I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN
-------------------------------
HONG TH HNG
Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc
can thiệp trợ giúp những phụ nữ bị bạo hành gia đình
ở Xã Kim Long, huyện Tam Dơng, tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyờn ngnh: CễNG TC X HI
Mó s: 60.90.01.01
LUN VN THC S
Ngi hng dn khoa hc: TS. Th Võn Anh
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Đỗ Thị Vân Anh Cô giáo đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu và làm luận văn. Nhờ có sự chỉ bảo tận tình của Cô
mà tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ của mình. Với tôi Cô chính là như
một người Cô, người chị giúp đỡ tôi trên con đường học vấn và cuộc sống.
Tiếp theo tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè những người
đã động viên, cổ vũ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Những người khác mà tôi vô cùng biết ơn là những thầy cô trong khoa
xã hội học, những người đã cung cấp nền tảng kiến thức và giúp tôi hoàn
thành mọi thủ tục bảo vệ luận văn. Cán bộ và người dân xã Kim Long - huyện
Tam Dương - Vĩnh Phúc đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra để
thu thập thông tin cần thiết cho luận văn.
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Bạo hành
Bạo hành gia đình
Công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội
3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1. Thực trạng gia tăng số vụ phụ nữ bị bạo lực gia đình.....................26
Biểu 2.2. Nhận định của lãnh đạo địa phương về thực trạng phụ nữ bị bạo
hành gia đình...................................................................................................28
Biểu 2.3. Những hành vi bạo hành thường xảy ra trong gia đình...................28
Biểu 2.4. Các hình thức phụ nữ bị bạo hành...................................................29
Biểu 2.5. Người gây ra bạo hành đối với phụ nữ............................................30
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Vấn đề giới và bình đẳng giới là một trong những chủ đề đang được
quan tâm. Trong đó phụ nữ ngày càng được tín nhiệm, được đề cử vào trong
các vị trí quan trọng trong xã hội. Người phụ nữ cũng đóng vai trò quan trọng
để tạo lập nên hạnh phúc gia đình, nhưng trong giai đoạn hiện nay, nhiều
người phụ nữ chưa thực sự được bình đẳng, chưa thực sự được sống hạnh
phúc bởi họ bị bạo lực trong gia đình.
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam không phải là vấn đề mới,
song đang là vấn đề nóng bỏng và có chiều hướng gia tăng mặc dù đời sống
kinh tế xã hội ngày càng phát triển. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là sự vi
Phụ nữ bị bạo hành trong gia đình đã trở thành một nội dung quan
trọng trong Tuyên bố hành động của Hội phụ nữ thế giới lần thứ IV tại Bắc
Kinh năm 1995 và trong các văn bản của tổ chức Liên Hợp Quốc.
Từ ngày 4 – 6/ 12/2001 tại Phnômpênh đã diễn ra Hội nghị về luật pháp
phòng chống bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở vùng tiểu MêKông,
Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam. Hội nghị đã thống nhất một số vấn đề
như:Bạo lực gia đình không phải là chuyện riêng của gia đình và Phụ nữ đang
bị coi là phụ thuộc vào nam giới trên phạm vi toàn cầu.
Ở nước ta, phụ nữ bị bạo hành đã tồn tại từ ngàn xưa nhưng ít khi được
quan tâm. Hiện nay, cùng với sự biến đổi của xã hội vấn đề này được quan
tâm nhiều hơn và đã có nhiều nhà khoa học, nhiều nhà hoạt động xã hội với
nhiều công trình nghiên cứu về phụ nữ bị bạo hành gia đình trên thế giới và ở
Việt Nam. Đã có rất nhiều bài viết, các phóng sự được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng, nhiều cuộc hội thảo khoa học các cấp đã
được thực hiện với sự đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất
giải pháp - biện pháp khắc phục, hạn chế, giải quyết tình trạng phụ nữ bị bạo
hành trong gia đình như: đề tài nghiên cứu của TS. Lê Dân “Thực trạng và
2
giải pháp giảm bạo hành gia đình đối với phụ nữ tại Thành Phố Đà Nẵng.
Nội dung đề tài tiến phân tích thực trạng phụ nữ bị bạo hành trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng nhằm tìm ra giải pháp hiệu quả, đề tài đã xem xét bạo lực
theo các góc độ khác nhau như mối quan hệ giữa bạo lực với tôn giáo, trình
độ văn hoá và nghề nghiệp”.
Năm 1997, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tiến hành nghiên cứu bạo
lực đối với phụ nữ trong gia đình. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng số liệu thứ
cấp lấy từ báo chí và các cơ quan khác tại 3 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Thái Bình
làm cơ sở để phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực đối với phụ nữ
trong gia đình là khá phổ biến. Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa cung cấp
Thành Phố Vĩnh Yên của Vĩnh Phúc như: Dự án xây dựng năng lực cho cán
bộ phòng chống bạo hành gia đình của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008, Cuộc tổng
điều tra về tình hình bạo hành gia đình trên địa bàn toàn tỉnh năm 2009 của sở
văn hóa thể thao du lịch và các hoạt động tuyên truyền luật phòng chống bạo
hành gia đình và bình đẳng giới tại Vĩnh Phúc, Huyện Yên Lạc tổ chức tuyên
truyền Luật Phòng chống bạo hành gia đình và ứng dụng các mô hình phòng
chống bạo hành gia đình tại một số xã, Huyện Tam Dương cũng tổ chức và
xây dựng mô hình “Câu lạc bộ gia đình hạnh phúc” nhằm phòng chống bạo
hành gia đình.Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu nào nghiên cứu về
tình trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long và vai trò can
thiệp trợ giúpcủa nhân viên công tác xã hội. Bởi vậy, luận văn "Vai trò của
nhân viên công của nhân viên công tác xã hội trong việc can thiệp trợ giúp
phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh
Vĩnh Phúc” là đề tài mới, không trùng tên với các công trình đã công bố.
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần tìm hiểu làm phong phú thêm
kho tàng lý luận về khái niệm, nhận thức, tư tưởng trong vấn đề bạo hành gia
đình, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình. Để từ đó hoàn thiện Luật phòng
chống bạo hành gia đình.
4
Hơn nữa, nghiên cứu luận văn là cơ sở lý luận của công tác xã hội được
phong phú hơn về cách giải quyết, hỗ trợ, vận động cá nhân, nhóm và cộng
đồng xã hội trong việc đẩy lùi tình trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa thực tiễn góp phần nghiên
cứu thực trạng, đồng thời phân tích tìm ra những nguyên nhân gây ra tình
trạng phụ nữ bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long hiện nay.
Khẳng định vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc can thiệp,
trợ giúp những người phụ nữ bị bạo hành trong gia đình
- Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu hệ thống lý luận nhằm can thiệp trợ giúp phụ nữ bị bạo hành.
+ Khảo sát thực trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình, đánh giá những
biện pháp đã can thiệp, hỗ trợ phụ nữ bị bạo hành gia đình tại xã Kim Long
+ Nghiên cứu vai trò của nhân viên công tác xã hội trong can thiệp, trợ
giúp phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long như thế nào?
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng phụ nữ bị bạo hành gia đình ở
xã Kim Long là nguyên nhân nào?
Nhân viên công tác xã hội ở xã Kim Long đã làm tốt vai trò của mình
để can thiệp, trợ giúp cho những phụ nữ bị bạo hành gia đình chưa?
8. Giả thuyết nghiên cứu
- Tình trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình tại xã Kim Long đang
ngày càng gia tăng, nhất là hình thức phụ nữ bị bạo hành về thể chất.
- Nhận thức, và tư tưởng cổ hủ lạc hậu của những người đàn ông là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long.
- Nhân viên công tác xã hội ở xã Kim Long chưa thực hiện tốt các vai trò
của mình trong can thiệp trợ giúp cho những phụ nữ bị bạo hành trong gia đình.
9. Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Đề tài sử dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử làm kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu, từ các
luận điểm nghiên cứu, phân tích cho đến chứng minh các khía cạnh khác nhau
của đề tài.
6
9.2. Cơ sở dữ liệu
Số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của Báo cáo của
61.8
13.8
54.2
25.7
4.0
1.3
1.0
33.5
17.2
26.2
43.1
9.3. Các phương pháp khác
9.3.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu, bổ sung và tích lũy vốn tri
thức lý luận liên quan đến luận văn ở nhiều góc độ: Triết học, Tâm lý học,
Công tác xã hội đồng thời nghiên cứu những chính sách, văn bản pháp luật,
các công trình nghiên cứu khoa học về bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình.
Mục đích của phương pháp này là thu thập những vấn đề lý luận liên quan
đến luận văn như: Bạo lực gia đình, bạo lực đối với phụ nữ. Đây là cơ sở cho
7
việc xây dựng phương pháp điều tra, phân tích về thực trạng và các hình thức
phụ nữ bị bạo lực trong gia đình ở địa bàn xã Kim Long.
- Báo cáo tóm tắt nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ
nữ Việt Nam
- Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu thu
thập được như internet, sách, báo, phim ảnh, băng hình…trên cơ sở đó phân
đình tuân thủ đúng nguyên tắc, quy điều đạo đức của nghề nghiệp công tác xã
hội. Đánh giá chuyên môn nghiệp vụ, vai trò của nhân viên công tác xã hội ở
xã Kim Long thông qua việc đánh giá các phương pháp trợ giúp của công tác
xã hội mà nhân viên công tác xã hội đã ứng dụng.
9.3.5.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Luận văn sử dụng dung lượng mẫu là 150 mẫu đại diện hộ gia đình
nông thôn ở 4 xóm là Hợp Minh, Làng Gô, Hữu Thủ, xóm Láng. Và đây là
phương pháp nghiên cứu chính để thu thập thông tin, dữ liệu của luận văn.
10. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, lụân văn
gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2. Thực trạng phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim
Long - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3. Nhân viên Công tác xã hội thực hiện vai trò can thiệp, trợ
giúp phụ nữ bị bạo hành trong gia đình ở xã Kim Long.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Lý thuyết xung đột
1.1.1.1. Nội dung lý thuyết xung đột
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết xung đột là K.Marx, một nhà tư tưởng
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, triết học và xã hội học. “Cho rằng xung đột
xã hội không chỉ dừng trong lĩnh vực kinh tế mà còn thể hiện trong bất kỳ
một lĩnh vực nào của đời sống xã hội” Như vậy, nội dung quan điểm tư tưởng
này nhấn mạnh đến những yếu tố xung đột, cạnh tranh, sự biến đổi và áp bức
tệ mà coi như một bộ phận tự nhiên của đời sống gia đình
Gia đình bao gồm những cá nhân có nhân cách, lý tưởng giá trị sở thích
và mục đích khác nhau. Mỗi người khong phải bao giờ cũng hài hòa với mọi
người khác trong gia đình. Các gia đình thường có những mâu thuẫn, xung
đột là do có bất đồng từ nhỏ đến lớn, họ chỉ khác nhau về tần suất, mức độ,
tính chất biểu hiện và cách giải quyết xung đột.
Yếu tố quyền lực là yếu tố rất quan trọng trong giải quyết mâu thuẫn,
xung đột trong gia đình. Mọi người trong gia đình đều có quyền lực nhưng lại
ở mức độ khác nhau, cá nhân nào, nhóm nào có nhiều quyền lực nhất thì
thắng trong cuộc xung đột.
Dưới góc độ của lý thuyết xung đột thì việc phụ nữ bị bạo hành trong
gia đình là do sự xung đột về quyền lực, về quan điểm sống, về lối sống, về
vị thế trong gia đình. Do những mâu thuẫn tồn tại trong một quá trình và do
sự bất đồng về quan điểm sống của cá nhân giữa người vợ, người chồng trong
một thời gian dài và thành thói quen nên nó trở nên căng thẳng giữa mối quan
hệ vợ chông. Từ đó mâu thuẫn càng lên đến đỉnh điểm, xung đột diễn ra khi
cả hai bên không kìm nén được bản thân. theo giải thích của lý thuyết xung
đột thì kẻ mạnh về quyền lực, quyền uy sẽ uy hiếp người yếu thế hơn.
11
1.1.2. Lý thuyết nữ quyền
Đại diện cho lý thuyết nữ quyền phương tây đó là Hélène Cixous, Luce
Irigaray, Julia Kristeva, Simone de Beavoir. Chủ nghĩa nữ quyền đang ngày
càng khuếch trương ảnh hưởng với “những làn sóng” vỗ mạnh mẽ vào thành
lũy của chế độ nam quyền để khẳng định địa vị và quyền lợi của người phụ
nữ. Có thể nói rằng chủ nghĩa nữ quyền Pháp thường được ứng dụng trong
nghiên cứu về chủ nghĩa nữ quyền hiện đại bởi Pháp là một trong những
chiếc nôi của chủ nghĩa nữ quyền, hay nói như Beavoir “ về mặt nữ quyền,
Pháp đi trước các nước khác’’, chủ nghĩa nữ quyền Pháp đã đóng góp
hoàn cảnh văn hóa xã hội, phụ nữ không phải là một thực thể tự nhiên mà là
một thực thể văn hóa. Beauvoir đưa ra giải pháp là phụ nữ phải từ bỏ địa vị
Tha nhân để khẳng định tính chủ thể độc lập của mình, sự thấp kém của phụ
nữ có thể được xóa bỏ thông qua việc đồng hóa với chủ thể nam giới. [17, tr
84 Beauvoir, Simone de 1996, Giới nữ Nxb phụ nữ, HN]
Nhà triết học nữ quyền Irigaray cũng đặc biệt quan tâm đến việc biện
luận cho địa vị của người phụ nữ và vấn đề giải phóng phụ nữ khỏi tình trạng
bị áp bức. Irigaray yêu cầu phụ nữ phải tích cực hoạt động để nhận thức tính
chủ thể nữ giới đặc trưng của mình chứ không đơn giản bị giản lược vào tính
chủ thể nam giới.
Cixous cho rằng cá nhân người phụ nữ phải viết ra chính mình, phải tự
mình khám phá những gì thể xác cảm nhận được và cách thức để diễn tả thân
thể phụ nữ bằng ngôn ngữ. Vị thế của phụ nữ là chủ thể trong ngôn ngữ sẽ
thay đổi một khi họ trở thành chủ thể năng động chứ không phải là đối tượng
tiếp nhận thụ động.
1.1.2.2. Phụ nữ bị bạo hành gia đình tiếp cận dưới góc độ lý thuyết nữ quyền
Người phụ nữ do bị lệ thuộc về kinh tế do chế độ phụ hệ nên dẫn đến
sự khác biệt về quyền lực trong gia đình, chính điều đó cũng dẫn đến sự bất
bình đẳng giới nam nữ, là khởi nguồn nguyên nhân cho sự áp bức người vợ
của những người chồng.
Sự cam chịu không đấu tranh của người phụ nữ trước sự áp bức của
đàn ông do vậy người phụ nữ cần được thay đổi nhận thức, nâng cao năng lực
cho chính bản thân mình, tự giải phóng mình.
Người phụ nữ cũng cần phải tham gia đảm trách các công việc ngoài xã
hội tích cực, phải tạo ra được sự cân bằng giữa những bận tâm trong cuộc
sống và nhiệm vụ trong gia đình.
13
1.2. Các khái niệm
Quan điểm về phụ nữ trong Tôn giáo: Tôn giáo có quan điểm riêng của
mình về phụ nữ, trong Kinh Thánh cho rằng người đàn bà sinh ra từ cái
xương sườn của người đàn ông, vì thế họ luôn bị lệ thuộc. Phật giáo thì cho
rằng phân biệt giới tính nam nữ sinh ra là do đạo đức thoái hóa, cả hai giới
đều có vai trò giống nhau và vị trí ngang nhau trong quá trình tiến hoá phức
tạp của loài người. Chúng sinh có cùng một bản thể, vô nhị vô biệt, tất cả
chúng sinh đều có phật tính, sự khác biệt giữa giới tính nam nữ chỉ là thứ yếu
và sự giác ngộ của tâm tính mới là quan trọng nhất.
Chính từ những quan niệm dựa trên các góc độ lý giải khác nhau như
vậy nên đó là một trong những nguyên nhân mà qua các thời đại lịch sử và
các chế độ khác nhau, bằng cách này hay cách khác, nữ giới luôn bị đè nén,
áp bức và bị khinh miệt.
Tuy nhiên theo từ điển tiếng việt thì “Phụ nữ” hay “đàn bà” là từ chỉ
giống cái của loài người. Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng
thành. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người
giống cái, bất kể tuổi tác. Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một
người, một nhóm người hay toàn bộ những người trong xã hội mà một
cách tự nhiên mang những đặc điểm giới tính được xã hội thừa nhận về
khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể hoàn thiện và chức năng giới
tính hoạt động bình thường..
1.2.2. Khái niệm gia đình
Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội, gia
đình đã được hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu
dài. Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, sự cần thiết phải nương
tựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam giới và nữ giới,
những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống đã xuất hiện. Các kiểu dạng tổ
chức cộng đồng mang tính tự nhiên, ngay từ đầu đã chịu sự quy định của
những biến đổi trong sản xuất, trong đời sống kinh tế-xã hội. Ban đầu các
15
quyền thể hiện mình, quyền bày tỏ những cảm xúc những tâm tư tình cảm của
mình đối với gia đình và xã hội.
Trong gia đình, người phụ nữ là nơi thức tỉnh mọi tình cảm, là nơi làm
cho trái tim gia đình tràn đầy tình yêu và hạnh phúc, nơi để người chồng sẻ
chia, là nơi chăm sóc, góp phần giáo dục, định hướng, khích lệ chồng con làm
những việc tốt đẹp cho đời. Người giữ vai trò rất quan trọng trong việc chèo
lái con thuyền mơ ước đi đến bến bờ hạnh phúc.
Đối với chồng thì người phụ nữ là người biết quên mình để làm vợ,
luôn biết hi sinh để trọn nghĩa nặng tình sâu. Người phụ nữ góp phần hỗ trợ
chồng thành đạt trong cuộc sống. Trong công việc, có những lúc người chồng
thất bại, giảm sút ý chí và tinh thần, thì người vợ ngoài việc chu tất công việc
gia đình, phải thật sự thông cảm, khéo léo động viên chồng và tạo mọi điều
kiện để người chồng lấy lại niềm tin, thêm nghị lực mà vượt qua sóng gió.
Đối với những đứa con thì người phụ nữ có vai trò là người đầu tiên tạo
dựng cho con một nền móng, một nhân cách sống. Phụ nữ với vai trò làm mẹ
sẵn sàng xông pha không ngại gian lao, khó nhọc, nghiệt ngã để trang bị cho
con một tương lai sáng ngời. Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục
con cái chủ yếu trong gia đình. Những đứa con từ khi mới sinh ra đến khi
trưởng thành phần lớn thời gian là gần gũi và thường chịu ảnh hưởng từ người
mẹ nhiều hơn người cha. Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm
giặt, ru ngủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…với việc nhận thức
thông qua quá trình bé tự quan sát, học hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng
đặc biệt các đức tính của người mẹ đã hình thành dần bản tính của một người
con. Ngoài ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua
những hành động của những người gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ.
Người phụ nữ là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình, các công
việc nội trợ chủ yếu do người phụ nữ đảm trách. Từ đi chợ, nấu ăn, giặt giũ
đến quét dọn, bày trí, sắp xếp, mua sắm…cũng chủ yếu do người phụ nữ lo
niệm định nghĩa khác nhau ít nhiều nhưng có thể khẳng định rằng:
18
Bạo hành gia đình là hiện tượng xảy ra từ khi gia đình mới hình thành
và đến ngày nay hiện tượng này ngày càng phổ biến, nó được coi là một vấn
đề nóng bỏng đòi hỏi sự quan tâm, nhận thức của tất cả mọi người trong đó
phụ nữ là những nạn nhân chính của nạn bạo hành gia đình.
Có rất nhiều công trình nghiên cứu và nhiều nhà khoa học đã cố gắng
tìm tòi và kiến giải bản chất của bạo hành gia đình. Từ đó, hình thành nên nhiều
định nghĩa - khái niệm khác nhau về bạo hành gia đình, nhìn chung hầu hết các
khái niệm đều cho rằng: “Bạo hành gia đình là một hiện tượng một hay nhiều
thành viên trong gia đình dùng quyền lực thực hiện hành vi làm cho người khác
đau đớn về thể xác, bị khủng hoảng về tinh thần và bị bế tắc về mặt xã hội, nhằm
khuất phục, khống chế và kiểm soát người đó về mặt xã hội”
Bản chất và các hình thức bạo hành gia đình:
- Bản chất của bạo hành gia đình:
Đó là vi phạm các quyền cơ bản của phụ nữ và trẻ em, các thành viên
trong gia đình, vi phạm vào hệ thống pháp luật và đạo đức truyền thống của
Việt Nam và thế giới, bạo hành gia đình là hành vi bị nghiêm cấm.
- Các hình thức của bạo hành gia đình:
Bạo hành gia đình có nhiều hình thức mà rất nhiều người còn mơ hồ về
khái niệm. Đôi khi không phải cứ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay mới là bạo
lực. Nhiếc móc, chửi rủa, cưỡng bức về tình dục cũng là bạo hành. Bạo hành
bằng sự im lặng, chì chiết, đay nghiến nhau thường diễn ra ở những gia đình
trí thức nhiều hơn. Nó là một sự biến tướng khó kiểm soát mà mức độ nghiêm
trọng cũng không kém bạo hành thể xác. Theo nhiều công trình nghiên cứu
thì bạo hành gia đình có những dạng cơ bản sau:
+ Bạo hành về thể xác:
Bạo hành thể xác là hành vi mà một hay nhiều thành viên đánh đập, sử
đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam nữ, không
đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng. ( Luật phòng
chống bạo lực gia đình. Khoản 1, Điều 2)
20
1.2.4. Khái niệm phụ nữ bị bạo hành trong gia đình
Tháng 12/1993, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra định nghĩa về bạo
lực gia đình: “Bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến,
hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý hay
những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy,
sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công
cộng hay trong đời sống riêng tư”. (United Nations 1995:73: UNIFEM 1998)
Phần lớn phụ nữ bị bạo hành trong gia đình là bạo hành về thể chất và
do người đàn ông thực hiện đối với phụ nữ và người ta khó lòng có thể biết rõ
được các nguyên nhân sâu xa dẫn đến nạn bạo hành này. Người ta gọi hiện
tượng này là bạo hành trên cơ sở giới: “Phần lớn bạo hành chống lại phụ nữ
xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo hành gần như luôn là đàn ông,
thường là những người chồng hoặc chồng cũ hay người đàn ông là tình cũ của
phụ nữ” (WHO 1998:5)
1.2.5.Công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên
nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá
nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn
lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững.
Nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo một cách
chuyên nghiệp về công tác xã hội mà hành động của họ nhằm mục đích tối ưu
hóa sự thực hiện vai trò của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, góp phần tích cực vào cải thiện, tăng cường chất lượng cuộc sống của cá
nhân, nhóm và cộng đồng.