Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với lao động trẻ em tại thành phố hà nội - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ
NHÂN VĂN
--------------------------------------------

NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG

VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC
XÃ HỘI ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG TRẺ EM
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(Nghiên cứu tại Quận Ba Đình và Huyện
Thƣờng Tín)

TÓM TĂT LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Công tác xã hội

Hà Nội - 2014


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời gian qua, quá trình đổi mới đã mang lại kết quả rõ
rệt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng
cao, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển
biến tích cực từ nhận thức đến hoạch định chính sách và tổ chức thực
hiện. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, một
mặt mang lại nhiều cơ hội đưa đất nước theo kịp với khu vực và thế
giới, mặt khác cũng tạo ra môi trường có nhiều diễn biến phức tạp và
thách thức mới đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Tình hình lao động trẻ em ở nước ta đã và đang gây ra nhiều bức
xúc. Theo kết quả điều tra lao động trẻ em năm 2012, nước ta có

hợp. Đây cũng là lý do vì sao tôi chọn đề tài: “ Vai trò của nhân
viên công tác xã hội đối với lao động trẻ em tại Thành phố Hà
Nội (nghiên cứu tại quận Ba Đình và huyện Thường Tín)”.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Trên th giới
Lao động trẻ em đã trở thành chủ đề được thế giới quan tâm
trong nhiều năm qua, đặc biệt là Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và
đối với các chính phủ các nước. Trên thế giới có rất nhiều những
nghiên cứu đã được thực hiện; đồng thời cũng có nhiều dự án và
chương trình hành động cũng như các chiến dịch truyền thông đã
được phát động nhằm chia sẻ thông tin và giải quyết tình trạng lao
động trẻ em.
Tình trạng bóc lột sức lao động trẻ em đang diễn ra phổ biến
ở nhiều nước trên thế giới. Theo báo cáo của Bộ Lao động Nam Phi
công bố ngày 11/6/2008 ( năm nào), hiện nước này có hơn 4,8 triệu
lao động trẻ em từ 5 đến 17 tuổi. Mặc dù tại Nam Phi, việc sử dụng

2


trẻ em làm những công việc nguy hiểm và độc hại như pha trộn hoặc
phun thuốc trừ sâu, điều khiển các loại máy móc dễ xảy ra tai nạn,
máy móc có động cơ lớn và nặng hoặc làm việc trong những điều
kiện thời tiết khắc nghiệt, đều bị cấm.
Trẻ em thường làm việc trong điều kiện hà khắc như phải
vào trong các hầm sâu dưới lòng đất để khuân vác những thứ nhiều
khi còn nặng hơn cả trọng lượng cơ thể của các em. Trước thực trạng
lao động trẻ em, đặc biệt là những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất
hiện nay, ngày 8/5/2008, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã kêu gọi
cộng đồng thế giới hành động mạnh mẽ hơn nữa để tiếp tục giảm và tiến

hại, bị bỏ rơi.
Báo cáo “Điều đầu tiên trước hết trong lao động trẻ em: xoá
bỏ những công việc độc hại với trẻ em” do Tổ chức Lao động quốc
tế (ILO) phối hợp với quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) điều
tra năm 1999, “một thế giới phù hợp với trẻ em” được thực hiện năm
2001 dưới sự tài trợ của Quỹ bảo trợ nhi đồng Anh.
Ngoài ra, còn rất nhiều các đề tài, báo cáo nghiên cứu khác
đề cập đến vấn đề lao động trẻ em.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận
lao động trẻ em và bảo vệ lao động trẻ em, qua đó bổ sung và làm
phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá, các biện pháp can thiệp
,phòng ngừa và vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với lao động
trẻ em

4


3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài chỉ ra cách nhìn tổng quan về tình hình lao động trẻ
em, những nguy cơ và thách thức đối với các em khi làm việc ở
những môi trường độc hại, nguy hiểm và vai trò của nhân viên
CTXH trong hoạt động thực tiễn để giảm thiểu tình trạng này.
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Lao động trẻ em, các chính sách, cơ chế, luật pháp liên quan
đến lao động trẻ em và nhân viên xã hội đối với lao động trẻ em.
4.2 Khách thể nghiên cứu
Nhóm trẻ em lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội ( chọn
quận Ba Đình và huyện Thường Tín của Thành phố Hà Nội).

7. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tình hình lao động trẻ em tại thành phố Hà
Nội, đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm hạn chế tình trạng
lao động trẻ em hiện nay, trên cơ sở đó xác định vai trò của nhân
viên công tác xã hội trong việc phòng ngừa, giải quyết vấn đề lao
động trẻ em trên đại bàn thành phố Hà Nội.
7.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng lao động trẻ em đang diễn ra
tại quận Ba Đình và huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Nghiên
cứu xác định nguyên nhân và đánh giá các hệ quả của vấn đề lao
động trẻ em tới đời sống xã hội và đưa ra một số giải pháp phòng
ngừa. Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với lao động trẻ em.

6


8. Giả thuy t nghiên cứu
Lao động trẻ em trên địa bàn thành phố Hà nội là một vấn đề xã hội
bức xúc.
Nếu có sự hỗ trợ, can thiệp của nhân viên CTXH thì lao
động trẻ em trên địa bàn thành phố Hà Nội có cơ hội được trợ giúp
về tâm sinh lý, trợ giúp về chỗ ở, hồi gia, tiếp cận các dịch vụ giáo
dục, y tế và phúc lợi xã hội khác tốt hơn và tình trạng lao động trẻ
em sẽ có xu hướng giảm
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phƣơng pháp nghiên cứu thứ cấp:
Đây là phương pháp thu thập thông tin về lao động trẻ em từ
những nguồn đã có từ trước và đã được công bố rộng rãi như:
Nghiên cứu sử dụng tư liệu từ các công trình sau:

9.2.2 Khảo sát mẫu về lao động trẻ em
Đối tượng: Lao động trẻ em độ tuổi từ 10 đến dưới 16 tuổi tại
Quận Ba Đình và 02 xã Nhị Khê và Hiền Giang thuộc huyện Thường
Tín – TP Hà Nội.
Quy mô mẫu khảo sát: 100 em trong đó 40 em quận Ba Đình
và 60 em huyện Thường Tín
Phương pháp chọn mẫu: Tác giả sử dụng phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên, chọn mẫu thuận tiện.
9.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng: Cán bộ làm công tác Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc
phòng Lao động -TBXH Quận Ba Đình và huyện Thường Tín); địa
phương (Ủy ban nhân dân tỉnh/huyện/xã thuộc địa bàn quận Ba Đình và
huyện Thường Tín): 10 phiếu. Trẻ em lao động: 10 Phiếu
9.2.4. Phương pháp quan sát

8


Quan sát thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử
giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với chủ sử dụng lao động để biết được mối
quan hệ của trẻ với công việc, với chủ sử dụng lao động.
Quan sát công việc mà trẻ đang làm, các trang thiết bị, dụng
cụ làm việc để biết được môi trường và điều kiện làm việc của trẻ.
Quan sát thái độ, hành vi của chủ sử dụng lao động đối với
các em trong các hoạt động hằng ngày.
Quan sát thái độ, hành vi giữa cha mẹ - gia đình có trẻ em
lao động sớm với các em.
9.2.5. Phương pháp x l số liệu
Phương pháp xử lý số liệu thống kê: dùng phần mềm SPSS.


1.1.1.3 Khái niệm việc làm
Theo quy định của Bộ Luật lao động sửa đổi năm 2012 thì
mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều
được thừa nhận là việc làm. Vì trên thực tế có nhiều việc tạo ra thu
nhập nhưng không được coi là việc làm vì nó vi phạm pháp luật hoặc
không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, ví dụ như buôn bán
ma túy, hoạt động mại dâm...
1.1.1.4 Khái niệm lao động trẻ em
Lao động trẻ em là ám chỉ những người dưới 18 tuổi phải
làm những công việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm,
lao động trong điều kiện bị cưỡng bức, bóc lột sức lao động hoặc
làm quá nhiều thời gian so với độ tuổi của trẻ em; việc lao động này
gây ảnh hưởng tới việc phát triển về thể chất, tâm lý, tình cảm, nhận
thức,đạo đức và xã hội của trẻ em.

10


1.1.1.5 Phân biệt trẻ em tham gia lao động và lao động trẻ
em
Mặc dù chưa có sử dụng một định nghĩa thống nhất về lao
động trẻ em trên khía cạnh kĩ thuật, nhưng hầu hết các cách tiếp cận
đều thống nhất rằng tiêu chí chính để phân biệt giữa LĐTE và trẻ em
tham gia lao động chính là: (i) tính chất công việc dẫn đến việc ảnh
hưởng tiêu cực đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là về thể chất,
nhân cách đạo đức (ii) điều kiện lao động có nặng nhọc, độc hại,
nguy hiểm hay không (iii) thời gian làm việc có phù hợp với độ tuổi
hay không. Trên thực tế, trẻ em tham gia lao động là khái niệm để
chỉ sự tham gia không mang tính chất bóc lột của trẻ em vào các hoạt
động kinh tế, không gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em

con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng
cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh,
công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh
xã hội tiên tiến.
1.1.1.8. Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Theo quan niệm của hiệp hội công tác xã hội thế giới thì
Nhân viên công tác xã hội là là người làm việc chính trong lĩnh vực
công tác xã hội và được đào tạo cơ bản (trình độ cử nhân) về công
tác xã hội; nhưng đối với Việt Nam thi nhân viên công tác xã hội là
người làm việc chính trong lĩnh vực công tác xã hội và được đào tạo
cơ bản, đào tạo ngắn hạn hoặc được tập huấn nghiệp vụ về công tác
xã hội.

12


1.1.1.9. Khái niệm vai trò và vai trò nhân viên Công tác xã
hội
Từ khái niệm vài trò và khái niệm Công tác xã hội, tác giả
đưa ra cách hiểu về vai trò của công tác xã hội như sau: “Vai trò của
công tác xã hội là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và
nghĩa vụ gắn liền với vị thế của tổ chức của những người làm công
tác xã hội cũng như vị trí của hoạt động công tác xã hội trong đời sống
xã hội”.
1.2 Lý thuy t ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuy t vai trò xã hội
Ứng dụng thuyết vai trò trong nghiên cứu:
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, tác giả nhận
thấy cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ
em và chăm sóc trẻ em, các cơ quan ban nghành đoàn thể, gia đình

phương, là một vấn đề ưu tiên trong mọi chính sách và chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật, công tác
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã từng bước được hoàn
thiện. Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em được tăng cường. Công tác bảo vệ, xây dựng môi trường sống an
toàn và lành mạnh cho trẻ em được chú trọng, đời sống văn hóa, tinh
thần, vui chơi, giải trí, phúc lợi xã hội và các quyền dành cho trẻ em
ngày càng được bảo đảm.

CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(Nghiên cứu trƣờng hợp tại quận Ba Đình và huyện Thƣờng Tín)

14


2.1 Thực trạng về lao động trẻ em
2.1.1. Tình hình bi n động về lao động trẻ em giai đoạn
2005 đ n nay
Theo báo cáo của các địa phương thì số trẻ em lao động trong
điều kiện nặng nhọc độc hại và nguy hiểm nhóm dưới 16 tuổi chỉ dao
động trong khoảng 68 nghìn (2005) đến 30,080 nghìn (2012) nhưng trên
thực tế con số này có thể còn cao hơn nhiều; Hà Nội – Ước tính 9,6%
dân số trẻ em trong độ tuổi từ 5 đến 17 ở Việt Nam là lao động trẻ
em. Đây là một trong những kết quả chính từ cuộc Điều tra Quốc gia
về Lao động trẻ em được công bố tại Hà Nội ngày 14/3. Tỷ lệ lao
động trẻ em tại Việt Nam thấp hơn tỷ lệ trung bình của toàn thế giới
và rất gần tỷ lệ của khu vực. Báo cáo mới nhất của ILO về Xu hướng
Lao động trẻ em toàn cầu ước tính trong năm 2012, khoảng 168 triệu
trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 17 là lao động trẻ em trên toàn thế giới, chiếm

nơi đây toàn diện, hầu hết đều đi học và biết chữ.
Tóm lại, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ em bỏ
học để tham gia lao động tại huyện Thường Tín gồm: phải tham gia
lao động giúp việc cho cha mẹ, không có tiền đi học, học lực yếu, ốm
đau, bệnh tật và có cả nguyên nhân do cha mẹ bắt nghỉ học.
2.1.2.2. Môi trường sống hiện tại của lao động trẻ em
Đa phần trẻ em lao động sống trong những hộ gia đình có
hoàn cảnh kinh tế khó khăn, điều kiện sống nghèo nàn, không đảm
bảo cho sự phát triển bình thường của trẻ. Trong hộ gia đình có lao
động trẻ em, do kinh tế nghèo nàn nên nhiều bậc cha mẹ không thể lo
được cho con cái các điều kiện sinh sống tối thiếu, các em phải sinh
sống trong các ngôi nhà ở tạm bợ, không có các công trình vệ sinh,

16


không có/thiếu nước sạch. Trong khi đó, tại huyện Thường Tín tác
giả nhận thấy chủ sử dụng lao động trong các làng nghề chưa trang
bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ làm việc cho các em, dẫn đến trẻ em lao
động ở đây đang phải đối diện với nhiều nguy cơ đe dọa về sức khỏe
như: điếc tai do phải làm việc gò, hàn, xì trong môi trường tiếng
động lớn hàng giờ liền, các bệnh về mắt và phổi do hít phải khí than
và chất tẩy, đánh bóng đồ mỹ nghệ và các bệnh về xương khớp do
phải ngồi lâu quá nhiều nên các em hay mắc các bệnh ngoài da do
nhiều khi mất nước mà thời tiết nóng nực không được tắm, mệt quá
cũng mặc kệ và cứ thế ăn rồi lăn ra ngù do làm việc cả ngày đã quá
mệt mỏi rồi.
2.1.2.3 Thời gian làm việc của trẻ em lao động
Kết quả điều tra 40 lao động trẻ em ở tại quận Ba Đình và 60
lao động trẻ em huyện Thường Tín về thời giờ lao động của lao động

.
2.2 Nguyên nhân dẫn đ n lao động trẻ em
Trong quá trình khảo sát tại 02 địa bàn nghiên cứu là phường
Phúc Xá – Ba Đình và 02 xã Nhị Khê và Hiền Giang thuộc huyện
Thường Tín cho thấy có rất nhiều yếu tố dẫn đến lao động trẻ em,
mỗi yếu tố có vai trò và mức độ tác động khác nhau trong những
hoàn cảnh khác nhau. tất cả những yếu tố bên trong đều có thể trực
tiếp hay gián tiếp, ở mức độ này hay mức độ khác, đẩy trẻ em trong
các gia đình này vào vòng xoáy của lao động trẻ em. Về những
nguyên nhân bên ngoài, lao động trẻ em có tính phổ biến trong các
gia đình lao động nhập cư hoặc các dân tộc thiểu số. Đây là các
nhóm thường khó tiếp cận với dịch vụ xã hội một cách bình đẳng
(trong các tài liệu nước ngoài thường gọi là nhóm bị gạt ra bên lề xã
hội) và sống dưới mức nghèo khổ. Một yếu tố khác đó là những tham

18


vọng vật chất của bản thân trẻ em và của gia đình các em. Một
nguyên nhân “bên ngoài” khác nêu ở bảng trên là sự khủng hoảng về
kinh tế, chính trị hay xã hội. Điều này tác động trực tiếp đến các gia
đình nghèo, buộc các gia đình đó phải huy động mọi thành viên, kể
cả trẻ em, tham gia làm việc để duy trì cuộc sống. Cuối cùng,
HIV/AIDS cũng là một yếu tố bên ngoài ảnh hưởng lớn đến tình
hình lao động trẻ em, bởi đại dịch này tác động tiêu cực và trực tiếp
đến các cộng đồng, gia đình và bản thân nhiều trẻ em. Trên thực tế còn
nhiều nguyên nhân khác, song đa phần trẻ em lao động tại Hà Nội vẫn
xuất phát từ nguyên nhân kinh tế, nhận thức, học vấn của cha mẹ thấp
và sự cộng hưởng của nguyên nhân trẻ em học kém, chán học, bỏ học.
2.3. Các loại hình lao động trẻ em

làm việc được trả công tại huyện Thường Tín ở độ tuổi từ 14 đến 16,
số còn lại từ 12 đến 13 tuổi. Phần lớn trẻ em làm việc tại huyện
Thường Tín đã bỏ học kiếm sống.. Trẻ em lao động ở đây thường
mắc các bệnh phổi và bệnh ngoài da, nhiều trẻ em còn bị đau lưng do
phải ngồi lâu.
2.3.4 Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình
Làm thuê giúp việc gia đình thường là các em gái, trong khi
các em trai có xu hướng được sử dụng để phụ giúp chủ tại cửa hàng.
Phần lớn trẻ làm thuê giúp việc gia đình có nguồn gốc từ ngoài TP.
Hà Nội không đăng ký tạm trú với cơ quan có thẩm quyền địa
phương. Điều kiện không giấy tờ có thể khiến trẻ rơi vào các hoàn
cảnh dễ tổn thương và bị ngược đãi, bạo lực và xâm hại. Về chăm
sóc y tế, các bệnh thường gặp ở trẻ giúp việc gia đình là bệnh hô hấp,
đau đầu sốt, đau lưng và thương tật như sứt, đứt, bỏng, trẻ giúp việc

20


gia đình cho biết đã ít nhất một lần chúng vẫn phải làm việc khi đang
ốm và bị đau hoặc ốm khi đang làm việc mà không được chăm sóc
2.4 Những rủi ro mà lao động trẻ em gặp phải
Lao động trẻ em tại 02 địa bàn nghiên cứu là xã Nhị Khê và
Hiền Giang thuộc huyện Thường Tín và phường Phúc Xá – Ba Đình
thường gắn với nhiều nguy cơ rủi ro như bị ngược đãi, bạo lực, bị xâm
hại tình dục, bị bóc lột sức lao động. Lao động trẻ em cũng thường gắn
với rủi ro là mắc tệ nạn xã hội như nghiện ma túy, mại dâm,
HIV/AIDS, cờ bạc, hút thuốc, nghiện rược, tình trạng cá lớn nuốt cá
bé trong một xã hội mà người ta thường nói là “xã hội đen thu nhỏ”
chỉ có những người sống trong môi trường đó họ mới hiểu, họ luôn
gặp nhiều áp lực bất công trong cuộc sống, những lại bị ràng buộc

Vai trò của CTXH đang được thể hiện ẩn ở các tổ chức, ban
ngành, các hội, đoàn thể… tại mỗi địa phương. Họ chưa được đào
tạo bài bản, chuyên nghiệp như một nhân viên CTXH thực thụ nhưng
họ đã làm những công việc mà một nhân viên CTXH sẽ và phải làm.
Dưới đây là các hoạt động trợ giúp của các hội được coi như vai trò
của chính nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp đối tượng lao
động trẻ em được nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội đặc biệt
là 2 huyện Thường Tín và quận Ba Đình. Các nhân viên công tác xã
hội chuyện nghiệp và bán chuyên nghiệp trực tiếp phụ trách vấn đề
trẻ em hoặc kiêm nhiệm vấn đề trẻ em đã thực hiện tốt các vai trò
sau:

22


3.1. Vai trò truyền thông, vận động xã hội
Qua quá trình nghiên cứu tại thành phố Hà Nội (quận Ba
Đình và huyện Thường Tín), nhân viên CTXH phối hợp với hội phụ
nữ của quận, huyện và các xã trong vấn đề truyền thông, giáo dục,
vận động xã hội để trợ giúp các đối tượng trẻ em yếu thế.
Với mục tiêu: 90% gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội
và trẻ em được nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về bảo vệ trẻ
em. Hội phụ nữ phối hợp với nhân viên CTXH và các hội, đoàn thể
từ cấp huyện đến các xã đã triển khai, thực hiện đồng loạt các hành
động thiết thực trong trợ giúp các đối tượng trẻ em nói chung và lao
động trẻ em nói riêng. Xây dựng, phát triển các chương trình truyền
thông trên các kênh thông tin đại chúng đặc biệt là đài truyền thông
các xã, phường, thị trấn; nhân bản các sản phẩm truyền thông về bảo
vệ trẻ em làm tài liệu tuyên truyền nhằm thay đổi hành vi của gia
đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và trẻ em về bảo vệ trẻ em, bảo

đồng, kỹ năng tự bảo vệ mình khỏi bị ngược đãi, xâm hại, bóc lột; kỹ
năng tham gia các hoạt động xã hội ở cộng đồng cho trẻ em lang
thang, lao động trẻ em, lao động trong điều kiện nặng nhọc nguy
hiểm, tiếp xúc với chất độc hại và nhóm có nguy cơ cao.
Tổ chức các hoạt động tham vấn, tư vấn tại gia đình để vận
động trẻ em lang thang hồi gia; trợ giúp trẻ em về đời sống lúc khó
khăn, trợ giúp trẻ em hồi gia, trợ giúp tiếp cận giáo dục nếu bỏ học
hoặc có nguy cơ bỏ học, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe khi cần thiết.
Nhân viên công tác xã hội phối hợp với các đoàn thể quận
Ba Đình và huyện Thường Tín hỗ trợ các cơ sở nhận đào tạo và sử
dụng lao động là trẻ em lang thang hồi gia, trẻ em lao động sớm, lao
động nặng nhọc nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, nhóm có nguy

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status