Luận văn tốt nghiệp “Thực trạng về công ty cổ phần XNK thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định (Artexport Nam Định)” - Pdf 69



KHOA QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
…………..o0o…………..

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Thực trạng về công ty cổ phần XNK thủ công mỹ nghệ tỉnh
Nam Định (Artexport Nam Định) Sinh viên: Nguyễn Thành Chung
Lớp : 7A13

Từ năm 1973-1993 xí nghiệp với vai trò là một doanh nghiệp quốc doanh đã
thực hiện nhiệm vụ của mình là phân phối hàng hóa theo địa lý và định lượng. Chế
độ hạch toán kinh doanh mang tính chất hình thức, song đã góp phần đáng kể
vào
việc hoàn thành mục tiêu của chính sách kinh tế nước ta thời kỳ này.
Đến tháng 4 năm 1993 thực hiện quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi
tên xí nghiệp thành công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định.
Xuất phát từ một xí nghiệp sản xuất đay cói thuần túy, công ty đã nghiên cứu thị
trường cung cầu trong nước, quốc tế và quyết định khai thác ngành hàng thủ công
mỹ nghệ. M
ột mặt do đặc điểm sản xuất kinh doanh mặt hàng này vốn đầu tư ít
mà lợi nhuận cao. Mặt khác trong thời kỳ thập niên 70-80 xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ đạt được nhiều thành tựu rực rỡ.
Bước sang thập niên 90, sau khi mất thị trường Đông Âu và Liên Xô năm
1991, hàng thủ công mỹ nghệ đã trải qua bao gian truân vất vả trong cơ chế mới
để tổ chức lạ
i sản xuất kinh doanh, chuyển đổi thị trường, tìm và xây dựng lại
Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Lớp 7A13
2
quan hệ bạn hàng. Nhờ đó liên tục hai năm 1999-2000, nhóm hàng này được liệt
vào danh sách 10 mặt hàng xuất khẩu tăng trưởng cao nhất.
Để hòa nhập vào nền kinh tế thị trường, ngày 1-1-2000 thực hiện quết định
số 2/95 UBND tỉnh Nam Định chuyển doanh nghiệp nhà nước công ty xuất nhập
khẩu thủ công mỹ nghệ tỉnh Nam Định thành công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ
công mỹ nghệ Nam Định (Artexport Nam
Định). Với số vốn điều lệ 1,1 tỷ đồng,

kinh doanh càng lớn và số doanh nghiệp bị phá sản càng nhiều. Nếu một công ty
do nhiều người cùng tham gia quản lý, tập trung được trí tuệ, có nhiều nguồn
thông tin sẽ hạn chế được rủi ro. Vì những lý do trên, công ty cổ phần là hình thức
tổ chức kinh doanh được nhiều người tín nhi
ệm nhất và nó đã trở thành phổ biến ở
tất cả các nước có nền kinh tế thị trường.
Từ ngày 15/04/1991, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ban hành Luật công ty, để “Thực hiện đường lối phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, lao động và tài
nguyên của đất nước, tạo thêm việc làm, bảo hộ l
ợi ích hợp pháp của người góp
vốn đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà
nước, đối với các hoạt động kinh doanh của nền kinh tế cổ phần”.
3.2. Bộ máy lãnh đạo
Hội đồng quản trị: Là cơ quan thường trực của đại hội cổ đông, do đại hội
cổ đông bầu ra và được đại h
ội cổ đông uỷ quyền cho quản lý toàn bộ tài sản và
các hoạt động kinh doanh của công ty trong pham vi chức năng quyền hạn của
mình, những vấn đề ngoài chức năng và quyền hạn phải trình đại hội cổ đông
quyết định, hội đồng quản trị không điều hành bộ máy sản xuất kinh doanh của
công ty, nên được tổ chức gọn nhẹ, bao gồm những người có trình độ
chuyên môn
cao và trình độ quản lý giỏi.
Hội đồng quản trị của ARTEXPORT Nam Định gồm có năm uỷ viên. Số uỷ
viên này do đại hội công nhân viên chức của công ty bầu ra.
Nhiệm vụ của hội đồng quản trị:
Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Hội đồng quản trị

Ban giám đốc

Các
chi
nhánh

Lạng Sơn

TP HCM

Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Lớp 7A13
5


kế
toán
tài vụ

Phòng
kế
hoạch
thị
trường

Phòng
kinh
doanh
1

Phòng
kinh
doanh
2

Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Lớp 7A13
6
b/ Các chi nhánh: chi nhánh Lạng Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng
Tàu. Các chi nhánh này có nhiệm vụ bán và giới thiệu các mặt hàng thủ công mỹ
nghệ như thảm len, hàng mây tre đan, sơn mài và nông sản.
c/ Các phân xưởng: Phân xưởng sản xuất thảm len, quần áo len.

7
tiên. Máy móc sản xuất được nhà nước bán với giá rẻ mà chất lượng tương đối,
máy móc thiết bị sản xuất được đầu tư đổi mới qua từng năm. Trong một vài năm
vừa cổ phần lợi nhuận thu được sau mỗi năm các cổ đông đã đồng ý để lại đầu tư
cơ sở vật chất và trang thiết bị. Chính vì thế lợi nhuận hàng năm tăng đều đều.
Năm 2004 Công ty vừa nhập khẩu một số máy dệt len của Châu Âu để phục
vụ cho việc sản xuất thảm. Mặt hàng thảm len là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
công ty. Ngoài ra một số máy se sợi, quay len cũng được đầu tư đổi mới liên tục.
Việc sản xuất của công ty không làm ảnh nhiều đến môi trường xung quanh
do máy móc dệt len không gây ra ô nhiễm nhiều mà có chăng chỉ là tiếng ồn nhỏ,
nhưng việc đó cũng đã được công ty khắc phục triệt để.
Sản xuất ra nhiều nhưng công tác phát triển thị trường, tiêu thụ sản phẩm
của công ty chưa được như ý muốn, hàng tồn kho hàng năm tương đối lớn đó cũng
chính là vấn đề còn tồn tại trong công ty hiện nay.
Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Lớp 7A13
8
3. Quản lý giá thành và tài chính
Công ty táp dụng chính sách giá cạnh tranh cho hàng bán buôn theo phương
thức đơn đặt hàng của nước ngoài nhằm tăng thị phần thị trường. Chính sách giá
thấp để khuyến khích khách hàng dùng thử sản phẩm, chính sách giá cao nhằm lợi
dụng quan hệ giá cả - chất lượng để gây ảnh hưởng đến cảm nhận khách hàng về
chất lượng hàng hoá.
Mặt hàng nông sản khi phân phối vào thị trường nội địa có hai mức giá:Bán
buôn, bán lẻ.
STT Tên sản phẩm Quy cách
Đơn

Lớp 7A13
9
xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị, đặt thêm máy móc công ty tăng nguồn vốn bằng
cách huy động cổ đông đóng góp thông qua việc phát hành cổ phiếu mới và vay
vốn ngân hàng, các tổ chức, cá nhân ngoài công ty.
Công ty còn phát hành trái phiếu để vay vốn. Mỗi tờ trái phiếu là một bản
cam kết của công ty, cam đoan sẽ trả lại số tiền ghi trên trái phiếu vào một thời
hạn nhất định và cam kết trả lãi suất hàng năm kể từ ngay phát hành trái phiếu đến
ngày trái phiếu được trả hết. Vì thế với số vốn điều lệ chỉ là 1,1 tỷ đồng nhưng
doanh thu hàng năm của công ty để đạt trên 20 tỷ đồng.
III. Thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của ARTEXPORT Nam Định
1. Về sản phẩm
Artexport Nam Định vừa là một doanh nghiệp sản xuất vừa là doanh nghiệp
kinh doanh các mặt hàng tổng hợp.
a. Đặc điểm về các mặt hàng sản xuất của Cty.
Cty sản xuất áo len, thảm len – cói - đay, hàng nông sản, hàng thủ công mỹ
nghệ.
Theo các hình thức:
- Quần áo len: Nhập nguyên liệu từ Cty CP len Hà Đông, Vĩnh Thịnh, Bình
Lợi và len Trung Quốc (nhập khẩu sợi acrylic) về để dệt quần áo len.
- Thảm len, đay, cói: Cty thu mua nguyên liệu từ các vùng nguyên liệu lân
cận và có uy tín ở khu vực phía Bắc: Cói Ninh Bình, đay Hưng Yên... Sau đó tự
sản xuất tại xưởng hoặc đặt hàng thuê dân làm sản phẩm.
Do phương thức bán hàng và chào hàng, đơn đặt hàng nên toàn bộ mẫu mã,
tiêu chuẩn về chất lượng đều làm theo tờ rơi gửi cùng đơn đặt hàng của khách hàng
nước ngoài. Các khâu thu mua nguyên liệu, sản xuất, đóng gói, vận chuyển phía
doanh nghiệp đều tự lo (không tham gia vào thị trường quốc tế theo phương thức
gia công quốc tế mà xuất khẩu trực tiếp) nhưng phải đảm bảo các yêu cầu chặt chẽ
của đơn hàng.
Luận văn tốt nghiệp khoa quản

Quốc. Trong đó, Nga, Nhật là 2 khách hàng truyền thống mà công ty có thế mạnh
về kinh nghiệm hiểu biết đặc tính thị trường và sẵn có khách hàng.
Hiện tại công ty dự kiến sẽ xuất khẩu sản phẩm quần áo len, thảm len của
mình sang thị trường Mỹ, đây là thị trường lớn với sức tiêu thụ mạnh. Công ty sẽ
xâm nhập thị trường này với chiến lược giá cả tương đối và chất lượng đạt yêu cầu
khắt khe của thị trường rất khó tính.
Luận văn tốt nghiệp khoa quản
lý doanh nghiệp

Nguyễn Thành Chung
Lớp 7A13
11
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu năm 2002 và năm 2003
Đơn vị tính: Tr.đ
2003 SO VỚI 2002
CHỈ TIÊU NĂM 2002 NĂM 2003
Số tuyệt đối tỷ lệ(%)
Nhập khẩu 3.618.550 4.139.000 520.450 114,38
Thép 2.456.000 3.210.000 754000 130,7
Đá sẻ 1.162.550 929.000 -233.550 79,91
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường)

Hoạt động xuất khẩu năm 2002 và năm 2003
Đơn vị tính: Tr.đ
2003 SO VỚI 2002
STT MẶT HÀNG XUẤT KHẨU
NĂM
2002
NĂM
2003

Về phương thức: Xuất khẩu trực tiếp bằng cách sử dụng đại diện thương
mại quốc tế. Công ty không thực hiện gia công quốc tế vì phương thức này thường
bị nước ngoài ép giá gia công rất thấp mặc dù có ưu điểm là được phía nước ngoài
bao tiêu sản phẩm. Việc sản xuất và bán sản phẩm cuối cùng cho khách hàng nước
ngoài theo đơn đặt hàng đã khai thác tối đa khả năng của công ty trong việc chủ
động nguồn nguyên liệu và điều phối các nguồn lực đầu vào.
Khi nhập khẩu các mặt hàng phục vụ xuất khẩu như nhập khẩu len, nhập khẩu
lọ, nắp lọ, để đóng dưa chuột xuất khẩu từ Trung Quốc, công ty được treo thuế nghĩa
là thuế nhập khẩu công ty chỉ phải nộp, nếu sau 275 ngày hàng xuất khẩu dùng
nguyên liệu này vẫn chưa xuất khẩu được. Nếu nhập khẩu để kinh doanh thì công ty
phải chịu thuế nhập khẩu, sau một thời gian (1 tháng) mới phải nộp.
2. Công tác Marketing của doanh nghiệp.
Cty đang tiến hành các chương trình quảng cáo định kỳ trong thời
gian ngắn nhằm mục đích làm cho các công ty thương mại quốc tế biết đến nhiều
hơn. Phương tiện truyền thông là tạp chí báo ngành kinh tế, báo ngành thủ công
mỹ nghệ và trên một số tờ báo chuyên ngành của nước ngoài.
Dưới sự hỗ trợ của phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, công ty
sẽ xây dựng trang web của riêng minh để tuyên truyền quảng bá hình ảnh của công
ty, giới thiệu sản phẩm, hỗ trợ giao dịch với khách hàng quốc tế.
Hiện nay trong nước, quốc tế, công ty đều đưa các sản phẩm của mình tham
dự hội chợ thương mại quốc tế (EXPO), sử dụng các của hàng, quầy hàng giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status