ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
Đỗ THị VÂN
VAI TRò CủA NHÂN VIÊN CÔNG TáC Xã HộI
ĐốI VớI PHụ Nữ Bị BạO LựC GIA ĐìNH
(Nghiên cứu tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định)
TểM TT LUN VN THC S
CHUYấN NGNH CễNG TC X HI
Hà Nội - 2014
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách
của mỗi người, là nơi con người tìm thấy sự bình yên và an toàn khi ở đó. Tuy nhiên
trong thực tế đối với không ít người thì gia đình lại là “địa ngục”, là nỗi đau bởi các cuộc
bạo lực đang diễn ra. Bạo lực trong gia đình không những làm tổn hại đến sức khoẻ, thể
xác cho nạn nhân mà còn làm tổn thương về mặt tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống của
tất cả những người xung quanh và gây ra nhiều hậu quả cho xã hội.
Bạo lực gia đình là một hiện tượng phổ biến mang tính toàn cầu, vượt qua ranh
giới về khu vực, văn hoá, thu nhập, mức sống, tuổi tác, địa vị xã hội… nó diễn ra ở cả
các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Bạo lực gia đình xảy ra dưới rất
nhiều các hình thức khác nhau: Bạo lực thể chất (các hành vi đánh đập, chửi
mắng…), bạo lực tinh thần (tấn công bằng lời nói, đập phá tài sản, kiểm soát kinh tế,
cô lập nạn nhân, kiểm soát quyền sinh sản, ngoại tình, ...), bạo lực tình dục (cưỡng
đoạt tình dục). Dù có tồn tại dưới hình thức nào thì bạo lực gia đình đều để lại những
hậu quả hết sức nặng nề, đã, đang và sẽ là nỗi đau, nỗi lo ngại của không ít gia đình,
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã khẳng định mọi nguời sinh ra đều có
quyền bình đẳng về phẩm giá và các quyền, cả nam và nữ đều bình đẳng với nhau. Bất kỳ
một hành vi bạo lực nào đối với phụ nữ đều vi phạm nhân quyền. Nhưng trên thực tế, bạo
lực đối với phụ nữ dưới nhiều hình thức đã và đang xảy ra ở mọi cộng đồng, mọi quốc gia
trên thế giới bất kể sự khác biệt về giai cấp, chủng tộc, tôn giáo. Bạo lực đối với phụ nữ
không chỉ là vấn đề một quốc gia hay khu vực mà nó là một vấn đề mang tính chất toàn
cầu.
Bài viết “Bạo lực gia đình - Bất bình đẳng trong quan hệ giới”của Lê Thị Quý đăng
trên tạp chí Khoa học về phụ nữ số 4/2000 dựa trên cơ sở thu thập phân tích một số tài liệu
kết hợp với việc điều tra xã hội học năm 1998 tại xã C.N (Từ Liêm, Hà Nội) và các mối
quan hệ trong gia đình của nhóm nghiên cứu Giới (khoa Xã hội học, phân viện báo chí
tuyên truyền, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Bài viết cung cấp một số thông
tin phân tích về phía khía cạnh bạo lực gia đình, một biểu hiện bất bình đẳng giới
Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đưa ra con số đáng lo ngại: Tỷ lệ
của phụ nữ là nạn nhân của bạo lực gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau chiếm từ 40
đến 80% số người được phỏng vấn. Những thiệt hại về thể chất và tinh thần do bạo lực gia
đình gây ra đối với nạn nhân là vô cùng nghiêm trọng.
Nghiên cứu của Vũ Tuấn Huy (2003) ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ cho
thấy trong vòng 12 tháng trước thời điểm điều tra, có 79% hộ gia đình xảy ra ít nhất một
lần về một loại hành vi bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình. Các hộ gia đình được
điều tra, hình thức bạo lực về tình cảm như thờ ơ lãnh đạm “chiến tranh lạnh là khá phổ
biến: 54,4% ở các mức độ khác nhau. Tiếp theo là bạo lực về lời nói như lăng mạ hoặc
chửi bới xảy ra ở 20% hộ gia đình. Tỷ lệ hộ gia đinh có các hình thức bạo lực khác nhau
như đe doạ, đánh đập hoặc ném đồ vật là 4,3%, đập phá đồ đạc 2,1%, đuổi ra khỏi nhà
1,6%. những hành vi bạo lực mang tính ngược đãi về thân thể như đánh, tát xô ngã ở 5,5%
số hộ gia đình.
2
Một nghiên cứu khác ở một xã nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ cho thấy có 87% số
đình nêu lên những bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong công tác phòng chống bạo
lực gia đình.
Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (2009) trong nghiên cứu “Bạo lực gia đình
đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân” đã nêu những vấn đề
3
nhận diện bạo lực gia đình và cơ sở pháp lí phòng chống bạo lực gia đình, mức độ phổ
biến phổ biến của bạo lực gia đình và các yếu tố ảnh hưởng, phân tích thực trạng bạo lực
gia đình, hậu quả và môi trường nảy sinh bạo lực gia đình, các yếu tố thúc đẩy và hạn chế
các hành vi bạo lực.
Trong nghiên cứu “Các giải pháp hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ và trẻ em
Bùi Thị Xuân Mai (2009) cùng các cộng sự đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khả thi
để hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ và trẻ em hiện nay ở Việt nam.
Từ năm 2006 hết năm 2011, qua kết quả nghiên cứu của Bộ Văn hoá – Thể thao và
Du lịch, Tổng cục Thống kê, Viện gia đình và giới thì có 21,2 % các cặp vợ chồng có trải
qua hình thức bạo lực từ chửi mắng, nhục mạ, buộc quan hệ tình dục khi không có nhu
cầu. Cứ 05 cặp vợ chồng thì có 01 cặp từng xảy ra bạo lực dưới mọi hình thức. Tình trạng
Bạo lực gia đình những năm gần đây đang diễn ra với tính chất ngày càng nghiêm trọng,
đối tượng vi phạm cùng với số nạn nhân gia tăng ở khắp các vùng miền trong cả nước.
Như vậy, các nghiên cứu đi trước đã cung cấp những góc nhìn đa dạng, sâu sắc về
vấn đề bạo lực gia đình; nhiều nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu, phân tích các hình thức bạo
lực, thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình tồn tại
trong nhiều gia đình, ở cả nông thôn lẫn thành thị. Bạo lực gia đình chưa được nhận thức
đúng mức vì đa số người dân đều cho rằng đó là vấn đề riêng của mỗi gia đình, của từng
cá nhân, người ngoài không có tư cách can thiệp. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, sự ngộ
nhận về vai trò của phụ nữ và nam giới trong các lĩnh vực đời sống cũng là mảnh đất màu
mỡ nuôi dưỡng bạo lực gia đình. Những nguyên nhân khác có thể kể ra là nghèo khổ, thu
nhập thấp, việc làm không ổn định, buôn bán thua lỗ, phá sản, thất nghiệp, gia đình đông
con, vv… bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục… tất cả đều để lại những
dẫn đến bạo lực gia đình và hậu quả do bạo lực gây nên và vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Nghiên cứu rút ra một số kết luận, khuyến nghị làm cơ sở cho các tổ chức xã hội
cùng có mối quan tâm kết hợp với nhau trong hoạt động giảm bớt hậu quả, ngăn ngừa và
phòng chống hiện tượng này. Đối với công tác xã hội, nghiên cứu cũng đưa ra một vài kết
luận khuyến nghị có tính chất khả thi nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội
tiếp cận và trợ giúp với nạn nhân là người phụ nữ bị bạo lực gia đình giúp giảm được hậu
quả cho bị nạn bạo lực, giúp nạn nhân phòng, chống bạo lực của người chồng gây ra một
cách có hiệu quả.
4. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò nhân viên công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình.
4.2. Khách thể nghiên cứu
5
Thứ nhất, là phụ nữ - nạn nhân của bạo lực gia đình.
Thứ hai, nhân viên CTXH đang thực hiện vai trò can thiệp, hỗ trợ những nạn nhân
bị bạo lực gia đình.
5. Phạm vi nghiên cứu
Không gian và giới hạn nội dung nghiên cứu: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã
lập gia đình, độ tuổi từ 18 đến 55 tuổi, tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Thời gian nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 12
năm 2013.
6. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia
đình là người phụ nữ.
Một vài khuyến nghị nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công tác xã hội trong
Bạo lực gia đình còn nhiều tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định do thiếu đội
ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp, cán bộ thôn, xóm, hội liên hiệp phụ nữ,
chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể có tham gia hỗ trợ nhưng chưa
được đào tạo chuyên nghiệp, bài bản trong quá trình trợ giúp nạn nhân bị bạo lực
gia đình.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Các công trình nghiên cứu, tạp chí, kỷ yếu, hội thảo của một số tổ chức
làm việc về vấn đề bạo lực trong gia đình.
Các bài viết, số liệu, công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí Khoa
học về Phụ nữ, tạp chí Xã hội học, tạp chí Cộng sản, báo gia đình, xã hội.
Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đới với phụ nữ ở Việt
Nam, khung theo dõi và đánh giá việc thực hiện Luật phòng chống bạo lực gia
đình tại Việt Nam.
Tài liệu tập huấn công tác quản lý nhà nước về gia đình và phòng, chống
bạo lực gia đình, tài liệu về công tác bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ, sổ
tay công tác quản lý nhà nước về gia đình…
9.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
7
Đề tài tiến hành 35 cuộc phỏng vấn sâu. Trong đó 18 cuộc phỏng vấn đối
với nạn nhân, 7 cuộc phỏng vấn đối với người gây ra bạo lực, 10 cuộc phỏng vấn
đối với nhân viên CTXH, cán bộ chính quyền địa phương, công an, cán bộ Hội
phụ nữ, ban ngành đoàn thể. Mục tiêu chung của phỏng vấn sâu không phải để
hiểu một cách đại diện, khái quát về tổng thể mà giúp người nghiên cứu hiểu sâu,
hiểu kỹ về vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ và vai trò trợ giúp của nhân
viên công tác xã hội. Người phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách dẫn dắt cuộc
phỏng vấn, đặt trình tự các câu hỏi và cách thức đặt câu hỏi nhằm thu thập thông
được sử dụng trong luận văn: Gia đình là một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ.
Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi, giữa họ có
những rằng buộc có tính pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có
những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục
giữa các thành viên gia đình .
1.1.2. Bạo lực và bạo lực gia đình
Bạo lực là việc đe doạ hay dùng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với người khác
hoặc một nhóm người, một cộng đồng gây ra hoặc làm tăng khả năng gây ra tổn thương,
tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát [46, tr17].
Bạo lực gia đình là các hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình, đó là sự
xâm phạm và ngược đãi về thân thể hay tình cảm giữa các thành viên trong gia đình.
Bạo lực trong gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử dụng vũ lực nhằm
hăm doạ đánh đập một người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó [
46, tr.17].
Hiện nay bạo lực gia đình đang diễn ra phổ biển đặc biệt ở các nước đang phát
triển, nạn nhân của bạo lực gia đình không loại trừ một ai nhưng chủ yếu tập trung ở
nhóm đối tượng yếu thế như phụ nữ, trẻ em. Đặc biệt là phụ nữ là nạn nhân chính của
các vụ bạo lực gia đình.
Có thể phân chia bạo lực gia đình thành bốn loại sau:
Thứ nhất, bạo lực thể chất
Thứ hai, bạo lực tinh thần
9
Thứ ba, bạo lực kinh tế hay lao động:
Thứ tư, bạo lực tình dục: Gồm có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục.
1.1.3. Vai trò viên công tác xã hội
Với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của khoa học và nghề nghiệp chuyên
môn công tác xã hội, ở nhiều nước trên thế giới, vai trò của nhân viên xã hội đã được xác
10
Thứ nhất, nội dung thuyết nhu cầu của A.Maslow
A.Maslow đã nêu ra thuyết nhu cầu, ông cho rằng mỗi nhu cầu con người trong
hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người
có thể phát triển khả năng cao nhất của mình. Ông đã nêu ra 5 bậc thang:
Bậc thang thứ nhất: Nhu cầu vật chất là sự sinh tồn cơ bản, nếu nhu cầu cơ bản
này không đạt được sẽ bị tắc thì không thể tiến thêm ở bậc nhu cầu tiếp theo.
Bậc thang thứ hai: Nhu cầu an toàn là nhu cầu về an sinh, có nghĩa là một môi
trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh ở trẻ.
Bậc thang thứ ba: Nhu cầu xã hội là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương,
được bảo vệ, được yên ổn và được chấp nhận. Ở mức nhu cầu này hoạt động giao tiếp
đựợc coi trọng. Sự tổn thương về tâm lý trong môi trường gia đình, nhà trường, xã hội sẽ
làm cho cá nhân không thể phát triển lên bậc cao hơn.
Bậc thang thứ tư: Nhu cầu về sự tôn trọng, cảm thấy tốt về bản thân, trải nghiệm
những ý nghĩa về những giá trị của bản thân và tự hào về những thành quả cá nhân.
Bậc thang thứ năm: Nhu cầu khẳng định mình, đây là nhu cầu về sự phát triển cá
nhân (cơ hội để phát triển cá nhân).
Thuyết nhu cầu của A.Maslow đóng góp 1 phần quan trọng trọng việc giải thích
các hành vi lệch chuẩn của con người khi tác động vào môi trường và ngược lại.
Để đạt được một nhu cầu đặc biệt nào đó cần có sự kích thích, vận động và qua đó
định hướng hành vi của một người, đáp ứng nhu cầu cơ bản trong hệ thống thứ bậc nhu
cầu của A.Maslow.
Như vậy vận dụng lý thuyết nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu, có thể xác
định được thứ bậc nhu cầu hiện tại của thân chủ, xem xét các nhu cầu nào đã được đảm
bảo, nhu cầu nào chưa được đảm bảo, đảm bảo ở mức độ nào, có ưu tiên đáp ứng nhu
cầu nào trước, nhu cầu nào sau hay theo trình tự các bậc nhu cầu của nhà tâm lý học
A.Maslow. Giúp nhân viên CTXH đánh giá và phân tích nhu cầu của thân chủ một cách
hợp lý nhất, giúp cho quá trình trợ giúp thân chủ là người phụ nữ bị bạo lực gia đình đạt
1.2.3. Lý thuyết sinh thái học
Tiếp cận dựa trên sinh thái học là một trong những tiếp cận truyền thống khi
nghiên cứu về văn hoá của cá nhân, nhóm, cộng đồng công tác xã hội. Đây là một khoa
học nghiên cứu mối quan hệ giữa các cơ thể sống với môi trường tự nhiên của chúng. Ở
đây môi trường tự nhiên khách quan có ảnh hưởng sâu tới các chế độ xã hội và tư tưởng
của con người. Những người theo thuyết sinh thái học văn hoá cho rằng, kiểu văn hoá
của mỗi tộc người được tạo ra là do sự quy định của những nguồn tài nguyên và những
giới hạn của môi trường xung quanh, kể cả những thay đổi trong môi trường đó. Điều đó
có nghĩa khác biệt trong cách tổ chức xã hội và văn hoá là kết quả của sự thích nghi với
các điều kiện vật chất và sinh thái bao quanh. Ở đây “kiểu văn hoá” đóng vai trò căn bản
được hiểu như một tập hợp những nét khác biệt cho một lối sống do kết quả thích nghi
với môi trường xung quanh và tạo nên hạt nhân của văn hoá – cái gắn liền với các hoạt
động tạo ra phương tiện tồn tại, các thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo…. Nếu
môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế và tổ chức như thế nào thì
việc giao tiếp ngôn ngữ, tâm hồn, tính cách, tư duy, ẩm thực và tương tác xã hội cũng có
tác động như vậy, thậm chí còn nhiều hơn và rõ ràng hơn.
Như vậy hướng tiếp cận sinh thái học văn hoá đòi hỏi khi nghiên cứu phải đào sâu
tìm hiểu nội dung, đặc điểm cùng với những hệ quả tinh thần – xã hội của một văn hoá
nào đó ở môi trường tự nhiên đã hình thành nên chúng, nhất là trong công tác xã hội. Bất
cứ một can thiệp hay giúp đỡ cho dù là một cá nhân hay tổ chức xã hội nào thì trước hết
12
phải tìm hiểu môi trường sống của cá nhân hay tổ chức xã hội đó. Các hệ thống môi
trường ở đây là hệ thống mở, các hệ thống có liên hệ chặt chẽ với nhau. Một hệ thống này
bao gồm những phần từ nhỏ hơn nhưng nó có khi lại thuộc một hệ thống lớn hơn. Chẳng
hạn: Gia đình bao gồm nhiều thành viên: cha mẹ, con cái gọi là gia đình hạt nhân. Nhưng
gia đình con này lại nằm trong trong một gia đình lớn hơn còn gọi là gia đình mở rộng.
Theo thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách
tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không được nhìn nhận một cách độc
13
mong đợi của người hành động và những người khác. Như vậy, vai trò xã hội là sự tập
hợp hành vi, thái độ và sự thực hiện của cá nhân có vị thế đó.
Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi được
xác định căn cứ vào chuẩn mực xã hội. Trong các xã hội khác nhau thì chuẩn mực này
cũng khác nhau. Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các xã hội khác nhau thì mô
hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau.
Theo thuyết này, trong công tác xã hội, việc tìm hiểu những nhận thức cũng như
hành động của cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng phụ thuộc nhiều vào chính vị trí mà họ
được thừa nhận trong gia đình và xã hội. Nếu như họ được coi trọng, được có tiếng nói
của mình, được bình đẳng như mọi người trong gia đình và ngoài xã hội thì họ sẽ làm tốt
hơn vai trò của mình, đáp ứng được nhiều hơn những mong đợi của mọi người và ngược
lại [ 43, tr.48].
1.3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên - lịch sử của địa bàn nghiên cứu
Huyện Vụ Bản nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định, vùng phía Nam đồng bằng châu
thổ Sông Hồng. Mảnh đất được hình thành bởi phù sa bào mòn trong quá trình biển lùi
thuộc kỷ hô lô xen (từ bảy ngàn năm về trước) và phù sa Sông Hồng, Sông Đáy bồi đắp.
Trải qua mấy nhìn năm biến thiên của đất nước, huyện Vụ Bản cũng đổi thay nhiều về tên
gọi và cương vực.
Vụ Bản nằm giữa Sông Đào và Sông sắt chạy dài theo hướng Nam, Bắc tiếp giáp
với huyện Mỹ Lộc và thành phố Nam Định; Phía Đông tiếp giáp với huyện Nam Trực
ngăn cách bởi Sông Đào; phía Nam tiếp giáp với huyện Ý Yên, phía Tây bắc giáp với
huyện Bình Lục và Tây Nam giáp với huyện Ý Yên đều ngăn cách bởi dòng sông Ba Sát.
Điểm cực bắc của huyện là làng Hướng Nghĩa xã Minh Thuận và điểm cực Nam là làng
Cồn Dâu xã Vĩnh Hào, cách nhau chừng 15 km. Điểm cực Đông là làng Thi Liệu xã Đại
Thắng, và điểm cực Tây là Trại Dầu xã Tân Khánh cách nhau khoảng 10km. Huyện Vụ
Bản nằm gọn trong đồng bằng châu thổ Sông Hồng, nhưng địa hình Vụ Bản không hoàn
mới chế độ mới xã hội chủ nghĩa. [2, tr5].
15
1.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
Quá trình xây dựng cuộc sống mới là một cuộc cách mạng có tính chất cải biến
xã hội sâu sắc, là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã
hội chủ nghĩa mặc dù có những gian truân, Vụ Bản đã hoàn thành tốt việc cải cách xã
hội chủ nghĩa ở nông thôn và thúc đẩy sản xuất phát triển. Nông thôn đã có những
thay đổi kỳ diệu trên các lĩnh vực chính đặc biệt là kinh tế - xã hội. Từ mảnh đất “Tứ
cùng” Vụ Bản đã “hóa thân” trong từng chặng đường phát triển. Năng động, sáng tạo,
nhạy bén, kịp thời chuyển đổi theo đường lối đổi mới của Đảng, những thập kỷ cuối
thế kỷ XX nhân dân Vụ Bản đã chứng tỏ sự chuyển đổi nhanh nhạy và vững chắc của
mình. Từng bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp từng bước phát huy năng lực
sản xuất, khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Nhờ đó Vụ Bản đã có
sự bứt phá trong nền kinh tế, từ nền kinh tế mang tính thuần nông là cơ bản đã từng
bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển nông
nghiệp một cách toàn diện, từ năm 1990 trở lại đây, Vụ Bản đã đạt được những thành
tích khả quan, năng suất lúa hàng năm đạt mức đỉnh cao, kinh tế phồn thịnh đời sống
nhân dân ngày một ấm no, sung túc… Đây cũng chính là tiền đề cơ bản để nhân dân
vững vàng bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng quê hương
ngày càng giàu mạnh văn minh. Mặc dù không ít những khó khăn, thiếu sót, nhưng
những thành quả mà nhân dân huyện Vụ Bản đạt được trong những năm qua, những
năm thực hiện sự đổi mới là vô cùng to lớn, bộ mặt nông thôn ngày càng thắm tươi
màu sắc, Vụ Bản đã đổi thay không còn là một trong “tứ cùng” (bốn huyện nghèo)
của tỉnh như xưa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chính quyền Vụ Bản đã
vươn lên làm chủ về mọi mặt để trở thành một trong những huyện giàu mạnh. Có thể
thấy Huyện Vụ Bản là một huyện có nền kinh tế tăng trưởng khá nhanh, mặc dù
những yếu tố vật chất tạo điền kiện cho sự phát triển phần lớn vẫn phụ thuộc vào sự
nhiều nạn nhân sợ ảnh hưởng đến con cái, muốn níu giữ hạnh phúc gia đình nên không
cho mọi người xung quanh biết chuyện mà che giấu, âm thầm chịu đựng.
2.2. Nguyên nhân của phụ nữ bị bạo lực gia đình tại huyện Vụ Bản
2.2.1. Nhóm nguyên nhân từ phía xã hội
Thứ nhất, do tư tưởng gia trưởng
ười phụ nữ cũng chính là nguyên nhân cho nạn bạo lực nảy sinh.
Thứ hai, do văn hóa - xã hội, phong tục tập quán
Thứ ba, Do quá trình đô thị hoá trong thời kỳ phát triển
2.2.2. Nhóm nguyên nhân từ phía gia đình
Thứ nhất, do gia đình có kinh tế khó khăn:
Thứ hai, do khủng hoảng các mối quan hệ trong gia đình:
2.2.3. Nhóm nguyên nhân từ cá nhân
Thứ nhất, do người phụ nữ bị lệ thuộc về kinh tế:
Thứ hai, do nhận thức sai lầm của nạn nhân:
Thứ ba, do nạn nhân chịu đựng, cam chịu:
17
2.3. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với người phụ nữ tại huyện Vụ Bản
2.3.1. Hậu quả đối với nạn nhân
Theo số liệu thống kê năm 2007 – 2013 của Hội liên hiệp phụ nữ huyện Vụ
Bản thực trạng của phụ nữ bị bạo lực gia đình điễn ra ngày một gia tăng. Trong tổng
số 643 vụ bạo lực gia đình, trong đó bạo lực thể chất là 204 vụ, bạo lực tinh thần 278
vụ và bạo lực kinh tế 156 vụ, bạo lực tình dục 5 vụ. Thực trạng bạo lực gia đình đối
với người phụ nữ đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề.
Những người phụ nữ bị bạo lực họ bị xâm phạm nghiêm trọng các quyền về con
người, bị xúc phạm về danh dự, nhân phẩm và xâm hại về thân thể. Họ bị ảnh hưởng
đến sức khỏe, gây đau đớn, thương tích dẫn đến suy giảm khả năng lao động và có thể
dẫn tới cái chết. Phụ nữ bị bạo lực sẽ bị ảnh hưởng về tinh thần thường có tâm trạng bi
TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN VỤ
BẢN, TỈNH NAM ĐỊNH
3.1. Vai trò tham vấn, tư vấn
Tham vấn, tư vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên môn,
kỹ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người có khó khăn
trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân tình (dựa
vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và
chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính
mình.
Với vai trò là người thực thi chính cách của Đảng và Nhà nước, đại diện bảo vệ,
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Trong những năm qua, nhân viên
CTXH huyện phối hợp cùng hội LHPN tỉnh Nam Định cũng như Uỷ ban nhân dân huyện
Vụ Bản và các cấp đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, với ngành Tư
pháp, Công an trong công tác tuyên truyền, tham vấn, tư vấn cho các nạn nhân của các vụ
bạo lực gia đình. Tuy nhiên, các nạn nhân bị bạo lực thì lại không nhìn nhận hành vi bạo
lực là vi phạm pháp luật, chỉ khi bị đánh đập tàn nhẫn không còn chịu đựng nổi thì họ mới
tìm đến các đoàn thể, cơ quan chức năng để nhờ giải quyết, bởi họ không muốn đem vụ
việc ra giải quyết theo pháp luật. Vai trò trợ giúp của nhân viên công tác xã hội huyện Vụ
Bản đã tư vấn trợ giúp nạn nhân là người phụ nữ bị bạo lực được thể hiện cụ thể như sau:
Khi nhân viên CTXH được báo cáo có bạo lực gia đình xảy ra tại địa phương, nhân
viên CTXH phối hợp với hội LHPN kịp thời có mặt tại nơi xảy ra bạo lực, thông báo với
tổ hòa giải và chính quyền, công an tại địa bàn dân cư để kịp thời trợ giúp bảo vệ nạn
nhân.
Nhân viên CTXH đã gặp trực tiếp thân chủ lắng nghe và tìm hiểu nguyên nhân,
hậu quả phụ nữ bị bạo lực đang gặp phải, bằng tâm huyết và nhiệm vụ, kỹ năng của mình
nhân viên CTXH đã lắng nghe, chia sẻ và động viên thân chủ, tư vấn cho thân chủ bình
tĩnh và sẽ cùng thân chủ giải quyết vấn đề khó khăn đang gặp phải. Nhân viên CTXH đã
tư vấn cho nạn nhân về luật hôn nhân và gia đình; luật bình đẳng giới; luật phòng, chống
bạo lực gia đình; các chính sách của Đảng và Nhà nước…Qua việc tư vấn, tâm lý của nạn
nhân đã trở lại ổn định và nhìn nhận được vấn đề của mình đang gặp phải, cố gắng vượt
hội như hệ thống giáo dục và các quy tắc văn hóa, truyền thông góp phần hình thành nên ý
thức xã hội. Nhân viên công tác xã hội truyền thông thúc đẩy và duy trì hệ tư tưởng chủ
đạo của một xã hội và giúp duy trì sự hình thành văn hóa. Truyền thông định hướng cho
cộng đồng và vì vậy nó có sức mạnh trong các phong trào thay đổi xã hội. Với sức mạnh
này, truyền thông của nhân viên công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc phòng,
chống bạo lực gia đình. Nhân viên công tác xã hội truyền thông đã giúp cho nạn nhân và
mọi người trong huyện được tiếp cận với những kiến thức, thông tin cần thiết, nâng cao
nhận thức, từ đó thay đổi hành vi, thói quen ứng xử, lối sống theo hướng tích cực, tiến bộ.
3.3. Vai trò hoà giải
Hoà giải giúp thân chủ giải quyết những tranh luận, xung đột tầm cỡ vĩ mô, trung
mô hay liên quan tới hệ thống vĩ mô. Ở mức độ vĩ mô, người hoà giải giúp những tiểu hệ
thống khác nhau trong cộng đồng hay một cộng đồng và vài hệ thống khác, tạo sự khác
20
biệt. Ở mức độ vi mô và trung mô, người hoà giải giúp đỡ ở những lĩnh vực ly hôn. Nhân
viên công tác xã hội duy trì sự trung lập và ủng hộ đảng phái trong cuộc tranh luận.
(Zastrov and Kist-Ashman,1997).
Hiện nay tại các xã và thị trấn của huyện Vụ Bản đều có hệ thống hoà giải: Ban hoà
giải phường, xã, tổ hoà giải thôn, xóm, tổ dân phố, khu dân cư, những thành viên của ban
hoà giải thường từ chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể như Hội phụ nữ, Hội
nông dân…
Tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định các Ban và tổ hoà giải này giải quyết tất cả
những tranh chấp, bất đồng trong cộng đồng, trong đó có việc hoà giải mâu thuẫn về bạo
lực gia đình. Nhân viên công tác xã hội trong ban hoà giải là người có trách nhiệm, có uy
tín trong cộng đồng nên tiếng nói có trọng lượng. Trong quá trình trợ giúp, can thiệp, hoà
giải mâu thuẫn, xung đột đặc biệt là bạo lực của người chồng gây ra đối với người phụ nữ,
nhân viên CTXH tư vấn cho người phụ nữ bị bạo lực gia đình, bên cạch đó đưa ra những
lời tư vấn tích cực về cách ứng xử, xử lý các mâu thuẫn trong gia đình đối với người gây
ra bạo lực, tư vấn cho thân chủ về pháp luật, Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật
Sự bất bình đẳng giới kéo dài và nền văn hóa mà ở đó đàn ông giữ quyền thống trị
xã hội đã chấp nhận, dung túng, thậm chí là hợp lý hóa tình trạng bạo lực gia đình và duy
trì sự im lặng trước tình trạng đó. Đa số các vụ việc đều không được báo cáo và không bị
phát hiện. Nhiều nạn nhân không báo cáo về tình trạng bạo lực mà họ đang chịu đựng do
xấu hổ, e ngại hoặc sợ hãi. Những vụ cưỡng dâm thường khó có thể phát hiện ra và nếu có
thì chỉ một vài vụ được báo với cơ quan chức năng. Sự im lặng của nạn nhân bạo lực gia
đình gây khó khăn đáng kể cho việc phát hiện và xử lý hành vi bạo lực.
Song song với việc tư vấn pháp luật, nhân viên CTXH đã tổ chức truyền thông kiến
thức về luật pháp theo từng lĩnh vực cho hàng nghìn lượt phụ nữ. Ngay khi Luật Phòng
chống bạo lực gia đình có hiệu lực thi hành (1/7/2008), Phòng LĐ TB&XH phối hợp cùng
Hội LHPN tổ chức truyền thông những nội dung cơ bản của Luật cho phụ nữ nhằm giúp
chị em hiểu được các hành vi bạo lực gia đình; các hành vi bị nghiêm cấm; các biện pháp
bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ
chức trong phòng, chống bạo lực gia đình Qua hoạt động trợ giúp pháp lý cho phụ nữ tại
huyện Vụ Bản, nhân viên CTXH cũng đã nhận và chuyển nhiều kiến nghị, đề xuất của
cán bộ, hội viên và các tầng lớp phụ nữ tới Đảng, Nhà nước, Hội phụ nữ các cấp phối hợp
giải quyết. Bên cạnh đó, còn phối hợp chặt chẽ với ngành Tư pháp các cấp tích cực tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục kiến thức về pháp luật cho nhân dân, trong đó có phụ nữ, đặc
biệt là các luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ, trẻ em, các văn bản mới được ban
hành nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
3.5. Vai trò biện hộ
Đây là một vai trò quan trọng của nhân viên CTXH huyện Vụ Bản với tư cách là
một người đại diện cho tiếng nói của nạn nhân để bảo vệ cho lợi ích hợp pháp của nạn
nhân.
Đối với những người phụ nữ bị bạo lực gia đình quá sức chịu đựng hoặc là nạn
nhân bị buôn bán đã bi xâm phạm nhiều quyền và lợi ích, thì trong quá trình hỗ trợ, nhân
viên CTXH trực tiếp làm việc với các cơ quan chức năng như công an, Hội phụ nữ, tòa
án…. Để biện hộ, bênh vực, bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ. Biện hộ pháp lý cho phụ
nữ là nạn nhân bạo lực gia đình trong các vụ ly hôn.
Nhân viên CTXH hướng tới mục đích cuối cùng là gia ấm vào êm, hạnh
Nhiều nạn nhân bị bạo lực bị ảnh hưởng rất nặng nề về thể chất, sức khỏe, tâm lý
tình cảm nếu không được chữa trị sẽ gây nên những hậu quả xấu. Nhân viên CTXH cung
cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần thông qua các đối tác cung cấp các
dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp. Họ kết nối những cơ sở cung cấp các dịch vụ y
tế miễn phí để các nạn nhân bị bạo lực được khám và điều trị bệnh, thậm chí tìm kiếm các
trung tâm giám định y tế để giám định về tỷ lệ thương tật cho họ. Như đã đề cập ở trên,
23
hầu hết các nạn nhân bị bạo lực đều bị xâm hại, xâm phạm về quyền và lợi ích. Vì vậy,
đội ngũ nhân viên làm CTXH giúp nạn nhân tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tư vấn pháp lý
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng phụ nữ bị bạo lực thông qua các văn phòng trợ
giúp pháp lý, các văn phòng luật sư và cơ quan tư pháp. Đồng thời, tìm kiếm các nguồn
lực, xin kinh phí học nghề tại các đối tác đào tạo nghề, hỗ trợ cá nhân và tham vấn nghề
nghiệp định kỳ trong thời gian học nghề, xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và chuẩn bị
hành trang, sẵn sàng làm việc sau khi hỗ trợ. Song song với các hoạt động trên, nhóm phụ
nữ bị bạo lực được trang bị các kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm và phỏng vấn, tiếp
cận với nhà tuyển dụng. Chính đội ngũ nhân viên CTXH phối hợp với các tổ chức, cơ
quan đơn vị giới thiệu việc làm, tổ chức nhân đạo từ thiện để tạo việc làm cho nạn nhân.
Nhân viên công tác xã hội của huyện Vụ Bản là người đóng vai trò trung gian kết nối phổ
biến các chính sách, quy định pháp luật với người phụ nữ bị bạo lực gia đình và người
chồng gây ra bạo lực tại huyện Vụ Bản, để cho họ hiểu và thực hiện.
Nhân viên Công tác xã hội cũng là người kết nối phụ nữ bị bạo lực gia đình với
những chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước, tới những chính sách trợ giúp khẩn cấp.
Nhân viên công tác xã hội còn đóng vai trò là người kết nối phụ nữ bị bạo lực với tổ hoà
giải của thôn, xóm, chính quyền địa phương, công an, luật sư, toà án…. những tổ chức xã
hội, để trợ giúp cho họ một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất giúp họ tạm thời tạm lánh khi
bạo lực xảy ra.
Nhân viên xã hội định hướng cho các thân chủ tiếp cận đến các dịch vụ xã hội hiện
có hoặc hướng đến xây dựng các dịch vụ xã hội cho các thân chủ được gọi là người môi