luận văn tốt nghiệp thực trạng sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình” qua khảo sát tại thôn đồng vang xã kim long huyện tam dương tỉnh vĩnh phúc, - Pdf 27

I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong lịch sử phát triển xã hội, loài người đã biết đến chế độ mẫu hệ,
lúc đó quyền lực trong dòng tộc thuộc về người phũ nữ. Xã hội phát triển,
thay đổi, chế độ mẫu hệ dần bị thu hẹp lại và được thay thế bằng chế độ
phụ hệ, từ đó quyền lực thuộc về nam giới. Và trong sự phát triển, chính
nhờ sự mạnh mẽ về thể chất, sự cứng rắn về tinh thần của người đàn ông đã
góp phần củng cố cho địa vị thống trị của họ. Thế những, xã hội dần có
nhiều sự thay đổi, sức mạnh về thể chất không còn chiếm ưu thế tuyệt đối
nữa mà đồng thời xã hội cần những công dân có trí tuệ, có sức mạnh tư
duy, đó là những đặc điểm mà phụ nữ không hề thua kém nam giới.Trong
những năm gần đây trên thế giới, vai trò và vị trí của người phụ nữ được
nâng lên kể. Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới. Họ được tự do
học hành, được tham gia vào các hoạt động của xã hội theo khả năng của
mình, có được quyền bỏ phiếu, ứng cử
Theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2002, hàng
năm nền kinh tế toàn cầu đã bỏ qua khoảng 11 tỉ USD Mỹ từ thu nhập của
phụ nữ do họ làm những công việc gia đình mà không được tính công.
Thực tế, vô hình chung, công việc gia đình được coi như là nhiệm vụ riêng
của người phụ nữ, đó là những “lao động không công”, không được trả
lương và không được xã hội ghi nhận. Sự bất bình đẳng này tồn tại ở mức
độ này hay mức độ khác và không ngoại trừ một quốc gia nào.
Tại Việt Nam, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế - xã hội chuyển
từ tự cung, tự cấp, kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường sản xuất hàng
hóa nhiều thành phần có sự quản lí của nhà nước, theo hướng xã hội chủ
nghĩa. Điều đó có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến hoạt động kinh tế và đời
sống xã hội nói chung. Nhờ có sự chuyển biến định hướng đúng đắn có tính
1
chiến lược của Đảng và Nhà nước, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng
cao hơn. Cơ chế thị trường đi sâu vào mọi khía cạnh của đời sống, các mối
quan hệ của con người đang có sự thay đổi lớn. Mối quan hệ giữa các thành

hoạt động xã hội, có được vị trí và chỗ đứng cá nhân ở ngoài xã hội và bên
trong gia đình. Sự phân công lao động hợp lý các công việc trong gia đình
không những là chìa khóa để đảm bảo cho sự ổn định bền chặt, êm ấm của
gia đình, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của cả nam giới và nữ
giới về mọi mặt xã hội. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào về giới cũng đều cản trở sự phát triển bền vững,
tạo nên xung đột xã hội. Vì vậy, vấn đề bình đẳng giới mang ý nghĩa hết
sức sâu sắc về kinh tế, văn hóa, chính trị.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài về “ Thực trạng sự phân công lao
động giữa vợ và chồng trong gia đình” qua khảo sát tại thôn Đồng Vang -
xã Kim Long - huyện Tam Dương - tỉnh Vĩnh Phúc, để thấy được quan
niệm của người dân nới đây về sự phân công lao động giữa vợ và chồng
trong gia đình. Từ đó thấy rõ vai trò lao động của người phụ nữ trong gia
đình, bất bình đẳng giữa nam giới và nữ giới diễn ra như thế nào nhằm
góp phần để có cái nhìn đúng hơn về người phụ nữ. Thêm nữa, nó còn đề
ra những biện pháp và khuyến nghị để nâng cao hơn vai trò của người phụ
nữ, phát huy hết tiềm năng của người phụ nữ góp phần xây dựng một xã
hội ngày càng công bằng văn minh.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu:
Tác phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà
nước” (Engels, 1884) đã mô tả sự phân công lao động theo giới gắn liền
với các kiểu hôn nhân và gia đình, các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
khác nhau. “Giới tính thứ hai” (Simone De Beauvoir, 1949) đã giải thích
3
các nguyên nhân dẫn đến “địa vị hạng hai” của phụ nữ và lên tiếng đấu
tranh nhằm xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng nam – nữ trên thế giới. “Sự
huyền bí của nữ tính” (Betty Friedan, 1963) đã chỉ ra sự khốn khổ và thất
vọng của người phụ nữ nội trợ khi họ bị phụ thuộc vào nam giới. “Vai trò
của phụ nữ trong phát triển kinh tế” (Boserup, 1970) đã xác định một cách
có hệ thông và ở phạm vi thế giới sự phân công lao động giữa vợ và

Một tiến bộ khác nữa là phụ nữ có tiếng nói hơn trong cuộc sống cá
nhân cũng như ngoài cộng đồng. Trong thế kỷ 20, phụ nữ đã có quyền bỏ
phiếu và nắm giữ các vị trí dân cử ở hầu hết các nước - cho dù nhiều khi
chỉ là trên nguyên tắc. Với tư cách là người lao động, họ được pháp luật
dành cho sự bảo vệ đặc biệt khi những điều luật đó được xem là cần thiết.
Họ ngày càng có nhiều khả năng tiếp cận đến dịch vụ y tế và giáo dục. Họ
đang tập hợp nhau lại một cách hữu hiệu cả ở trong nước và quốc tế- để
xác định quyền của phụ nữ như những quyền con người và việc đưa vấn
đề giới vào quá trình hoạch định chính sách phát triển.
Đổi mới kinh tế ở Việt Nam những năm qua đã tác động mạnh mẽ tới
cơ cấu và sự phân công lao động nam- nữ trong gia đình. Quy mô gia đình
đang có xu hướng hạt nhân hoá nhưng các yêu cầu xã hội đối với chức
năng gia đình lại tăng lên. Gia đình vừa phải đảm bảo đời sống vật chất
(chức năng kinh tế) và tinh thần (chức năng duy trì tình cảm) cho các
thành viên của mình, vừa phải tích cực tham gia các hoạt động kinh tế xã
hội của cộng đồng. Vai trò của gia đình trong việc tạo công ăn việc làm,
tăng thu nhập và lành mạnh hoá các quan hệ xã hội luôn được nhấn mạnh
trong các văn bản, đánh giá và các nghiên cứu chính thức của các cá nhân
và tổ chức.
Nghiên cứu sự phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nông
thôn thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước sẽ giúp chúng ta
5
nắm bắt được sự biến đổi của gia đình, của kinh tế hộ, sự biến đổi khuôn
mẫu gia đình truyền thống đến hiện đại.
Các khu vực nông thôn nằm giữa khu thành thị và nông thôn nên
những biến đổi về kinh tế và văn hoá ở đây phức tạp và nhiều chiều hơn
các khu vực khác. Sự biến đổi đó tác động đến sự phân công lao
độngtrong các gia đình làm thay đổi mối quan hệ xã hội trong đó có mối
quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là mối quan hệ giới.
Vai trò của người phụ nữ bước đầu được chú trọng nhiều hơn trong các đề

đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp thu nhập, đóng góp thời gian
lao động sản xuất cho gia đình và xã hội. Song chưa nhấn mạnh đến sự
phân công lao động theo giới trong các gia đình nông thôn.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của người phụ
nữ và nam giới trong đời sống gia đình như :
- “Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ 21” trung tâm
nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, NXB thế giới,
Hà Nội 2000
- “Gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội” trung tâm nghiên
cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển, NXB khoa học xã hội
1995.
- “Người phụ nữ và gia đình Việt Nam hiện nay” trung tâm nghiên
cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, NXB khoa học xã hội 1991
- “Nghiên cứu và đào tạo giới ở Việt Nam” NXB khoa học xã hội
1999
- “Vai trò của nam chủ hộ ngư dân ven biển” tạp chí xã hội học 1998
- “Vai trò của người cha” tạp chí xã hội học 2002.
Nhìn chung, bức tranh phân công lao động giữa hai giới đã được dựng
lên khá rõ nét ở nhiều góc độ và hình thức nghiên cứu phong phú, nhưng
dường như các đề tài mới chỉ tập trung vào việc phân tích sự thay đổi vị
7
trí, vai trò của người phụ nữ thông qua các hoạt động sống của gia đình
nói chung.
Đời sống không ngừng biến đổi, vì thế sự phân công lao động gia đình
nói chung và sự phân công lao động các công việc nội trợ trong các gia
đình nói riêng cũng cần sự biến đổi, để tạo nên một môi trường xã hội
phát triển ổn định và bền vững. Trong báo cáo này, người viết cố gắng
nhìn nhận vấn đề từ cả hai góc độ quan điểm của những phụ nữ và nam
giới trong việc xem xét sự phân công lao động trong gia đình để thấy
được các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào các công việc gia đình

- Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình cơ bản dựa
trên mô hình phân công lao động truyền thống: Người vợ đảm nhận
những công việc thiết yêu của gia đình là nội trợ, một phần công việc
nông nghiệp.
- Người vợ đảm nhận vai trò chính trong việc chăm sóc con cái và gia
đình
- Người chồng đảm nhận chính các công việc sản xuất,
- Người chồng đại diện cho gia đình tham gia các hoạt động trong
dòng họ hay đoàn thể.
- Yếu tố kinh tế, văn hóa, học vấn, nghề nghiệp, tuổi tác động mạnh
mẽ đến sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình.
9
7. Khung lý thuyết:
10
Điều kiện kinh tế-văn hoá-xã hội
Các yếu tố thuộc
về cấu trúc gia
đình(độ dài hôn
nhân, nhóm tuổi).
Nhận thức về vai trò
giới của người vợ
và người chồng.
Sự phân công lao động theo giới trong
gia đình
Các công việc nội
trợ: đi chợ,nấu
nướng, giặt giũ,
dọn dẹp nhà cửa.
Công việc chăm
sóc các thành viên

8.2. Cơ sở lý luận.
8.2.1 Lý thuyết vị thế - vai trò
Lý thuyết xã hội học về vị thế vai trò cho phép nghiên cứu hành vi của con
người trong hệ thống của những cấp độ “cá nhân - nhóm xã hội - xã hội”. Nó
cho phép mở ra cơ chế cụ thể những liên hệ qua lại và tương tác của nó với
những yếu tố cơ cấu xã hội khác và với xã hội nói chung. Lý thuyết này
không chỉ mở ra sự phụ thuộc của các cá nhân và hành vi của họ với xã hội
11
và cơ cấu xã hội với môi trường xung quanh mà còn chú ý đến thế giới nội
tâm của cá nhân khi xác định hành động và hành vi. Nhưng lý thuyết vị thế -
vai trò chủ yếu phân tích hành vi của các cá nhân chứ ít hướng vào phân tích
hành vi của nhóm xã hội với tư cách là một chỉnh thể.
Cần thấy rằng sự phân công lao động theo giới trong gia đình vùng nông
thôn hiện nay trong bối cảnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thời kỳ
công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, do đó, nó không đơn thuần bị quy
định bởi vị thế - vai trò cá nhân của mỗi cá nhân mà còn bị qui định bởi các
yếu tố ở cấp độ vĩ mô như những biến đổi về chính sách phát triển kinh tế, cơ
chế thị trường và những thay đổi trong hệ giá trị văn hoá, trong thiết chế xã
hội, cơ cấu xã hội.
8.2.2 Lý thuyết về cơ cấu - chức năng
Sử dụng cách tiếp cận cơ cấu- chức năng trong việc làm rõ vị trí, vai trò
của các thành viên trong gia đình để thấy được mối quan hệ tương tác giữa
các thành tố của cơ cấu đó, đặc biệt là cơ cấu vai trò giới. Thông qua sự tương
tác này chúng ta sẽ đánh giá được việc thực hiện các chức năng của gia đình
trong điều kiện hiện nay.
8.2.3 Quan điểm xã hội học về cách tiếp cận giới tính
- Quan điểm của lý thuyết giới và phát triển
Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị
xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh cụ thể. Nói cách khác, giới
đề cập đến những khác biệt giữa nam và nữ do xã hội qui định. Do đó giới

đẳng giữa nam và nữ về lao động, việc làm và thu nhập cũng được một số tác
giả thuộc trường phái chức năng cho là cần thiết và “hợp lý” để đảm bảo trật
tự của hệ thống gia đình và xã hội.
Sự phân công lao động theo giới là hình thức tổ chức lao động trong xã hội
có từ rất lâu đời nhưng điều đó không có nghĩa là nó không bị biến đổi. Như
13
Mác và Ănghen đã nhận xét “Sự phân công lao động cũng phát triển, lúc đầu
chỉ là phân công lao động trong hành vi tình dục và về sau sự phân công lao
động tự hình thành hoặc hình thành một cách tự nhiên do những thiên tính
bẩm sinh, do những nhu cầu, do những sự ngẫu nhiên ”
Quan điểm giới và sự phát triển hiện nay không chỉ nhấn mạnh đến tương
tác vai trò của mỗi giới mà còn nhấn mạnh đến vai trò chủ thể của người phụ
nữ trong việc hoạch định thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh
tế,văn hoá, xã hội và sự tiến bộ của mỗi giới trong sự ổn định và phát triển xã
hội. Do đó, nó đòi hỏi sự xác định mục tiêu và biện pháp thích hợp đáp ứng
nhu cầu của mỗi giới, trong đó tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy năng lực của
mình, phát triển toàn diện, bình đẳng với nam giới cùng sự phát triển xã hội
bền vững.
Các lý thuyết, quan điểm xã hội học nêu trên đã bổ xung cho nhau và giúp
cho chúng ta có một cách tiếp cận nghiên cứu tổng - tích - hợp về sự phân
công lao động theo giới trong gia đình vùng nông thôn thời kỳ công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước.
8.3. Phương pháp thu thập thông tin.
Để thu thập thông tin xã hội học làm cơ sở cho việc phân tích các vấn đề
đặt ra, nghiên cứu này đã sử dụng một số phương pháp sau:
8.3.1 Phương pháp chọn mẫu.
Để phục vụ cho quá trình thu thập thông tin trong quá trình nghiên
cứu, đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu với nguyên tắc chọn mẫu là
dung lưỡng mẫu được xác định trên cơ sở chọn ngẫu nhiên.
Từ phương pháp này đề tài dự kiến chọn mẫu theo cách chọn ngẫu

cuộc phỏng vấn sâu đối với người dân tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh
Phúc nhằm khai thác thông tin theo chiều sâu cho đề tài nghiên cứu.
8.3.5 Phương pháp thu thập, xử lý và phân tích thông tin.
Ngoài các phương pháp luận như dựa trên nền tẳng của chủ nghĩa
Mác-Lênin, các lý thuyết Xã hội học, các lý luận phân công lao động,
bình đẳng xã hội , trên thực tế đề tài còn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu Xã hội học cụ thể để làm rõ hơn các vấn đề nghiên cứu.
8.3.6 Phương pháp quan sát.
Qua thực tế sinh hoạt và làm việc tại địa phương kết hợp với phỏng
vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi, tôi có sử dụng các biện pháp quan
sát như nghe, nhìn trong khi đi phỏng vấn để qua đó thu thập thông tin về
các hiện tượng liên quan tới mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Đồng thời
quan sát thái độ của người trả lời nhằm đánh giá độ chính xác của thông
tin thu được.
• Các vấn đề đạo đức và các cảnh báo về dữ liệu
Kết quả nghiên cứu được thu thập thông tin từ thực địa bằng phương
pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn cấu trúc do tác giả và đoàn nghiên cứu
thu thập thông tin.
Cảnh báo dữ liệu: Dữ liệu có thể bị sai lệch do điều tra viên lần đầu
tiên
9. Hệ khái niệm.
9.1. Khái niệm lao động.
Lao động là một thiết chế xã họi trong đó hoạt động con người được
định hướng, được tổ chức, sắp xếp nhằm tạo ra những sản phẩm đáp ứng
16
nhu cầu cá nhân, của nhóm và của xã hội. (Lê Ngọc Hùng – tập bài giảng
XHH Lao động).
Xã hội học xem xét “lao động” với tư cách là hiện tượng xã hội nảy
sinh, biến đổi và phát triển trong bối cảnh xã hội. Trong đề tài này “lao
động” được nhìn nhận trong sự liên quan với quan hệ giữa vợ và chồng

tư hữu và Nhà nước”, Mac và Anghen đã nhận xét “Sự phân công lao
động là hoàn toàn có tính chất tự nhiên, chỉ tồn tại giữa nam và nữ, lúc
đầu đó chỉ là sự phân công lao động trong hành vi tình dục, về sau sự
phân công lao động chuyển thành sự phân chia phạm vị hoạt động theo
giới một cách tự nhiên và đã dẫn đến sự sở hữu có tính đặc trưng theo
giới, mỗi giới làm chủ trong lĩnh vực hoạt động của riêng mình”. Trong
các xã hội, sự phân công lao động theo giới biểu hiện qua sự phân chia
khu vực lao động nghề nghiệp. Ngoài ra, sự phân công lao động theo giới
còn thể hiện trong cách tổ chức cuộc sống gia đình.
“Phân công lao động trong gia đình” là sự đảm nhiệm các công việc
trong gia đình của vợ, chồng và các thành viên khác trong gia đình nhằm
thực hiện những chức năng của gia đình trong chăm sóc, giáo dục đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển ổn định của gia đình. Sự phân công lao
động trong gia đình chủ yếu dựa trên 3 nhóm công việc: các công việc tạo
thu nhập, các công việc tái tạo sức lao động và các hoạt động nhằm duy trì
mối liên hệ giữa các thành viên trong gia đình với họ hàng, cộng đồng
Phân công lao động theo vợ chồng là yếu tố hình thành vai trò giới
trong gia đình và xã hội. Phụ nữ có vai trò biểu đạt tình cảm, nam giới có
vai trò là công cụ tạo ra thu nhập. Theo thuyết chức năng, lao động của
phụ nữ có chức năng tình cảm và lao động của nam giới có chức năng tư
duy và hành động giải quyết vấn đề.
18
9.3. Khái niệm “gia đình”.
Gia đình là một tập thể xã hội có từ hai nguời trở lên trên cơ sở huyết
thống, hôn nhân hay nghĩa dưỡng cùng sống với nhau. Gia đình là một cơ
chế trung tâm của tất cả con người, là thiết chế xã hội đặc biệt tập hợp
nhau về thân phận, vai trò, chuẩn mực và lương tri để đạt tới các mục tiêu
xã hội quan trọng. Các mục tiêu này bao gồm cả sự kiểm soát xã hội về
sinh đẻ, xã hội hoá của xã hội mới và vị trí của trẻ em trong xã hội rộng
lớn. Gia đình mang dấu ấn của xã hội và đến lượt mình gia đình cũng

về mặt sinh học nhưng mọi văn hoá đều lí giải và quy định chi tiết những
khác biệt sinh học vốn có đó thành một hệ thống những kỳ vọng xã hội về
những hành vi và hành động được coi là thích hợp, những quyền hạn,
nguồn lực hay quyền lực mà họ có. Tuy những kỳ vọng trong các xã hội
khác nhau thì không giống nhau nhưng vẫn có những điểm tương đồng
nổi bật. Thí dụ, hầu như tất cả các xã hội đều coi phụ nữ và các bé gái có
vai trò chính yếu trong việc chăm sóc trẻ em và con cái; còn nghĩa vụ
quân sự hay tham gia quốc phòng là việc của nam giới.
Giống như màu da, chủng tộc và đẳng cấp, giới là một phạm trù xã hội
có vai trò quyết định chủ yếu đến cơ hội cuộc sống của con người, xác
định vai trò của họ trong xã hội và trong nền kinh tế. Trong khi một vài xã
hội không có sự phân biệt về màu da hay chủng tộc thì tất cả các xã hội lại
đều không có sự tương xứng về giới- khác biệt và thiên lệch ở các mức độ
khác nhau.Thông thường những sự không tương xứng đó cần phải có thời
gian để thay đổi nhưng còn lâu mới đạt tới trạng thấi ổn định.
“Giới” và “giới tính” khác nhau ở các đặc trưng của nó. “giới tính” có
đặc trưng sinh học còn “giới” có những đặc trưng xã hội. Hai cá thể
“nam” và “nữ” sinh ra đã được quy định về giới tính nhưng phải trải qua
cả một quá trình học hỏi những giá trị, chuẩn mực mà xã hội quy định,
20
mới có thể mang trong mình những đặc tính giới, mới có thể trở thành
“nam giới” và “nữ giới”.
9.3.3 Vai trò giới
Là một khái niệm được sử dụng như là cách thức tổ chức hành vi của
con người trong một ý nghĩa tổng thể. Nó ứng xử như một cơ chế để hiểu
được những cách thức mà ở đó những trông đợi của xã hội, những hành
động được phản ánh, những khuân mẫu chung về những hành vi được
trông đợi. Dựa trên sự hiểu biết các quan hệ giới sẽ dẫn đến sự xác định
các vai trò của nữ giới và nam giới. Những vai trò này hướng dẫn các
hành vi của hai giới được xem như là phù hợp với những mong đợi của xã

nghĩ về ý nghĩa và tầm quan trọng của CEDAW trong thực tiễn - TS. Lê Thị
Quí). Bình đẳng giới là mọi vấn đề của cả hai giới, phải được xem xét trong
quan hệ với nhau và dựa trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt tự nhiên của cả
hai giới.
22
II. NỘI DUNG CHÍNH
1. Bối cảnh của địa bàn nghiên cứu
 Về điều kiện tự nhiên
Tam Dương là huyện nằm ở khu vực trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc, tổng diện
tích tự nhiên năm 2009 là 10.718,55 ha; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo, huyện
Lập Thạch, huyện Sông Lô; phía Nam giáp Thành phố Vĩnh Yên và huyện
Yên Lạc; phía Đông giáp huyện Bình xuyên; phía Tây giáp huyện Lập Thạch
và Vĩnh Tường. Huyện hiện có 13 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn: Thị trấn
Hợp Hòa, các xã: Đồng Tĩnh, Hoàng Hoa, Hướng Đạo, An Hòa, Đạo Tú, Kim
Long, Duy Phiên, Hoàng Đan, Thanh Vân, Hợp Thịnh, Vân Hội và xã Hoàng
Lâu.
Là đơn vị hành chính của tỉnh có địa thế chuyển tiếp giữa đồng bằng
trung du và miền núi; nằm trên trục phát triển quan trọng, kết nối Sơn Dương
- Tam Đảo - Việt Trì - Vĩnh Yên - Phúc Yên và thủ đô Hà Nội. Tam Dương
giáp ranh với Thành phố Vĩnh Yên - là trung tâm chính trị kinh tế xã hội của
tỉnh đồng thời cũng tiếp giáp với huyện Tam Đảo; gần kề với nhiều trung tâm
phát triển; khu công nghiệp, khu nghỉ mát; có nhiều di tích lịch sử và danh
lam thắng cảnh.
Trên địa bàn huyện Tam Dương, có hệ thống các đường quốc lộ, đường
tỉnh lộ (quốc lộ 2, 2B, 2C và tỉnh lộ 310, 305, 316, 306) và tuyến đường sắt
Hà Nội - Lào Cai chạy qua. Triển vọng có tuyến đường cao tốc Hà Nội-Lao
Cai được xây dựng mới. Các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ đều đang được cải tạo,
nâng cấp. Đặc biệt trục giao thông đối ngoại cao tốc Hà Nội-Lao Cai có 2 nút
giao thông đấu nối với quốc lộ 2B và 2C tại địa bàn huyện là nút Kim Long
và Đạo Tú tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho giao lưu kinh tế từ địa bàn Tam

bộ huyện lần thứ 27 và chỉ tiêu của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã
hội huyện đến 2010 đặt ra. Tuy nhiên Tam Dương vẫn thuộc huyện nghèo,
24
kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, thu nhập bình quân đầu người/
năm mới đạt bằng 2/3 mức bình quân đầu người của cả tỉnh Vĩnh Phúc.
Dân số trung bình năm 2010 của huyện Tam Dương là 96.142 người. Tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên hàng năm đạt mức khá cao. Phân bố dân cư không đồng
đều trong các xã, thị trấn, chủ yếu là cư dân sống ở khu vực nông thôn (chiếm
90,2%). Số người trong độ tuổi lao động khá cao khoảng 60.450 người, chiếm
53,16% trong tổng số dân cư toàn huyện. Mật độ dân số của huyện khoảng
889 người/km
2
.
Tam Dương là huyện có quy mô dân số trung bình, tốc độ tăng gia dân số
không cao, với chỉ số gia tăng là 1,232%. Lao động nông lâm nghiệp thủy sản
có khoảng 34.007 người chiếm 77% tổng lao động các ngành trong huyện.
 Về Kinh tế :
+ Giai đoạn (2001-2005) thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của huyện Tam Dương theo nghị quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ
26 nhiệm kỳ (2001-2005) và qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn huyện (2001-2010), kinh tế huyện Tam Dương có sự phát triển khá
ổn định. Tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 13,3%/năm, trong đó nhóm ngành
nông lâm-thủy sản tăng 6,6%/năm, công nghiệp-xây dựng tăng 21,5%/năm,
thương mại-dịch vụ tăng 14,5%/năm. Qui mô kinh tế huyện năm 2005 tăng
gấp 1,72 lần so với năm 2000. Thu nhập bình quân đầu người năm 2000 đạt
2,04 triệu đồng, năm 2005 đạt 5,8 triệu đồng (giá thực tế)
+ Giai đoạn (2006-2010), thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của Nghị
quyết đại hội đảng bộ huyện lần thứ 27, mặc dù gặp nhiều khó khăn thách
thức như diễn biến phức tạp các dịch bệnh và thời tiết, biến động của giá cả
vật tư, kinh tế - xã hội trên địa bàn Huyện tiếp tục phát triển và đạt tốc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status