã lan ra nhiều thành phố lớn khác
ở Đông Nam Á.
Trước đây SXHD/SSD hầu như mới chỉ được ghi nhận ở Đông Nam
Á, cho đến tận năm 1981, khi xảy ra các trường hợp sốt Dengue nặng, có
xuất huyết, truỵ mạch, sốc và tử vong ở Cu Ba. Năm 1989 một vụ dịch
SXHD/SSD xảy ra ở Venezuela và sau đó ở nhiều nước vùng Trung và
Nam Mỹ.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, từ năm 1956 đến 1995, tình
hình sốt xuất huyết trên thế giới, một số quốc gia trong khu vực và Việt
Nam như sau:
Bảng 1.1. Tình hình SXH trên thế giới, 1956 – 1995 [2], [16].

Giai đoạn

Số năm

Số trường hợp

Số trường hợp trung bình
hàng năm

1956- 1980
1981- 1985

2001


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

của
WHO
Tây Thái
Bình
Dương
Đông
Nam Á
Châu Mỹ
Địa Trung
Hải
Châu Phi

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc

Chết

Mắc


542

119.707

452

720.572

83

322.256

98

400.514

92

406.206

44

Không có số liệu báo cáo
Không có trường hợp mắc Dengue nào được báo cáo cho WHO

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, từ năm 1956 đến 1995, tình
hình sốt xuất huyết ở Việt Nam và một số quốc gia trong khu vực như sau
(Bảng 1.3):
Bảng 1.3. Tình hình SXH ở một số quốc gia trong khu vực và Việt

1995
Cộng 1.518.808 14.133 1.165.376 10.435 9.396

0

Campuchia
Mắc

Chết

419

52

Philippin
Mắc

Chết

25.831 2.124

35

12.771 1.092

6.753

468

164

Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, nhất là Indonesia chỉ trong 5

6


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

tháng đầu năm 1998 đã có 32.665 trường hợp mắc với 774 trường hợp tử
vong do sốt xuất huyết.
Theo Tổ chức Y tế thế giới khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tình
hình SXH năm 2007 ở các nước trên thế giới và trong khu vực diễn biến
phức tạp được trình bày ở (bảng 1.4) dưới đây.
Bảng 1.4. Tình hình SXH các nước trong khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương 9 tháng đầu năm 2007 (theo WHO) [4].
Nước,
vùng lãnh
thổ

Mắc

Chết

M/100.000
dân

Chết/mắc
(%)

Indonesia


3.597

3

81,2

0,08

Cam pu
chia

30.431

327

223,6

1,07

So sánh với
cùng kỳ năm
2006
Số mắc tăng gấp 3
lần
Số mắc tăng gấp
36%
Số mắc tăng gấp
48%
Số mắc tăng gấp
89%

albopictus [17].
Ở Băng Cốc (Thái Lan) : 1962 cho thấy lứa tuổi mắc bệnh SXHD
nhiều nhất là 1 – 3 tuổi. Ở Thái Lan dịch SXHD xảy ra theo chu kỳ 3 – 4
năm. Cao điểm của dịch từ tháng 6 – 10 [6].
Về vectơ, có nhiều loại muỗi Aedes có thể truyền virus cho người.
Nhưng các dịch SXHD trên lục địa châu Á và quần đảo Nam dương xảy ra
thường phù hợp với sự có mặt của muỗi Ae. aegypti, chứ không phù hợp
với sự phân bố của Ae. albopictus. Con người có khả năng nhiễm với cả 4
type virus Dengue, tuỳ theo mức độ nhiễm virus, có thể chỉ là nhiễm trùng
không triệu chứng hoặc SD hay SXHD, SSD hoặc tử vong.
Biểu hiện lâm sàng của nhiễm trùng Dengue có thể nhẹ hoặc nặng:
• Hình thái nhẹ của Dengue là sốt Dengue cổ điển.
• Thể nặng là sốt xuất huyết Dengue hoặc Dengue xuất huyết có
choáng.
Tỷ lệ tử vong do SXHD tại các vùng lưu hành Dengue từ < 1% đến >
20%, thường gặp ở những bệnh nhân SXHD độ 3 và 4, nếu không được
chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời [6].
Từ tháng 5/1993, tổ chức Y tế thế giới đã coi SXHD như một bệnh
nghiêm trọng cần phải ưu tiên phòng chống và năm 1995 chính thức thông
qua chiến lược toàn cầu phòng chống SXHD.
1.3.

Tình hình SD/SXHD và nghiên cứu về SD/SXHD ở Việt Nam
Những năm đầu, ở nước ta dịch sốt xuất huyết chỉ xuất hiện ở một vài

địa phương với các ổ dịch nhỏ, số người mắc ít, tỷ lệ tử vong cao. Dịch chỉ
khu trú ở các thành phố, thị xã đông dân ở đồng bằng, nhưng càng về sau
dịch càng lan rộng, với số người mắc bệnh ngày càng nhiều, ngày nay dịch
đã lan tràn về nông thôn, trừ một số tỉnh miền núi như Cao Bằng, Hà Tuyên
8


9


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

Nhóm tuổi mắc bệnh chủ yếu là trẻ em < 15 tuổi, nhưng nhiều nhất là
7 tuổi. Trong cả nước, nhóm trẻ em < 15 tuổi là 69,8%, nhưng tỷ lệ này ở
miền Nam là 96,7%, miền Trung 71,6%, miền Bắc là 41,1% [6], [7], [9].
Nam và nữ đều có thể mắc bệnh như nhau.
Sốt xuất huyết phát triển theo mùa rõ rệt, tính tần số mắc trung bình
hàng tháng trong 5 năm (1991-1995) cho thấy bệnh xảy ra quanh năm,
nhưng dịch thường bùng phát mạnh vào mùa mưa, từ tháng 6-10, đỉnh cao
của dịch thường vào tháng 7,8,9. Giám sát biến động mật độ muỗi Ae.
aegypti (là vec tơ chủ yếu) cho thấy sự tăng các ca bệnh trong mùa mưa
phù hợp với sự gia tăng mật độ muỗi Ae. aegypti. Thường mật độ muỗi Ae.
aegypti tăng trước tháng 6, sau đó dịch sốt xuất huyết phát triển mạnh.
Vùng ôn đới và những vùng núi cao thường không có bệnh do thời tiết khí
hậu lạnh, không phù hợp cho sự sinh sản, phát triển và hoạt động của muỗi
Ae. aegypti nên những nơi này thường không thấy xuất hiện sốt xuất huyết.
Loài muỗi này sống gần người, ở trong nhà. sự phân bố của Ae. aegypti
chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu, khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sự sinh
sản và phát triển của vec tơ truyền bệnh và dịch phát triển là: lượng mưa
trung bình từ 200 - 230 mm, nhiệt độ không khí trung bình 20 - 30 0C và
ẩm độ 80 - 90% [6], [7].
Bảng 1.5. So sánh tình hình sốt xuất huyết ở Việt nam từ 1998 đến
2005

Khu
vực


Mắc

Tử
vong

1.334

0

1.875

1

10

2004 (*)
Tử
Mắc
vong
1.447

0

2005
Mắc

Tử
vong



1

6.964

10

7.650

6

119.358

305

28.865

71

22.029

45

40.524

69

66.100

103


377

42.878

82

32.190

52

49.691

72

78.680

114

46.564

41

(*) Năm 1998 và 2004 là năm đỉnh cao dịch [1], [2], [11].
Năm 2007, số mắc SXH cả nước trong 9 tháng đầu năm là 75.233
trường hợp, (tỷ lệ mắc/100.000 dân là 90,05), trong đó có 64 trường hợp tử
vong, (tỷ lệ chết/mắc là 0,085%). So với cùng kỳ năm 2006, số mắc tăng
51%, tử vong tăng 45%. So với trung bình giai đoạn 1999 – 2006, số mắc
tăng 115%. So với năm 2004 là năm có số mắc cao, số mắc tăng 22% [4].
Từ năm 1999 đến nay, dự án phòng chống sốt xuất huyết quốc gia bắt

% chết/mắc

1983
1984
1985
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009


3,07
5,37
94,55
129,67
16,72
37,89
54,80
20,08
11,66
27,15
93,74
51,76
69,28
553,38
29,75
15,79
29,75
52,76
26,36
116,12
14,86
20,82
36,88
26,31
38,61

15
2
0
5

0,17
0,21
0,21
0,10
0
0,09
0,13
0,08
0,08
0,38
0
0,03
0,06
0,06
0,10
0,05
0
0
0
0,05
0,025

1,12
1,69
0
5,21
1,42
0,69
1,00
0,57


Ở Tây Nguyên, dịch không có quy luật thành chu kỳ rõ rệt, giữa các
dịch lớn này hàng năm bệnh xảy ra rải rác, dịch bệnh chỉ tập trung ở thành
phố và các thị xã, thị trấn huyện lỵ là những nơi tập trung đông dân nhất.
Những năm có dịch lớn ở Tây Nguyên thường trùng với các năm có dịch
trên toàn quốc, đặc biệt trùng với đỉnh dịch ở các tỉnh phía Nam. Địa phương
có số mắc cao là các thành phố, thị xã , cao nhất là Tp. Pleiku (Gia Lai), Tp.
Buôn Ma Thuột (tỉnh Đăk Lăk), là những nơi đông dân nhất.
Hiện nay, các yếu tố làm tăng sự lan tràn của bệnh như: đô thị hoá và
du lịch ngày một phát triển, cung cấp nước sạch còn rất nhiều tồn tại, di
dân xây dựng các vùng kinh tế mới, các vectơ kháng thuốc đang có xu
hướng gia tăng, hiểu biết của nhân dân về bệnh SXH chưa cao nên việc dự
phòng cho bản thân, gia đình và cộng đồng chưa được thực hiện thường
xuyên, triệt để.
1.5.

Bệnh SD/SXHD ở Gia Lai
Dịch xảy ra cũng không có quy luật chu kỳ rõ rệt.
Địa phương có số mắc cao nhất là Tp. Pleiku, Các huyện khác trong

tỉnh bệnh xảy ra lẻ tẻ, rải rác không thành dịch. Năm 1998 dịch phát triển
lan rộng ra 10/18 huyện, thành phố, toàn tỉnh có số mắc /100.000 dân từ
278,52 – 2174,35, dịch bệnh tập trung ở các thành phố và các thị trấn,
huyện lỵ là những nơi tập trung đông dân nhất, các trường hợp tử vong tập
trung chủ yếu ở Tp. Pleiku.
Đây là bệnh dịch lưu hành địa phương ở Việt Nam, khu vực Tây
Nguyên. Chưa có thuốc chữa đặc hiệu, chưa có vaccine dự phòng. Do vậy
tiếp tục nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học bệnh SD/SXHD nhằm góp
phần dự báo, định hướng và triển khai các biện pháp phòng chống thích
hợp, có hiệu quả cao là cần thiết.


- Giám sát vec tơ
2.2.1. Xác định ca bệnh: Dựa theo các tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm
của “Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt Dengue / Sốt xuất
huyết Dengue” của Bộ Y tế [1]:
SD: Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2 – 7 ngày, là một thể giống
như cúm, có thể biểu hiện da sung huyết, phát ban. Hematocrit bình
thường, tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm, ít gây tử vong.
SXHD:
• Về lâm sàng: (4 tiêu chuẩn)
- Sốt cao đột ngột, liên tục kéo dài 2 – 7 ngày.
- Xuất huyết: ít nhất phải có dấu hiệu dây thắt dương tính (Lacet (+)).
- Gan to.
- Choáng.
• Về xét nghiệm:
- Giảm tiểu cầu: Tiểu cầu ≤ 100.000 mm3
- Hiện tượng cô huyết: Hematocrit tăng 20% hoặc hơn.
2.2.2. Về phân độ lâm sàng: Dựa theo các tiêu chuẩn lâm sàng và xét
nghiệm của “Giám sát, chẩn đoán và iều trị bệnh sốt Dengue /
Sốt xuất huyết Dengue” của Bộ Y tế [1]:
Phân 4 độ:
- Độ I: Sốt cao đột ngột, kéo dài 2 – 7 ngày. Dây thắt dương tính (+)
hoặc dễ bầm tím da khi đụng dập nhẹ tay ở vùng tiêm.
- Độ II: Như độ I, kèm theo xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc

15


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa


2.3.

Xử lý thống kê số liệu:
Bằng phương pháp thống kê dịch tễ học thông thường.

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:
3.1.1. Số mắc và chết do SD/SXHD tại tỉnh Gia Lai năm 2010
Bảng 3.1. Số mắc và chết phân theo địa phương (Huyện, thành phố) tại
tỉnh Gia Lai năm 2010

TT
1
2
3
4
5
6
7

HUYỆN
Tp. Pleiku
Krông Pa
Mang Yang
Đức Cơ
Chư Prông
Chư Sê



Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Chư Pah
Kong chro
AyunPa
Kbang
An Khê
Đăc Đoa
Đăk Pơ
Ia Pa
Phú Thiện
Chư Puh
Cộng

10
42
64

0
2

Tỉnh Gia Lai năm 2010, 17/17 huyện/thị, thành phố có bệnh nhân. với
số mắc là 3565, mắc/100.000 dân là 274,78. Dịch tập trung chủ yếu ở thành
phố Pleiku: 2079 bệnh nhân, tỷ lệ mắc/100.000 dân: 970,7. Thị xã An Khê:
377 bệnh nhân, mắc/100.000 dân: 543,8. Huyện Kbang: 203 bệnh nhân,
mắc/100.000 dân: 319,8. Huyện Chư Pah có số mắc thấp nhất là 10 bệnh
nhân, mắc/100.00 dân: 15,1. Các huyện khác trong tỉnh có tỷ lệ
mắc/100.000 dân thay đổi từ 30,7 đến 274,6.
Tử vong 2 trường hợp, 1 bệnh nhân tại Tp. Pleiku, 1 bệnh nhân tại
Đức Cơ. Tỷ lệ chết/mắc 0,056%. Lý do tử vong do đến cơ sở y tế muộn.

18


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

3.1.2. Diễn biến dịch SD/SXHD theo tháng tại tỉnh Gia Lai năm 2010

Hình 1. Diễn biến dịch SD/SXHD theo tháng
Bệnh nhân được ghi nhận lẻ tẻ từ những tháng đầu năm, dịch xảy ra
từ tháng 5 đến tháng 11 (mùa mưa ở Tây Nguyên), đỉnh điểm của dịch vào
tháng 8, 9, tương ứng với các tháng có lượng mưa lớn và điều kiện thời tiết,
khí hậu thuận lợi cho sự sinh sản và phát triển của vec tơ truyền bệnh.

19


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

Phân độ lâm sàng
SD
SXHD I, II
SXHD III, IV
Tổng

Số mắc
2426
1127
12
3565

Tỷ lệ %
68,05
31,61
0,34
100

Hình 3. Phân độ lâm sàng
Theo số liệu báo cáo thống kê qua hệ thống giám sát của TTYTDP
tỉnh Gia Lai cho thấy trong 3565 trường hợp mắc có 2426 ca SD (68,05%),
1127 ca SXHD độ I, II (31,61%) và 12 ca mắc SXHD độ III, IV (0,34%).

3.1.4. Kết quả chẩn đoán huyết thanh học và phân lập virus
3.1.4.1. Chẩn đoán huyết thanh
Bảng 3.4. Kết quả xét nghiệm huyết thanh
Thời gian

Kỹ thuật


0
0
1
15
6
28
27
30
21
22
12
7
169

0
0
2
43
11
36
62
41
28
97
23
16
359

47,07


D4

97
97

22


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

Trong năm 2010 tại tỉnh Gia Lai lưu hành cả 4 type virus D1, D2, D3
và D4. Type Virus chiếm ưu thế là D4 với 31,7%, tiếp theo là D2 và D3
58,6% và D1 là 9,7%.

3.1.5. Kết quả điều tra muỗi Ae. aegypti, vectơ truyền bệnh.
Bảng 3.6. Sự biến đổi các chỉ số Ae. aegypti theo tháng tại tỉnh Gia Lai
năm 2010

Tháng

1

2

3

4

5


0,42 0,58 0,30

Nhà có
muỗi

8

12

6

8

14

10

18

18

20

20

12

Nhà có
bọ gậy


23


Luận văn tốt nghiệp Bác sỹ Y khoa

cụ có
BG
Breteau

10

8

6

4

8

16

22

28

32

34

20

6
7
8
9
10

Loại DCCN

Bể >500 lít
Bể
bọ gậy

Tỷ lệ
tập
trung(%)

2
1
1
0
7
1
8
0
6
5
31

2000
1000
200
0
980
70
1560
0
210
105
6125


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status