ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HƯƠNG LAN
XÂY DỰNG Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Nghiên cứu ở thành phố Hà Tĩnh) LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn Hà Nội - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn. Các số
liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu cuản luận
văn không trùng với các công trình khác
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hƣơng Lan
Nguyễn Thị Hương Lan
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÂY DỰNG Ý THỨC
CÔNG DÂN CHO HỌC SINH THPT TRONG ĐIỀU KIỆN
NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 8
1.1. Xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT 8
1.1.1. Khái niệm ý thức công dân 8
1.1.2. Các yếu tố tác động đến việc xây dựng ý thức công dân 12
1.2. Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 16
1.2.1. Bản chất và đặc điểm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam 16
1.2.2. Vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong việc xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT 20
1.3. Sự cần thiết và các hình thức xây dựng ý thức công dân cho học sinh 25
1.3.1. Sự cần thiết phải xây dựng ý thức công dân 25
1.3.2. Các hình thức xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT 28
1.4. Nội dung xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT 32
1.4.1. Xây dựng ý thức chính trị - tư tưởng 32
1.4.2. Xây dựng ý thức đạo đức 39
1.4.3. Xây dựng ý thức pháp luật 47
CHƢƠNG 2: XÂY DỰNG Ý THỨC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH
THPT Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 56
GDCD: Giáo dục công dân
GD-ĐT: Giáo dục đào tạo.
NXB: Nhà xuất bản
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
HCV: Huy chương vàng
UNICEF: Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
đang đặt ra những yêu cầu to lớn về việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của
nhân dân, nhất là của những người trẻ tuổi. Luật giáo dục của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kỹ năng cơ bản, phát
triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…” [33, Điều
27]. Đó cũng là đích đến của nền giáo dục Việt Nam, đòi hỏi nền giáo dục này
không chỉ chú trọng cung cấp tri thức cho người học, mà còn xây dựng từ họ những
cá nhân phát triển toàn diện, kết hợp trong con người cả “Tài” và “Đức”. Đối với
lứa tuổi học sinh trong giai đoạn hiện nay thì “tài” chính là tri thức, kiến thức, kỹ
năng học tập, kỹ năng làm việc và “đức” là đạo đức, là ý thức công dân, là nhân
cách làm người. Đây là hai yếu tố luôn song hành, gắn chặt với nhau tạo nên con
người hoàn thiện.
Để thực hiện được mục tiêu trên, dẫu ở bất cứ thời đại nào việc xây dựng ý thức
công dân cho thế hệ trẻ cũng là vấn đề trung tâm hàng đầu. Bởi các em chính là chủ
nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất
nước sau này. Nếu không có ý thức chắc chắn các em sẽ không thực hiện tốt trách
người nói chung và xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT nói riêng là công
việc mang giá trị nhân văn rất to lớn.
Hà Tĩnh là một tỉnh có truyền thống hiếu học, là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài cho
đất nước. Tuy vậy, qua khảo sát đặc điểm tình hình học sinh THPT, bên cạnh những
mặt tích cực vẫn còn tồn tại nhiều điều đáng lo lắng ở một bộ phận không nhỏ học
sinh. Đó chính là cách nhìn nhận suy nghĩ lệch lạc về chính trị tư tưởng, đạo đức lối
sống sa sút, nhiều hành vi coi thường pháp luật… vẫn đang còn xảy ra không những
chỉ trong gia đình mà còn cả ngoài xã hội. Tất cả những điều trên đang là vấn đề
nóng bỏng, là hồi chuông báo động mạnh mẽ trong xã hội, nhất là đối với ngành
giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
3
Vậy tại sao lại có hiện tượng đó xảy ra? Nguyên nhân của những vấn nạn trên có
cả khách quan và chủ quan. Trước hết là do sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị
trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức thế hệ trẻ. Bên cạnh đó công tác giáo
dục ý thức đạo đức, trách nhiệm của các nhà trường chưa đạt hiệu quả như mong
đợi, thậm chí có trường còn xem nhẹ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác xây
dựng ý thức công dân cho học sinh.
Xuất phát từ những vấn đề trên, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn
học giáo dục công dân tôi rất trăn trở. Chính vì vậy nên tôi đã mạnh dạn chọn vấn
đề Xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT trong điều kiện nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay (Nghiên cứu ở thành phố Hà Tĩnh)
làm đề tài luận văn thạc sĩ chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ngược dòng lịch sử từ trước đến nay nghiên cứu về vấn đề xây dựng ý thức
công dân cho học sinh THPT trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
ở Việt Nam hiện nay đã nhận được sự quan tâm của một số tác giả ở các góc độ
khác nhau. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể đầy đủ,
trọn vẹn các vấn đề về xây dựng ý thức công dân cho học sinh THPT trong điều
kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà mới chỉ đi sâu nghiên
Bên cạnh đó có các luận án tiến sĩ, luận văn như Những đặc điểm của quá trình
hình thành ý thức pháp luật ở Việt nam hiện nay của Đào Duy Tấn (2001). Luận
văn thạc sĩ triết học của Lê Thị Tuyết Thu (2011),Giáo dục ý thức pháp luật cho
học sinh phổ thông ở thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai hiện nay, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội. Nói về thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho công dân đã có bài
viết chia sẽ trên trang web http://luanvan.co/luan-van/thuc-trang-tuyen-truyen-pho-
bien-giao-duc-y-thuc-phap-luat-cho-nguoi-dan-8363/.
Khi bàn về vấn đề giáo dục ý thức chính trị tư tưởng Đảng ta đã đưa ra các chủ
trương, đường lối, cương lĩnh và một số nghị quyết chuyên đề về công tác tư tưởng
như: Nghị quyết 01/BCT ngày 23/8/1992 và Nghị quyết 09 của bộ chính trị ngày
18/02/1995 về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng; Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 6 khóa VIII (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW
5
Đảng khóa IX ngày 18/3/2002 về Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng lý luận
trong tình hình mới. Trên tờ báo Thái Nguyên có bài viết trao đổi xung quanh Nhóm
giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Bộ giáo dục và Đào tạo cũng có Chỉ thị số 2516 /CT – BGD&ĐT ngày 18/5/2007
về Thực hiện cuộc vấn động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” trong ngành giáo dục. Tiếp đến ngày 27/10/2009 Bộ giáo dục và đạo tạo đã
đưa ra Chỉ thị số 7823 /CT – BGD&ĐT, xác định thực hiện cuộc vận động Mỗi thầy
cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Bộ coi đây là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm, có tính pháp lý của ngành và đưa thành một trong
những tiêu chí thi đua để nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức của
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Vì muốn việc xây dựng ý thức công
dân cho học sinh trong nhà nhà trường có hiệu quả thì mỗi giáo viên phải là một
tấm gương sáng cho học sinh noi theo.
Bên cạnh đó, vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng môn
GDCD cũng được nhiều tác giả quan tâm bằng những sáng kiến kinh nghiệm, bài
báo như trên trang web của tỉnh Vĩnh Phúc có bài báo Thực trạng việc dạy - học
học sinh THPT trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng xây dựng ý thức công dân cho học sinh
THPT ở thành phố Hà Tĩnh, làm rõ những nguyên nhân của hạn chế;
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng ý thức công dân cho học
sinh THPT ở thành phố Hà Tĩnh trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề xây dựng ý thức công
dân cho học sinh THPT ở thành phố Hà Tĩnh trong điều kiện nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
* Phạm vi: Xây dựng ý thức công dân cho lứa tuổi học sinh THPT trên địa
bàn thành phố Hà Tĩnh trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây.
7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm triết học và chính trị học Mác
- Lênin, phần quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục - đào tạo, nhất là đối với thế hệ
trẻ để làm sáng tỏ vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của xây dựng ý thức công dân
cho học sinh THPT trong điều kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương luận duy vật biện
chứng và duy vật lích sử, với các phương pháp thống nhất lịch sử - logic, so sánh,
phân tích - tổng hợp, phỏng vấn và điều tra xã hội học.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp thêm tiếng nói lý luận cho sự cần thiết phải tăng cường xây
dựng ý thức công dân cho học sinh ở bậc học phổ thông trung học trong điều kiện
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
- Làm rõ hơn những nội dung cơ bản của việc xây dựng ý thức công dân cho
xác định sự phụ thuộc về mặt pháp lý của người đó đối với nhà nước” [44, tr. 107].
Công dân Việt Nam là “người dân của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc tịch Việt Nam là căn cứ duy nhất để xác định một người là công dân Việt
Nam. Người có quốc tịch việt Nam là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” [45, tr.107]. Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2013, quy định rõ: Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Như vậy, công dân là người được pháp luật
của một nước xác định là thành viên của chính nước đó và họ được nhà nước của
mình bảo hộ cả khi ở trong nước, lẫn ở nước ngoài, đồng thời công dân phải thực
hiện một số nghĩa vụ đối với nhà nước.
Ý thức công dân là khái niệm phản ánh trình độ nhận thức của công dân về quyền
lợi và nghĩa vụ của mình đối với bản thân, gia đình, xã hội, đất nước, nó được biểu
hiện trong nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi con người cụ thể.
Ý thức công dân là phẩm chất quan trọng của nhân cách, nó được hình thành và
phát triển thông qua giáo dục và trải nghiệm các hoạt động thực tiễn lâu dài. Có thể
làm rõ hơn bản chất của ý thức công dân thông qua việc nêu và phân tích các đặc
điểm và kết cấu của ý thức công dân.
9
* Ý thức công dân có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Ý thức công dân luôn chịu sự quyết định của tồn tại xã hội. Ý thức công
dân do tồn tại xã hội quyết định, khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức công dân cũng
thay đổi theo. Nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội theo quan điểm của
triết học Mác chứng minh rằng: Ý thức xã hội của một cộng đồng xã hội không phải
là cái cố hữu bất biến của con người, của xã hội mà nó chỉ là sự phản ánh của tồn tại
xã hội hiện thực. Do đó, một khi tồn tại xã hội thay đổi thì nhất định sẽ dẫn đến sự
thay đổi của ý thức xã hội. Sự thay đổi đó có thể diễn ra nhanh hay chậm, nhưng nó
cũng sẽ phải thay đổi. Đây là một nguyên lý khách quan trong sự vận động và phát
triển của xã hội.
Từ nguyên lý trên chúng ta thấy ý thức công dân cũng chịu sự quy định chung đó,
kính từng cá nhân là cách thức liên hệ, tổ chức bên trong của tình cảm, ý chí, quan
điểm của mỗi cá nhân. Nói chung, đó là hiện tượng xã hội phức tạp, theo các lát cắt
khác nhau ý thức công dân được cấu thành từ những yếu tố khác nhau. Mỗi cách
phân chia đều có ý nghĩa nhất định trong việc tìm hiểu bản chất, đặc điểm và vai trò
của ý thức công dân. Xuất phát từ yêu cầu của luận văn chúng tôi đã tiếp cận kết
cấu ý thức công dân ở hai cấp độ: Hệ tư tưởng công dân và tâm lý công dân.
Hệ tư tưởng công dân: Được hình thành trong quá trình nhận thức về mặt lý luận
những lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội, những nhiệm vụ, mục đích của quá trình điều
chỉnh ý thức công dân. Hệ tư tưởng công dân là kết quả phản ánh những điều kiện
sinh hoạt vật chất, những quan hệ và cuộc đấu tranh giữa các lực lượng trong xã
hội. Hệ tư tưởng công dân là tổng hợp các tư tưởng quan điểm, quan niệm có tính
chất lý luận và khoa học của ý thức công dân.
Nội dung của hệ tư tưởng công dân chủ yếu là những tri thức về vai trò, trách
nhiệm, quyền và nghĩa vụ của công dân trong cuộc sống mà đặc biệt là trong điều
kiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiện nay hệ tư tưởng của công dân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh được cụ thể hóa trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Một
trong những đặc điểm cơ bản nhất của sự hình thành ý thức công dân ở Việt Nam là
quá trình được hình thành tự giác dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
11
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, đây chính
là nhân tố quyết định của bản chất công nhân và tính nhân dân của ý thức công dân.
Tâm lý công dân: là tổng thể những tình cảm, thái độ của con người về quyền lợi
và nghĩa vụ của mình trong đời sống hàng ngày, thường gắn với lợi ích cụ thể của
mỗi người, chưa được khái quát hoá, mà mới chỉ thể hiện ở cấp độ nhận thức kinh
nghiệm cảm tính của từng cá nhân.
Là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, tình cảm của công dân trước
những vấn đề cụ thể. Tâm lý công dân được hình thành ở từng cá nhân, từng nhóm
người, từng giai cấp hoặc cả xã hội và nó có ảnh hưởng rất lớn đến ý thức công dân.
đồng gia đình góp sức tạo lập, xây dựng, gìn giữ và phát triển tạo nên không gian
sống riêng để tiếp nhận hoặc từ chối các tác động của xã hội. Môi trường văn hóa
gia đình có tính ổn định cao và khá bền vững do nhiều nội dung của nó được kế
thừa từ truyền thống. Môi trường gia đình góp phần rất lớn trong việc hình thành
nhân cách và sự tự nhận thức của các thành viên.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội của đất nước Việt Nam đang chuyển động theo cơ
chế thị trường và hội nhập quốc tế, mặt tích cực phù hợp với quy luật khách quan là
rất đáng kể, nhưng mặt trái của nó cũng rất đa dạng, phong phú và có khi khá nặng
nề trong quan hệ gia đình giữa các thế hệ trước với con cháu. Sự thay đổi theo
hướng được cải thiện về mức sống và thu nhập, do cạnh tranh trên thương trường
quá căng thẳng có khi cũng tạo khoảng cách giữa cha mẹ và con cái dẫn đến nhiều
trường hợp cha mẹ chiều con quá mức, biến con “thành bố, thành mẹ”, tốn rất nhiều
tiền chạy trường, chạy lớp, chạy điểm cho con khiến cho ý thức trách nhiệm, tự lực
trong các con mờ dần, nhường chỗ cho tính ỷ lại, thậm chí là ích kỷ cực đoan nảy
nở ở các em. Nhiều bậc cha mẹ cho rằng những việc họ làm cho con là sự thể hiện ý
thức trách nhiệm của mình, mà không nghĩ đến các biện pháp xây dựng, hình thành
ý thức công dân cho con cái mình…
- Môi trường học đường: Thực trạng môi trường học đường tác động đến học sinh
THPT rất phong phú, đa chiều cạnh nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau nhưng
cùng chung một mục tiêu giáo dục thành công ở tất cả các lớp học và cấp học. Môi
trường nhà trường chính là tác nhân có tính quyết định trong việc hình thành ý thức
13
công dân cho học sinh. Nó là một nhân tố mạnh mẽ tạo nên nhân phẩm, đạo đức của
trẻ. Ngoài gia đình, xã hội - nhà trường có tác động mạnh đến hướng đi, thắp sáng
tương lai cho trẻ khi bước vào đời.
Môi trường nhà trường là yếu tố có tính quyết định trong việc hình thành nhân
sinh quan, thế giới quan, nhân cách, đạo đức cho học sinh THPT. Không ai có thể
thay thế nhà trường trong việc hình thành năng lực, rèn luyện phương pháp tư duy
của học sinh, trong việc giúp các em tích lũy tri thức, hình thành các phẩm chất,
của xã hội cả theo chiều tích cực, lẫn tiêu cực, phụ thuộc vào sự cạnh tranh, hay bị
chi phối bởi những lợi ích khác nhau đến mức đối lập nhau. Về mặt văn hóa xã hội,
đã hình thành một số tư tuởng, lối sống xấu như làm giàu bằng bất cứ giá nào,
hưởng thụ bất kể cống hiến không có gì và bất chấp luân lý đạo đức miễn thỏa mãn
các nhu cầu thấp kém. Hiện tượng xã hội đen lũng đoạn một bộ phận cán bộ của
Đảng và Nhà nước chưa giảm. Mặt trái của kinh tế thị trường đang thách thức
những phẩm chất, giá trị đạo đức và nhân văn của dân tộc trong học sinh.
Hiện nay, một bộ phận học sinh chịu sự tác động từ những mặt tiêu cực của xã
hội, đánh mất ý thức công dân, thiếu ý thức đạo đức kỷ luật, vi phạm pháp luật khi
mới 15, 16 tuổi, có học sinh còn có hành động côn đồ như đuổi đánh, xúc phạm
thầy cô giáo. Nói tục chửi thề khá phổ biến,… tham gia đua xe và các tệ nạn xã hội,
tóc được nhuộm đủ màu, móng tay sơn đủ kiểu, mang mặc nhiều loại mốt với các
hình thù quái dị cả những lúc ở nhà, ra đường không còn sự vô tư hồn nhiên của
tuổi học trò.
- Sự tiếp nhận tác động từ ba môi trường của chủ thể
Đời sống của các em ở xã hội và ý thức công dân dần được hình thành khi các em
hòa nhập tiếp xúc với các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh hoạt động học tập, các hoạt
động khác của học sinh THPT đòi hỏi và thúc đẩy các em có thái độ tích cực và độc
lập hơn, tạo điều kiện cho các em được thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của mình. Được
cùng bạn học tập, tham gia các công việc có tính chất tập thể trong trường và ngoài
xã hội. Các em phải ý thức được vị trí của bản thân khi tồn tại trong một tập thể,
phải có tinh thần tự nguyện, tự giác, trách nhiệm cao. Học sinh nhận thức rằng một
việc được hoàn thành không chỉ bởi một cá nhân đơn lẻ có trách nhiệm mà phải cần
15
sự đồng tâm hiệp sức của tập thể. Tất cả đều phải hy sinh và chịu trách nhiệm vì
việc chung. Từ đó tầm hiểu biết xã hội của các em được mở rộng, kinh nghiệm sống
thành phong phú hơn, ý thức xã hội được nâng cao, tinh thần trách nhiệm được hình
thành và củng cố.
Trong sự tiếp nhận tác động ảnh hưởng của ba môi trường gia đình, nhà trường,
lên thành luật. Trong chế độ công xã nguyên thuỷ không có pháp quyền. Khi xã hội
phân chia thành giai cấp, những lợi ích đối lập nhau xuất hiện, tập quán, truyền
thống, uy tín không thể điều tiết được hành vi của con người, mà chỉ có pháp quyền.
Xã hội có giai cấp không thể tồn tại, nếu không thể chế hoá bằng pháp quyền các
mối quan hệ sở hữu, gia đình, hôn nhân và các quan hệ khác. Thông qua pháp
quyền được trình bày dưới hình thức luật, nhà nước thực hiện chức năng lập pháp.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp
luật. Mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và của tất cả công dân
đều được thực hiện trên cơ sở pháp luật [4, tr. 76].
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, do Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo [4, tr. 76].
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân
xây dựng mà thành, vì nhân dân phục vụ; bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu
quyền hành đều ở nơi dân, mọi quyền lực nhà nước có được đều do nhân dân uỷ
quyền. Bản chất này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ
chính trị của CNXH. Sự khác biệt về bản chất ấy so với các nhà nước bóc lột biểu
hiện bản chất giai cấp, tính dân tộc, tính nhân dân của nhà nước, chúng hoà quyện
vào nhau. Xuất phát từ lý luận duy vật lịch sử và thực tiễn, ai cũng có thể nhận thấy
rằng bất kỳ nhà nước nào cũng là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị. Giai
cấp nắm quyền thống trị về kinh tế sẽ nắm quyền thống trị về chính trị thông qua bộ
máy nhà nước của mình. Trong chế độ ta, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo xã
hội. Vì vậy, nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, được thể hiện ở toàn bộ
hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách, đến nguyên tắc tổ chức và
17
hoạt động của nhà nước, nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân
dân, phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Lợi
ích cơ bản của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc ở nước ta
thống nhất chặt chẽ với nhau. Sự thống nhất ấy bắt nguồn từ bản chất của cách
tư sản không thể có được. Thực chất đặc điểm này của Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là ở sự bảo đảm và đề cao tính giai cấp, tính nhân dân của
Nó. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân định đoạt, nhân
dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy quyền lực
nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân dân và của toàn bộ dân
tộc. Đây còn là sự thể hiện về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các
chế độ khác.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
chức năng của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ, chúng ta
phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta không thừa
nhận học thuyết "tam quyền phân lập" vì nó máy móc, khô cứng theo kiểu các
quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đến đối lập, hạn chế
sức mạnh của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta cũng
không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tập trung toàn bộ quyền lực cao
nhất của nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp cho một cá nhân, hoặc một cơ
quan tổ chức nhà nước. Bởi vì, làm như vậy là đi ngược lại lịch sử tiến bộ của nhân
loại. Vấn đề đặt ra yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu giải quyết là, trong Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự phân công, phân định thẩm
quyền thật rõ ràng, minh bạch để ba nhánh quyền lực thực hiện hiệu quả các chức
năng của mình với chất lượng cao, tránh tình trạng chồng chéo, tùy tiện, lạm
quyền Theo Hiến pháp và pháp luật, Quốc hội là cơ quan duy nhất được giao thực
hiện thẩm quyền lập pháp, bên cạnh đó Quốc hội còn được giao thực hiện 13 nhiệm
vụ nữa (xem Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001); Chính phủ được phân công
thực hiện thẩm quyền hành pháp; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân
tối cao được phân công thực hiện thẩm quyền tư pháp. Như vậy, Chính phủ, Viện
Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao không phải là cơ quan được