ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
Đỗ THị VÂN
VAI TRò CủA NHÂN VIÊN CÔNG TáC Xã HộI
ĐốI VớI PHụ Nữ Bị BạO LựC GIA ĐìNH
(Nghiên cứu tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)
LUN VN THC S
CHUYấN NGNH CễNG TC X HI
H Ni 2014
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
Đỗ THị VÂN
VAI TRò CủA NHÂN VIÊN CÔNG TáC Xã HộI
ĐốI VớI PHụ Nữ Bị BạO LựC GIA ĐìNH
(Nghiên cứu tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Ngi hng dn khoa hc
Ch tich hi ng
Đỗ Thị Vân
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thật sự của cá
nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS
Phạm Văn Quyết.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình
nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2014
Học viên thực hiện luận văn
Đỗ Thị Vân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 6
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ............................................................ 7
3. Ý nghĩa của nghiên cứu ......................................................................... 16
3.1. Ý nghĩa lý luận .................................................................................. 16
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................... 16
4. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ................................. 17
4.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................ 17
4.2. Khách thể nghiên cứu ........................................................................ 17
5. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 17
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................... 17
6.1. Mục đích nghiên cứu ......................................................................... 17
2.2.3. Nhóm nguyên nhân từ cá nhân ....................................................... 45
2.3. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với ngƣời phụ nữ tại huyện
Vụ Bản ........................................................................................................ 46
2.3.1. Hậu quả đối với nạn nhân .............................................................. 46
2.3.2. Hậu quả đối với gia đình ................................................................ 47
2.3.3. Hậu quả đối với cộng đồng và xã hội ............................................ 48
Chƣơng 3. NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI BÁN CHUYÊN
NGHIỆP TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA
ĐÌNH TẠI HUYỆN VỤ BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH .................................... 49
3.1. Vai trò tham vấn, tƣ vấn .................................................................... 49
3.2. Vai trò truyền thông giáo dục việc phòng, chống bạo lực gia đình ... 53
3.3. Vai trò hoà giải .................................................................................... 57
2
3.4. Vai trò trợ giúp pháp lý ..................................................................... 67
3.5. Vai trò biện hộ ..................................................................................... 70
3.6. Ngƣời kết nối nguồn lực ..................................................................... 73
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 83
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 87
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn và
nhân cách của mỗi người, là nơi con người tìm thấy sự bình yên và an toàn
khi ở đó. Tuy nhiên trong thực tế đối với không ít người thì gia đình lại là
“địa ngục”, là nỗi đau bởi các cuộc bạo lực đang diễn ra. Bạo lực trong gia
đình không những làm tổn hại đến sức khoẻ, thể xác cho nạn nhân mà còn
làm tổn thương về mặt tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả những
người xung quanh và gây ra nhiều hậu quả cho xã hội.
Bạo lực gia đình là một hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu, vượt
qua ranh giới về khu vực, văn hoá, thu nhập, mức sống, tuổi tác, địa vị xã
hội… nó diễn ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Bạo
lực gia đình xảy ra dưới rất nhiều các hình thức khác nhau: Bạo lực thể chất
(các hành vi đánh đập, chửi mắng…), bạo lực tinh thần (tấn công bằng lời nói,
đập phá tài sản, kiểm soát kinh tế, cô lập nạn nhân, kiểm soát quyền sinh sản,
ngoại tình, ...), bạo lực tình dục (cưỡng đoạt tình dục). Dù có tồn tại dưới hình
thức nào thì bạo lực gia đình đều để lại những hậu quả hết sức nặng nề, đã,
đang và sẽ là nỗi đau, nỗi lo ngại của không ít gia đình, của mỗi quốc gia, của
cộng đồng quốc tế. Hiện nay bạo lực gia đình ngày càng gia tăng với mức độ
phức tạp, dưới nhiều hình thức khác nhau, với nhiều đối tượng trong đó điển
hình phải kể đến tình trạng bạo lực đối với phụ nữ. Bạo lực gia đình đã kéo
theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống đạo đức, đây cũng là một
thực tế đáng lo ngại cần có sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội, đặc biệt là
những người trợ giúp như nhân viên công tác xã hội.
Trên địa bàn huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, vấn đề bạo lực gia đình
đang là hiện tượng xảy ra nhiều, nhất là bạo lực đối với phụ nữ. Sự gia tăng
một cách tiếp cận đa ngành để giải quyết triệt để.
Trong các điều tra dân số từ 48 nước trên thế giới, 10 - 69% phụ nữ cho
biết họ đã trải qua một số bạo lực thân thể bởi một người bạn tình của họ
7
trong đời. Trong bốn phụ nữ thì có một phụ nữ bị bạo lực tình dục bởi bạn
tình của họ trong đời (Heise. L.,Ellberg, M.& Gottemoeller, M. (1999) Chấm
dứt bạo lực đối với phụ nữ).
Theo các nghiên cứu diện rộng, khoảng 10-15% phụ nữ trên thế giới bị
chồng gây ra bạo lực thể xác trong suốt cuộc đời họ (Tờ Sự thật của Tổ chức
Y tế Thế giới, Số 239, tháng 6, 2000).
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là nguyên nhân thứ 10 trong các
nguyên nhân hàng đầu gây ra cái chết cho phụ nữ từ độ tuổi 15 đến 44 trong
năm 1998 (WHO).
Ở Việt Nam, theo các số liệu thống kê của một số ban ngành liên quan
và kết quả của các nghiên cứu điểm cũng cho phép phác họa bức tranh chung
của vấn đề bạo lực gia đình. Nhìn mặt bằng chung của cả nước, đang có
những con số báo động: Theo khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước, do
Uỷ ban Các vấn đề xã hội phối hợp với một số viện nghiên cứu tiến hành
trong 6 tháng đầu năm 2006, cho thấy: Hàng năm 2,3% gia đình có hành vi
bạo lực về thể chất (đánh đập), 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần,
30% cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.
Cho đến năm 2010 đã có nghiên cứu trên phạm vi quốc gia về tình
trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã làm bức tranh toàn cảnh về vấn đề
này. Nhu cầu cần có thêm những bằng chứng mạnh mẽ là rất thiết thực để
giúp đưa ra các đề xuất về chính sách và là cơ sở dữ liệu ban đầu để đo lường
hiệu quả việc thực thi Luật phòng, chống bạo lực gia đình, các chiến lược và
các chương trình có liên quan trong tương lai.
Kết quả nghiên cứu Quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại
phụ nữ trong gia đình và trong sự phát triển đất nước. Ngay sau khi cách
mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến
vấn đề giải phóng phụ nữ, xoá bỏ những tàn tích phong kiến như cưỡng ép
hôn nhân, trọng nam khinh nữ, đánh đập vợ, những vấn đề đó đã được đề cập
9
đến trong Điều 9 Hiến pháp Việt Nam năm 1946 “ Đàn bà ngang quyền đàn
ông về mọi phương diện” hoặc được quy định trong Điều 3 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1959 như “Cấm đánh đập, ngược đãi vợ”. Tuy nhiên nạn bạo
lực gia đình đối với phụ nữ vẫn tiếp tục tồn tại dai dẳng trong xã hội Việt
Nam. Đây là một vấn đề đáng lo ngại đã và đang được quan tâm nghiên cứu,
giải quyết, trong những năm gần đây, đã có nhiều khoá tập huấn, không ít
cuộc hội thảo và những công trình nghiên cứu công phu về chủ đề “Bạo lực
giới”, “Bạo lực trong gia đình” và kết quả cho thấy bạo lực trong gia đình đối
với phụ nữ là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam.
Bài viết “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới”của Lê
Thị Quý đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ số 4/2000 dựa trên cơ sở thu
thập phân tích một số tài liệu kết hợp với việc điều tra xã hội học năm 1998
tại xã C.N (Từ Liêm, Hà Nội) và các mối quan hệ trong gia đình của nhóm
nghiên cứu Giới (khoa Xã hội học, phân viện báo chí tuyên truyền, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Bài viết cung cấp một số thông tin phân tích
về phía khía cạnh bạo lực gia đình, một biểu hiện bất bình đẳng giới. Bài viết
cụ thể như sau:
Trong phần “Tình trạng bạo lực gia đình, bất bình đẳng giới và cách nhìn
nhận”, nhận định, những năm gần đây, hiện tượng bạo lực gia đình ở nước ta
đã được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo
thống kê chưa đầy đủ của Toà án Nhân dân tối cao tại 18 tỉnh và thành phố,
trong 8 năm gần đây nhất, tại các địa phương này đã xảy ra 11.630 vụ bạo lực
ơ lãnh đạm “chiến tranh lạnh là khá phổ biến: 54,4% ở các mức độ khác nhau.
Tiếp theo là bạo lực về lời nói như lăng mạ hoặc chửi bới xảy ra ở 20% hộ gia
đình. Tỷ lệ hộ gia đinh có các hình thức bạo lực khác nhau như đe doạ, đánh
đập hoặc ném đồ vật là 4,3%, đập phá đồ đạc 2,1%, đuổi ra khỏi nhà 1,6%.
những hành vi bạo lực mang tính ngược đãi về thân thể như đánh, tát xô ngã ở
5,5% số hộ gia đình.
11
Một nghiên cứu khác ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ cho thấy có
87% số người được hỏi nói rằng ở xóm, thôn, nơi họ sinh sống có hiện tượng
bạo lực gia đình. Về bạo lực tinh thần có 94,4% người chồng chửi mắng vợ.
Ngược lại, cứ có 3 người vợ thì có có 1 người chửi mắng chồng. Về bạo lực thể
chất: 54,4% số người được hỏi cho rằng hiện tượng chồng đánh vợ và 8,9% số
người được hỏi cho biết có hiện tượng vợ đánh chồng (Hoàng Bá Thịnh, 2002).
Nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” của Vũ Mạnh Lợi và đồng
nghiệp, 1999) cho thấy hiện tượng ngược đãi về lời nói xảy ra trong khoảng
20% gia đình và bạo lực thân thể xảy ra trong khoảng 10% gia đình ở thành
phố Hồ Chí Minh. Ở Miền trung, khoảng 50% người chồng có hành vi ngược
đãi về lời nói đối với vợ, tỷ lệ này ở thành phố Hà Nội là 10%. Có tới 75%
người chồng trong tổng số mẫu nghiên cứu có hành vi ngược đãi về tình cảm
đối với người vợ và trung bình có tới 30% phụ nữ bị đánh đập, lạm dụng,
cưỡng bức theo nhiều hình thức, phần lớn là do những người quen biết, chồng
và những người thân trong gia đình. Trong đó, có 15% phụ nữ bị chồng đánh,
gần 80% bị chồng mắng chửi, hơn 70% bị chồng bỏ mặc, gần 10% bị chồng
cấm đoán quan hệ và gần 20% bị chồng cưỡng ép quan hệ tình dục.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng trong những năm gần đây mặc dù chất
lượng cuộc sống ngày càng được cải thiện, các quyền cơ bản của con nguời được
tôn trọng hơn nhưng bạo lực gia đình có xu hướng gia tăng (Vũ Mạnh Lợi và
chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ”.
Lê Thị Quý, Đặng vũ Cảnh Linh (2007) trong nghiên cứu “Bạo lực gia
đình - một sự sai lệch giá trị” đã trình bày những lý luận và phương pháp luận
về bạo lực trong gia đình nêu lên những bài học kinh nghiệm của Việt Nam
trong công tác phòng chống bạo lực gia đình.
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009) trong nghiên cứu “Bạo
lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên
nhân” đã nêu những vấn đề nhận diện bạo lực gia đình và cơ sở pháp lí phòng
13
chống bạo lực gia đình, mức độ phổ biến phổ biến của bạo lực gia đình và các
yếu tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng bạo lực gia đình, hậu quả và môi
trường nảy sinh bạo lực gia đình, các yếu tố thúc đẩy và hạn chế các hành vi
bạo lực.
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ
nữ và trẻ em Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu, đề
xuất các giải pháp khả thi để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em
hiện nay ở Việt nam.
Từ năm 2006 hết năm 2011, qua kết quả nghiên cứu của Bộ Văn hoá –
Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện gia đình và giới thì có 21,2 %
các cặp vợ chồng có trải qua hình thức bạo lực từ chửi mắng, nhục mạ, buộc
quan hệ tình dục khi không có nhu cầu. Cứ 05 cặp vợ chồng thì có 01 cặp
từng xảy ra bạo lực dưới mọi hình thức. Tình trạng Bạo lực gia đình những
năm gần đây đang diễn ra với tính chất ngày càng nghiêm trọng, đối tượng vi
phạm cùng với số nạn nhân gia tăng ở khắp các vùng miền trong cả nước. Bạo
lực gia đình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương về thể xác và
tâm lý của nạn nhân; tốn kém tiền của do chi phí khám và điều trị bệnh tật.
Không những thế, trong thời gian điều trị bệnh nạn nhân không những phải
bạo lực gia đình có hiệu quả tại các địa phương như là các hoạt động tương
trợ nhóm phụ nữ là nạn nhân của bạo lực; bênh vực quyền lợi cho chị em và
hướng tới sự bình đẳng. Qua đó, nâng cao nhận thức của người dân về phạm
vi của vấn đề, để từ đó xã hội có những hành động cấp bách để ngăn ngừa và
đối phó với vấn đề bạo lực đối với phụ nữ.
Mặc dù đã có không ít cảnh báo của nhiều nhà nghiên cứu về những
hậu quả trước mắt cũng như lâu dài của bạo lực đối với đời sống tinh thần và
thể chất của người phụ nữ, nhưng công tác phòng chống nạn bạo lực trong gia
đình vẫn thiếu tính đồng bộ và triệt để. Trong bối cảnh chung đó, kế thừa các
giá trị của những công trình nghiên cứu khoa học về trợ giúp nạn nhân bị bạo
15
lực, tôi lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân viên Công tác xã hội đối với phụ nữ
bị bạo lực gia đình” (Nghiên cứu tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định) là vấn đề
nghiên cứu có tính mới của đề tài là việc nghiên cứu vai trò của nhân viên
công tác xã hội - một lĩnh vực còn mới mẻ tại Việt Nam - lĩnh vực vai trò của
nhân viên công tác xã hội trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
3. Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa lý luận
Việc vận dụng các kiến thức xã hội vào nghiên cưú chủ đề trên sẽ góp
phần làm phong phú thêm lý thuyết của ngành khoa học xã hội nói chung và
công tác xã hội nói riêng.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ một số lý thuyết Công tác
xã hội: Lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết nhu cầu, lý thuyết vai trò, vị thế
xã hội.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu góp phần đưa ra một bức tranh rõ nét hơn về vấn đề bạo
lực đối với phụ nữ trong gia đình ở một lĩnh vực mới - lĩnh vực công tác xã
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp nạn nhân bị
bạo lực gia đình là người phụ nữ.
Một vài khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã
hội trong công tác trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
6.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng, các hình thức bạo lực gia đình đối với phụ nữ và
phân tích những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Tìm hiểu và phân tích những hậu quả bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ
bị bạo lực gia đình.
Một số kết luận nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội
trong công tác trợ giúp nhằm giảm hậu quả cho nạn nhân bị bạo lực, giúp
phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
17
7. Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất, thực trạng bạo lực gia đình tại huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định
đang diễn ra như thế nào?
Thứ hai, hậu quả của nạn nhân bị bạo lực gia đình và ảnh hưởng đến
đời sống hàng ngày như thế nào?
Thứ ba, Vai trò nhân viên CTXH trong việc trợ giúp người phụ nữ bị
bạo lực gia đình được thực hiện như thế nào? Thuận lợi, khó khăn và trở ngại
trong việc trợ giúp nạn nhân?
8. Giả thuyết nghiên cứu
Các hình thức bạo lực đối với người phụ nữ trong gia đình rất đa dạng.
Phụ nữ bị bạo lực gia đình xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau
như văn hóa , xã hội, phong tục tập quán, kinh tế, lạm dụng rượu bia, trình độ
học vấn…
Phụ nữ bị bạo lực gia đình để lại những hậu quả nặng nề nhưng người phụ
nhân viên công tác xã hội tập trung phỏng vấn sâu các cá nhân để thu thập
thông tin. Việc chọn người để phỏng vấn có chủ định, đó là những người có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
9.3. Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu
để nắm bắt được một số thông tin sơ bộ tại địa bàn nghiên cứu.
Thông qua quá trình quan sát trực tiếp để thu thập thông tin cần thiết
liên quan đến đề tài, những hành động, biểu hiện bên ngoài của người phụ nữ
bị bạo lực, những biểu hiện và nhu cầu được trợ giúp khỏi nạn bạo lực trong
gia đình, nắm bắt được thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa
người gây ra bạo lực và nạn nhân bị bạo lực, giữa người phụ nữ bị bạo lực với
cán bộ. Qua đó đánh giá sự trợ giúp của cán bộ, nhân viên với vai trò là
những nhân viên công tác xã hội để từ đó có những biện pháp trợ giúp nạn
nhân là người phụ nữ bị bạo lực gia đình.
19
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Gia đình
Theo Điều 8 “Luật hôn nhân và gia đình” của Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI (ký họp thứ 7, ngày 09/06/2000: “Gia
đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa
họ với nhau”.
Các nhà xã hội học coi gia đình là đơn vị cở sở của tổ chức xã hội
nhưng thuật ngữ này được hiểu theo nhiều cách khác nhau như: Gia đình là
một nhóm mà các quan hệ của nó đối với nhau đều dựa vào cùng một huyết
những loại thường được nhắc đến nhiều hơn cả đó là bạo lực về thân thể (bạo
lực thể chất) và bạo lực tinh thần (tình cảm,tâm lý)…bạo lực tình dục, bạo lực
kinh tế.
Có thể phân chia bạo lực gia đình thành bốn loại sau:
Thứ nhất, bạo lực thể chất: Bao gồm hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh
đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng.
Thứ hai, bạo lực tinh thần: Bao gồm các hành vi lăng mạ hoặc hành vi
cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực
thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ngăn cản việc thực
hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu, giữa cha,
mẹ và con, giữa vợ và chồng, giữa anh, chị, em với nhau, hành vi trái pháp
luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết
hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Thứ ba, bạo lực kinh tế hay lao động: Bao gồm chiếm đoạt, huỷ hoại,
đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên
khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình hay cưỡng
21