ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
NGÔ THỊ THÙY
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CỦA LÃO
TỬ QUA SÁCH “ĐẠO ĐỨC KINH”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI- 2015
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGÔ THỊ THÙY
TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ-XÃ HỘI CỦA LÃO
TỬ QUA SÁCH “ĐẠO ĐỨC KINH”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số
: 60 22 03 01
2.3.1. Một số giá trị nổi bật………………………………………….………76
2.3.2. Một số hạn chế chủ yếu………………………………………….……78
KẾT LUẬN…………………………………………………….…...……….83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………..……..86
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Trung Quốc, thời Xuân Thu kéo dài từ năm 722 đến năm
481 trƣớc công nguyên với tình trạng chiến tranh liên miên, dân chúng lầm
than, đạo đức xã hội suy đồi. Chính trong điều kiện ấy đã xuất hiện nhiều triết
gia với nhiều học thuyết, tƣ tƣởng, quan niệm khác nhau. Đặc biệt vấn đề
chính trị đƣợc hầu hết các triết gia quan tâm và coi đó là trọng tâm trong học
thuyết, tƣ tƣởng, quan điểm của mình với mục đích giải quyết tình trạng loạn
lạc, bế tắc của xã hội đƣơng thời.
Trong hoàn cảnh đó, tƣ tƣởng của Lão Tử cũng hƣớng vào tìm kiếm
con đƣờng, phƣơng thức xây dựng một xã hội ổn định, xây dựng đời sống
hạnh phúc cho ngƣời dân. Ông không để lại nhiều tác phẩm, nhƣng theo nhiều
nghiên cứu thì chỉ có cuốn Đạo đức kinh với hơn 5000 chữ đƣợc coi là tập
trung toàn bộ tƣ tƣởng của Lão Tử. Nếu nhƣ Khổng Tử cho rằng xã hội cần đi
theo lễ nghĩa, Hàn Phi Tử cho rằng cần phải thi hành luật pháp thì Lão Tử lại
cho rằng, cần phải thực hiện “vô vi” để xây dựng một xã hội ổn định. Có thể
nói, Lão Tử đƣa ra một phƣơng cách giải quyết rất mới mẻ cho một vấn đề
nan giải trong xã hội đƣơng thời.
Không những thế, đối với ngày nay, khi mà đời sống con ngƣời ngày
càng văn minh hơn, con ngƣời cũng ngày càng có nhiều tham vọng hơn. Do
đó, vô hình trung, những tham vọng đó đã tàn phá chính thế giới mà chúng ta
đang sống. Nên nhiều ngƣời trong thế giới ngày nay đang tìm đến lối sống
Nguyễn Hiến Lê, ông đã trình bày một cách khá chi tiết về thân thế cũng nhƣ
5
sự nghiệp của Lão Tử, ngoài ra ông còn trình bày một cách khái quát nội dung
tƣ tƣởng của sách Đạo đức kinh sau đó mới là phần bình chú về sách Đạo đức
kinh.
Trong cuốn sách “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc”(2002), các
nhà nghiên cứu nhƣ PGS.TS Doãn Chính, PGS.TS Dƣơng Văn Chung,
PGS.TS Nguyễn Thế Nghĩa, PGS.TS Vũ Tình… đã trình bày khá cụ thể về
thân thế, cuộc đời của Lão Tử. Không những thế, các tác giả còn trình bày
khái quát về nội dung tƣ tƣởng của Lão Tử, trong đó có đề cập đến tƣ tƣởng
chính trị- xã hội của Lão Tử, nhƣng mới dừng lại ở khảo cứu một cách khái
quát. Việc nghiên cứu tƣ tƣởng chính trị- xã hội của Lão Tử trong cuốn sách
này đƣợc đặt trong toàn bộ nội dung tƣ tƣởng của ông mà chƣa đi sâu vào
nghiên cứu nội dung này.
Trong cuốn Tư tưởng Đạo gia(2008) của Hàn Sinh Tuyên, tác giả đã
trình bày những nội dung chủ yếu của phái Đạo gia, nhƣ tƣ tƣởng về vũ trụ, tƣ
tƣởng về nhân sinh,… Trong đó, tƣ tƣởng của Lão Tử và sách Đạo đức kinh
đƣợc trình bày một cách khái quát, nằm trong dòng quan điểm của phái Đạo
gia nói chung.
Hay cuốn Lão Tử tinh hoa(2013) của Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã
nghiên cứu một số luận điểm trong tƣ tƣởng của Lão Tử. Trong cuốn sách
này, tác giả nghiên cứu sách Đạo đức kinh theo những luận điểm, trình bày
một cách ngắn gọn, súc tích các luận điểm này và có liên hệ với thực tế.
Nhƣng cuốn sách này, cũng chƣa trình bày một cách cụ thể về nội dung các
quan điểm của Lão Tử.
Tất cả các sách mà các học giả đã nghiên cứu về Lão Tử hầu hết là
trình bày tƣ tƣởng của ông một cách khái quát hoặc lý giải các quan niệm của
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là các nguyên lý cơ bản của triết học Mác- Lênin,
các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam
về xã hội và con ngƣời.
- Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn quán triệt và vận dụng phƣơng pháp
biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, kết hợp với một số phƣơng pháp
nghiên cứu khoa học khác nhƣ phƣơng pháp phân tích- tổng hợp, đối chiếuso sánh, phƣơng pháp lịch sử triết học, phƣơng pháp văn bản học v.v…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ và hệ thống hóa những nội
dung chủ yếu trong tƣ tƣởng chính trị- xã hội của Lão Tử thông qua sách
“Đạo đức kinh” mà đến nay vẫn còn giá trị và bƣớc đầu đƣa ra một vài nhận
xét, đánh giá về giá trị trong tƣ tƣởng chính trị- xã hội của Lão Tử.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm và trình bày có hệ thống hơn
những nội dung chủ yếu trong tƣ tƣởng chính trị- xã hội của Lão Tử.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ngƣời nghiên
cứu quan tâm đến triết học Trung Hoa cổ đại nói chung và tƣ tƣởng của Lão
Tử nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 2 chƣơng, 5 tiết.
8
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH
TRỊ- XÃ HỘI CỦA LÃO TỬ TRONG “ĐẠO ĐỨC KINH”.
1.1. Điều kiện kinh tế- xã hội và tiền đề tƣ tƣởng
1.1.1 Điều kiện kinh tế- xã hội
chi phối hợp với nhau để tính giờ, ngày, tháng và năm. Can chi phối hợp với
nhau theo chu kỳ 60 năm gọi là một “hội”.
Ngƣời đời Ân cũng đã biết quan sát thiên văn, biết đƣợc sự vận hành
của mặt trăng và vị trí của nhiều ngôi sao, giải thích đƣợc hiện tƣợng nhật
thực và nguyệt thực, tính đƣợc chu kỳ nƣớc dâng, tìm ra quy luật sinh trƣởng
của các cây trồng mà làm ra âm lịch.
Về tín ngưỡng, tôn giáo: Trong thời kỳ nguyên thủy, chủ yếu trong đời
sống tinh thần của ngƣời Trung Quốc là tín ngƣỡng tô tem và bái vật giáo.
Nhƣng đến thời kỳ nhà Hạ, thay vào đó là những quan niệm sùng bái sức
mạnh các lực lƣợng tự nhiên mang tính chất tín ngƣỡng tôn giáo duy tâm với
các biểu tƣợng về thƣợng đế, chi phối vạn vật và vận mệnh con ngƣời, về
“linh hồn tổ tiên” và sự thờ phụng tổ tiên thịnh hành. Từ những tài liệu sử học
ngƣời ta đã xác nhận đƣợc rằng, trong ý thức của ngƣời Trung Quốc đã xuất
hiện quan niệm về sự bất tử của linh hồn. Sau khi con ngƣời ta chết đi, linh
hồn vẫn tiếp tục cuộc sống độc lập của nó. Hồn ngƣời chết có thể làm phúc
hay gây họa cho ngƣời sống. Ngƣời Trung Quốc còn sùng bái, tôn thờ uy thế
của những lực lƣợng trong tự nhiên là biểu tƣợng cho ý chí, sức mạnh, huyết
thống của tổ tiên bộ lạc mình.
Đến giai đoạn xuất hiện chế độ phong kiến giai cấp phong kiến đã lợi
dụng các biểu tƣợng tôn giáo để duy trì sự thống trị của mình. Núp dƣới cái
vỏ tín ngƣỡng tôn giáo thần bí, giai cấp quý tộc chủ nô luôn tuyên truyền
rằng, sự thống trị của họ đối với nhân dân trên mặt đất chẳng qua chỉ là sự thể
10
hiện mệnh lệnh và ý chí của trời mà thôi. Hơn thế nữa, trời còn có thể khen
thƣởng cho những ai làm điều thiện và trừng phạt nghiêm khắc những ai làm
điều ác, dám chống lại mệnh trời.
Về chế độ chính trị: sau khi chế độ thị tộc tan rã ở Trung Quốc, chế độ
đóng đô tại Hạo Kinh. Lịch sử gọi đó là thời kỳ Tây Chu.
Dƣới thời Tây Chu, lực lƣợng sản xuất của xã hội đã đạt tới trình độ
cao hơn nhiều so với thời Ân Thƣơng. Việc sử dụng các công cụ, vật dụng
bằng sắt bắt đầu xuất hiện đã thúc đẩy một số ngành thủ công nghiệp phát
triển, từ đó làm cho kỹ thuật canh tác đất đai đƣợc cải tiến, hệ thống thủy
nông dần hoàn thiện, quy mô sử dụng lực lƣợng lao động đƣợc mở rộng.
Chính sự phát triển của sản xuất đã thúc đẩy sự tiến bộ trong lĩnh vực khoa
học, kỹ thuật, lịch pháp, địa lý, y học, thiên văn và nhiều lĩnh vực khác.
Hệ thống chính trị ngày một hoàn thiện hơn. Thời Tây Chu, nhà Chu tự
xƣng là “thiên tử”, là lãnh chúa tối cao chiếm toàn bộ đất đai và thống trị thần
dân trong nƣớc. Vua nhà Chu đặt ra các chức quan nhƣ tƣ đồ, tƣ mã, tƣ
không, tƣ khấu chuyên phụ trách các công việc nhƣ tài chính, xây dựng, quân
đội, hình pháp và giáo dục. Chế độ giáo dục nhà Chu là chế độ mang tính chất
thế tập. “Thiên tử” phân phong đất đai, chức tƣớc cho anh em, họ hàng và
công thần làm chƣ hầu để họ dựng nƣớc và trị dân các nơi. Chƣ hầu lại phân
phong đất đai, chức tƣớc cho các bậc đại phu, quý tộc. Vì thế, chế độ phong
hầu kiến địa nhà Chu vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, vừa có ý nghĩa về mặt
kinh tế và huyết thống. Quyền hạn các chƣ hầu đƣợc định sẵn. Chu hầu cũng
có quân đội riêng nhƣng phải thuần phục mệnh lệnh của “thiên tử” nhà Chu.
Các chƣ hầu theo định kỳ hàng năm phải thực hiện chế độ triều cống, triều hội
đối với nhà Chu. Vì thế, các lãnh chúa lớn nhỏ ra sức bóc lột nông nô. Nông
nô hằng ngày bị thắt chặt vào ruộng đất của các lãnh chúa. Lao động nặng
nhọc, đời sống cực khổ đã đẩy nông dân công xã và nô lệ nổi dậy chống lại
bọn thống trị sống xa hoa trên xƣơng máu của nhân dân lao động.
12
Cùng với sự hoàn thiện hệ thống chính trị, nhà Chu tiến hành cải cách
quan hệ sản xuất, tiếp tục thi hành rộng rãi chế độ “tỉnh điền”. Chế độ “tỉnh
phía đông, đến Lạc Ấp, nhƣờng căn cứ Quan Trung cho Tần Tƣơng Công. Xã
hội Trung Quốc bƣớc vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời Xuân thu.
Về kinh tế: Thời Xuân thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời
đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt.
+ Về nông nghiệp: Việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến.Thời kỳ
này, hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trƣờng Giang. Diện tích đất đai
canh tác nhờ đó đƣợc mở rộng. Kỹ thuật trồng trọt cũng đƣợc cải tiến, tạo
điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp. Từ đó, ngƣời ta thấy
không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt
hay xấu nhƣ trƣớc nữa. Giờ đây, công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình
nông nô, cày cấy trong thời gian lâu dài. Vì vậy, nông dân có thể dùng
phƣơng pháp lƣu canh hay luân canh để tăng năng suất cây trồng. Mặt khác,
nhờ công cụ sản xuất bằng sắt phát triển và thủy lợi mở mang, ruộng đất do
nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tƣ ngày một nhiều. Bọn quý tộc có quyền
thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng tƣ. Chế độ “tỉnh điền” dần
tan rã. Sau đó, chế độ tƣ hữu ruộng đất còn đƣợc pháp luật nhà nƣớc thừa
nhận và bảo vệ.
Trƣớc kia, theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất của công xã chia đều cho
nông nô. Nông nô phải nộp một phần sản lƣợng nông phẩm thu hoạch đƣợc
cho thôn xã để nộp lên triều đình. Khi chế độ tƣ hữu ruộng đất phát triển, số
lƣợng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nƣớc đã bỏ hình
thức thu thuế cũ mà thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là
thuế sơ mẫu).
+ Thủ công nghiệp: Do việc sử dụng công cụ bằng sắt là phổ
biến cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công
trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đã đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn,
14
rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nƣớc nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên
hạ. Đầu thời Tây Chu, có hàng ngàn nƣớc, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn
hơn một trăm nƣớc.
Việc các nƣớc gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau cũng nhƣ các lãnh
chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn đến sự diệt vong của hàng loạt
nƣớc chƣ hầu nhỏ mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều
hội, triều cống, sự chinh phạt giữa các nƣớc chƣ hầu làm cho mâu thuẫn trong
giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày
càng gia tăng. Đặc biệt, các nghi lễ tôn nghiêm trƣớc đây đã từng góp phần
bảo vệ và làm hƣng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, đến lúc này cũng bị xem
thƣờng. Tình trạng lễ nghĩa, cƣơng thƣờng đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời kỳ
Xuân Thu biểu hiện ra qua các tệ nạn xã hội nhƣ “tiếm ngôi việt vị”, chƣ hầu
chiếm dụng lễ nghĩa của thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chƣ hầu.
Trong thời Xuân Thu, ngoài các cuộc chiến tranh thƣờng xuyên giữa
các nƣớc, trong từng nƣớc cũng luôn xảy ra những cuộc tranh giành đất đai,
địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc với nhau.
Với những điều kiện kinh tế- xã hội có nhiều biến động, đặc biệt là sự
rối loạn về chính trị, dẫn đến các cuộc chiến tranh liên miên, làm cho cuộc
sống của ngƣời dân lâm vào lầm than. Chính trong điều kiện này, đã thúc đẩy
nhiều nhà tƣ tƣởng hƣớng vào việc giải quyết thực trạng xã hội hiện tại và
đƣa xã hội trở lại an bình, thịnh trị, Lão Tử là một trong số đó.
1.1.2. Tiền đề tư tưởng
Trong giai đoạn Lão Tử sống, do điều kiện đặc thù về chính trị- xã hội,
xuất hiện nhiều nhà tƣ tƣởng, họ đều hƣớng học thuyết của mình nhằm tìm ra
phƣơng hƣớng khắc phục tình trạng rối loạn hiện thời của xã hội và tìm ra
chính sách cai trị đất nƣớc hợp ý nhất. Nổi bật có hai trƣờng phái đó là dùng
“đức trị” của Nho gia và dùng “pháp trị” của Pháp gia. Mỗi một trƣờng phái
16
17
đạo chi hoa, nhi ngu chi thủy” [30, tr.190] (Mất đức rồi mới có nhân, mất
nhân rồi mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ, lễ chỉ là cái vỏ mỏng của lòng
trung tín, mà cũng là đầu mối của hỗn loạn, tiền thức chỉ là hoa của đạo, mà
cũng là gốc của ngu). Nhƣ vậy, Lão Tử phê phán việc trọng “lễ” của Khổng
Tử, ông cho rằng, “lễ” chỉ là cái vỏ mỏng manh của lòng trung tín và là đầu
mối của loạn ly, do vậy, trong xã hội cần coi trọng là Đạo còn “nhân” “nghĩa”
“lễ” đều không cần thiết. Mà đạo của con ngƣời theo Lão Tử là khi sinh ra
con ngƣời đã có rồi, không cần phải dạy dỗ họ phải tuân theo đạo đức nữa.
Bởi vì theo ông, nếu mà bắt ngƣời ta phải làm thế này, không đƣợc làm thế
khác thì không còn là đạo nữa mà chỉ là việc làm của một tầng lớp ngƣời vì
lợi ích của mình mà đặt ra mà thôi. Ngoài ra, ông còn viết: “Tuyệt thánh khí
trí, dân lợi bách bội, tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ” [30, tr.110] (Dứt
thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần, dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại thảo lành). Ông cho
rằng, muốn cho dân không tham dục thì cần phải loại bỏ nguyên nhân dẫn đến
sự tham lam và dục vọng của họ, mà một trong những nguyên nhân cần loại
bỏ, chính là tôn sùng ngƣời tài, hay những bậc thánh nhân. Do vậy, Lão Tử
cũng bài bác chính sách “thƣợng hiền” của Khổng Tử, ông triệt để yêu cầu
thực hiện “vô vi” cả trong việc học và trị nƣớc.
Lão Tử còn phê phán quan điểm dùng “pháp trị” để cai trị đất nƣớc của
Pháp gia. Những nhà tƣ tƣởng theo phái này yêu cầu cần phải dùng luật pháp
để cai trị đất nƣớc, luật pháp đƣợc ban bố rộng rãi cho mọi ngƣời và bắt buộc
mọi ngƣời dân phải thực thi. Đi cùng với hệ thống luật pháp nghiêm minh là
phải thƣởng phạt một cách thỏa đáng, có nhƣ vậy mới răn đe đƣợc mọi ngƣời
trong xã hội và xã hội sẽ không loạn. Nhƣ theo Hàn Phi Tử, hình phạt nghiêm
khắc sẽ loại bỏ đƣợc sáu hạng ngƣời: bọn hàng giặc chạy dài, sợ chết; bọn tự
cao học đạo, tự lập ra các học thuyết và bọn lìa xa pháp luật; bọn ăn chơi xa
xỉ; bọn bạo ngƣợc, ngạo mạn; bọn dung thứ lũ giặc, giấu diếm kẻ gian; bọn
“vô vi” để trị, có nghĩa là nhà vua, ngƣời nắm chính quyền không nên can
19
thiệp vào cuộc sống của ngƣời dân mà hãy để cho họ tự lo lấy cuộc sống của
mình, hãy thuận theo tự nhiên mà sống. Dựa trên nền tảng những học thuyết
về chính trị- xã hội đƣơng thời, trong đó chủ yếu là phê phán chúng, Lão Tử
đã xây dựng lên quan điểm của mình về chính trị- xã hội có những nét độc
đáo và cách lý giải riêng.
1.1.3. Khái niệm tư tưởng chính trị - xã hội
Trƣớc hết, chúng ta phải hiểu thế nào là tƣ tƣởng? Theo định nghĩa phổ
thông nhất, tƣ tƣởng là sự phản ánh hiện thực trong ý thức, là phản ánh mối
quan hệ của con ngƣời với thế giới xung quanh.
Theo Từ điển triết học của M.Rodentan và P.Iudinh, tƣ tƣởng là phản
ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện của quan hệ của con ngƣời đối
với thế giới xung quanh. Bất cứ tƣ tƣởng nào cũng do chế độ xã hội, điều kiện
sinh hoạt vật chất của con ngƣời quyết định [20, tr.877].
Tƣ tƣởng là quan niệm, ý nghĩ chung của con ngƣời đối với hiện thực
khách quan. Tƣ tƣởng thuộc phạm trù ý thức, là sản phẩm chủ quan của con
ngƣời. Vì vậy, tƣ tƣởng nhƣ thế nào phụ thuộc vào đối tƣợng, phản ánh, môi
trƣờng xã hội và trình độ nhận thức của chủ thể tƣ tƣởng.
Tƣ tƣởng là một hệ thống những quan niệm, quan điểm đƣợc xây dựng
trên một nền tảng triết học (thế giới quan và phƣơng pháp luận) nhất quán, đại
biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc đƣợc hình thành
trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo
hiện thực.
Mỗi một xã hội có giai cấp đều đƣợc cấu thành từ bốn lĩnh vực cơ bản:
kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội. Chính trị là một trong bốn lĩnh vực cơ
bản đó. Trong lịch sử tƣ tƣởng chính trị của nhân loại, có nhiều cách hiểu,
thể thấy rõ trong thực tế, xoay quanh vấn đề quyền lực mà các chủ thể chính
trị thực hiện quan hệ hợp tác, thỏa hiệp hay đấu tranh, xung đột… tạo nên
toàn bộ sự phức tạp phong phú, đa dạng của đời sống chính trị.
21
Từ sự phân tích ở trên có thể định nghĩa: Chính trị là quan hệ giữa các
giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lƣợng xã hội trong việc giành, giữ
và thực thi quyền lực nhà nƣớc.
Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng, gồm nhiều mối quan
hệ khác nhau trong không gian và thời gian xác định nhƣ: quan hệ giữa các
giai cấp, giữa các đảng chính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với
các đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nƣớc, giữa nhà nƣớc với công
dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau: Chính sách- các quyết
định của các chủ thể chính trị, các thiết chế và thể chế chính trị, quan hệ con
ngƣời chính trị- giới lãnh đạo chính trị với công dân.
Tƣ tƣởng chính trị- xã hội còn là hệ thống những quan niệm, quan điểm
về toàn bộ những vấn đề về chính trị- xã hội của một dân tộc, một đất nƣớc
của một học giả nào đó.
1.2. Lão Tử và tác phẩm “Đạo đức kinh”
1.2.1. Vài nét về Lão Tử
Có khá nhiều truyền thuyết về Lão Tử, nhƣng thực chất chúng ta không
biết gì chắc chắn về cuộc đời ông. Ngay từ đời Chu, ba ngàn năm trƣớc, mỗi
một triều đại Trung Quốc đã có những sử quan ghi lại những diễn biến của
triều đại. Từ thời Tƣ Mã Thiên, đã có nhiều ngƣời tra cứu các sách sử cổ để
tìm hiểu xem Lão Tử là ngƣời nhƣ thế nào, nhƣng cũng chỉ đƣa ra đƣợc
những giả thuyết, đôi khi những giả thuyết này lại còn mâu thuẫn nhau làm
cho ngƣời ta càng thêm rối. Thậm chí, còn có học giả cho rằng, ông là một
tu đạo để kéo dài tuổi thọ.
Sau khi Khổng Tử mất 129 năm, sử chép rằng, viên thái tử nhà Chu tên
Đam, yết kiến Tần Hiến Công tâu: “Mới đầu Tần hợp với Chu, hợp đƣợc 500
năm rồi thì tách ra, tách đƣợc 70 năm thì có một bá vƣơng xuất hiện” [Dẫn
23
theo 29, tr.7]. Có ngƣời bảo Đam đó tức là Lão Tử, có ngƣời lại bảo là không
phải.
Ngoài ra, các bộ Tuân Tử, Hàn Phi Tử, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân
Thu cũng nhắc đến Lão Tử, nhƣng chỉ phê bình học thuyết của ông chứ không
nói gì thêm về đời sống của ông, trừ việc cho rằng: Lão Tử là thầy học của
Khổng Tử mà không ai có thể tin đƣợc.
Phải đến khoảng hai thế kỷ sau khi bộ Sử kí của Tƣ Mã Thiên ra đời,
chúng ta mới thấy đƣợc một tài liệu nữa trong bộ Tiểu đái kí, thiên Tăng tử
vấn, thuật lại việc Khổng Tử hỏi Lão Tử về lễ. Tất cả gồm ba “cố sự” đều do
Khổng Tử kể lại lời của Lão Tử về việc giữ bài vị của tổ tiên, về việc chôn
cất, về việc để tang. Duy có “cố sự” thứ hai là đáng chú ý: Lần đó Khổng Tử
theo Lão Tử làm trợ táng ở Hạng Đảng, giữa đƣờng gặp nhật thực, Lão Tử
bảo: “Khâu! Ngừng lại, đặt quan tài ở lề đƣờng bên phải, ngƣng tiếng khóc để
đợi sự biến đổi”. Khi hết nhật thực rồi, đám táng mới tiếp tục đi. Lão Tử nói:
“Nhƣ vậy là lễ”.
Các bản Sử kí lƣu hành hiện nay đều chép là Lão Tử gốc ở làng Khúc
Lí, hƣơng Lệ, huyện Hỗ nƣớc Sở. Nhƣng có ngƣời nhƣ Lục Đức Minh,
Khổng Dĩnh Đạt… lại bảo Sử kí chép là nƣớc Trần, huyện Tƣơng, hƣơng Lại.
Vậy có nhiều bản Sử kí do ngƣời đời sau sửa lại, không biết đƣợc bản nào là
gốc; chỉ biết Tƣ Mã Thiên không đƣa ra một giả thuyết nào khác, đa số học
giả từ trƣớc tới nay đều theo thuyết: nƣớc Sở, huyện Hỗ, hƣơng Lệ. Thực ra,
về địa điểm các thuyết đó đều giống nhau, chỉ có cách gọi là khác nhau. Ví dụ
hoàn toàn có thể.
Còn một số nghi vấn trong cuộc đời của Lão Tử, nhƣ Lão Tử có phải là
Lão Lai tử hay không, Tƣ Mã Thiên cho là không phải. Trong thiên “Trọng
Ni đệ tử”, ông bảo Khổng Tử vốn trọng Lão Tử ở Chu, Lão Lai tử ở Sở, nhƣ
vậy ông coi Lão Tử và Lão Lai tử là hai ngƣời. Trong truyện Lão Tử, ông
viết: “Có ngƣời bảo: Lão Lai tử cũng là ngƣời nƣớc Sở, viết mƣời lăm thiên
25