đề tài '''' vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay '''' - Pdf 15


Nghiên cứu triết học

Đề tài: " VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY "

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ H
ỘI CHỦ NGHĨA Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY

TRẦN THÀNH (*)
Nói về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

các nước xã hội chủ nghĩa, vấn đề này chưa được quan tâm nghiên cứu một
cách đúng mức. Sự chuẩn bị về mặt lý luận để xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa mới chỉ là bước đầu, chưa có sự chín muồi cần thiết,
những ý kiến đề xuất mô hình nhà nước pháp quyền vẫn chỉ trên sách báo.
Mặt khác, đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị đòi hỏi cũng phải có thời
gian. Bởi lẽ, đây là lĩnh vực không chỉ mang tính “nhạy cảm cao”, mà còn là
lĩnh vực mà sự thay đổi không phải “một sớm một chiều”. Đó là chưa nói đến
tư duy giáo điều còn ảnh hưởng không nhỏ đối với cả giới nghiên cứu lý luận
lẫn những chính khách ở các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong học thuyết chuyên chính vô sản, đúng là C.Mác và Ph.Ăngghen chưa
sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền. Nhưng những tư tưởng cốt lõi về
nhà nước pháp quyền lại được các nhà kinh điển đề cập sâu sắc trong các chủ
trương xây dựng nhà nước kiểu mới, chế độ dân chủ mới, chế độ dân chủ vô
sản. Đó là chủ trương xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp; là nhà nước
dân chủ cao nhất, triệt để nhất, dân chủ “do nhân dân tự quy định”; là bước
chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, từ “nhân dân của nhà nước”
sang “nhà nước của nhân dân”. Đó là chế độ dân chủ xuất phát từ con người
và pháp luật cũng vì con người. Đó là nhà nước đảm bảo cho “tự do của mỗi
người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Nhà nước đó
xây dựng và phát triển một xã hội có khả năng tạo ra những điều kiện cơ bản
để “giải phóng cá nhân” theo phương châm “xã hội sẽ không thể giải phóng
cho mình được, nếu không giải phóng mỗi cá nhân riêng biệt”… Những tư
tưởng cốt lõi đó của C.Mác và Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng và phát
triển trong sự phân tích, đánh giá nhà nước tư sản, chế độ cộng hoà dân chủ tư
sản, cũng như trong thực tiễn lãnh đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp luật
kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Ở nước ta, tư tưởng nhà nước pháp quyền cũng đã được thể hiện rất đậm nét
ở Hồ Chí Minh, khi Người lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nhà nước cách
mạng. Đó là tư tưởng về xây dựng một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ
thực sự theo phương châm “bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền

không muốn nói là có thời kỳ bị lãng quên. Đó là một trong những nguyên
nhân khiến dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa trở thành “có vấn đề”. Dân
chủ mang nặng tính hình thức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền, quan liêu
có xu hướng phát triển đã làm suy yếu nhà nước. Tổ chức bộ máy cồng kềnh,
hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Nhà nước quản lý, điều hành xã hội chủ
yếu bằng mệnh lệnh, chỉ thị, nghị quyết, bằng đạo lý, trong khi pháp luật thì
bị coi nhẹ.
Chính vì vậy, vấn đề dân chủ đã được đặt ra một cách bức bách ở các nước xã
hội chủ nghĩa nói chung, ở nước ta nói riêng. Trong quá trình đổi mới tư duy
về chính trị, về chủ nghĩa xã hội, nhận thức về nhà nước pháp quyền của
Đảng ta ngày càng đầy đủ hơn, rõ ràng và cụ thể hơn; quyết tâm chính trị là
xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới hình thức nhà nước pháp quyền
cũng ngày càng cao hơn.
Trong Văn kiện Đại hội VI, quan điểm, chủ trương đổi mới Nhà nước đã
manh nha một số nội dung về Nhà nước pháp quyền. Đó là sự khẳng định
“quản lý nhà nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý”; phải quan
tâm xây dựng pháp luật; từng bước bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
để bảo đảm cho bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo pháp
luật(5). Đến Đại VII, quan điểm đổi mới Nhà nước đã được bổ sung thêm nội
dung: “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”(6).
Như vậy, có thể nói, qua hai kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, tư duy về đổi mới
Nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền của Đảng đã có những
bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, chỉ đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khoá VII (1994), chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa mới được Đảng ta chính thức khẳng định và thuật ngữ “Nhà nước
pháp quyền” cũng mới lần đầu tiên được sử dụng trong văn kiện của Đảng.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi
từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường ở nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử, hiểu biết

nguyên” những hình thức ấy. Vả lại, ngay cả ở các nước phương Tây, nhà
nước pháp quyền cũng không hoàn toàn giống nhau. Ở mỗi quốc gia, nhà
nước pháp quyền cũng có những nét độc đáo riêng, tuỳ thuộc vào các đặc
điểm, truyền thống dân tộc cũng như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và
văn hoá. Hơn nữa, Nhà nước pháp quyền mà nhân dân ta đang xây dựng là
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đó, về bản chất, là đối lập
với nhà nước pháp quyền tư sản. Do vậy, về nội dung pháp luật, về bản chất
của pháp luật chắc chắn cũng khác với nhà nước pháp quyền tư sản. Còn về
hình thức có thể có những nét tương đồng mà qua nghiên cứu, chọn lọc, cải
biến, chúng ta có thể kế thừa mặt này, mặt kia của mô hình này hay mô hình
khác. Tuy nhiên, đây cũng không phải là điều đơn giản, thậm chí còn là khá
phức tạp và rất nhạy cảm về chính trị.
Chẳng hạn, việc có vận dụng hay không vận dụng, vận dụng đến mức độ nào
thuyết phân lập các quyền của phương Tây. Ngay cả ở các nước tư bản, mức
độ vận dụng học thuyết này cũng không giống nhau. Điều đó không phải do
có sự khác nhau về chế độ chính trị, mà bắt nguồn từ nhiều lý do khác, trong
đó có những quan niệm khác nhau về tác dụng của sự phân quyền. Mục đích
của việc phân quyền là để tránh sự độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền
lực. Đó là mặt tích cực. Nhưng việc phân quyền giữa các cơ quan thực hiện
quyền lực cũng có những mặt trái của nó. Do vậy, ở các nước phương Tây
cũng xuất hiện quan điểm cho rằng, không nên cường điệu ý nghĩa mang tính
chất lý thuyết của thuyết phân quyền. Hơn nữa, thuyết phân quyền của
phương Tây cũng không chỉ thuần tuý ở khía cạnh kỹ thuật tổ chức – pháp lý,
mà còn là đặc trưng xã hội – chính trị của nhà nước pháp quyền tư sản. Hay,
nói cách khác, không chỉ là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, mà còn là việc phân chia quyền lực, phân bố quyền lực giữa các giai
cấp và các nhóm xã hội, các lực lượng xã hội. Xuất phát từ những lý do đó,
Đảng ta đặt vấn đề, trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
chúng ta không áp dụng nguyên xi thuyết phân quyền của phương Tây, mà
“có sự phân công rành mạch giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và

phải không có cách giải quyết, khắc phục. Vả lại, theo kinh nghiệm của nhiều
nước cũng như yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, chỉ có Quốc hội hoạt động
thường xuyên mới hoàn thành được chức năng lập pháp, mới có đủ khả năng
thay đổi, bổ sung luật, đạo luật theo kịp với yêu cầu của cuộc sống. Đó là điều
cần suy nghĩ. Chuyên nghiệp hoá Quốc hội cũng là hướng cần thiết. Nghị sĩ
quốc hội phải làm chức năng đại biểu mà muốn vậy, phải có tài năng, khả
năng và phải dành thời gian để làm tròn nghĩa vụ và thạo nghề đại biểu. Đó là
chưa nói đến chuyện họ phải là những người lập pháp thành thạo, có chuyên
môn sâu, hay ít nhất cũng phải có năng lực thẩm định, phản biện, chất vấn.
Vấn đề tỷ lệ đại biểu chuyên trách đã được đặt ra trong những khoá gần đây
(hiện nay tỷ lệ đó vào khoảng 30%). Đó là hướng đi đúng, nhưng đủ chưa. Ở
đây, còn phải tính đến tỷ lệ đại biểu được tái cử và không được tái cử. Như
vậy, chỉ xoay quanh việc cải cách Quốc hội theo hướng xây dựng Nhà nước
pháp quyền cũng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu,
thử nghiệm, thực hiện. Chính vì vậy mà cho đến nay, Đại hội X của Đảng vẫn
khẳng định: “Tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc
hội”(9).
2) Vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước.
Điều khác nhau căn bản với nhà nước pháp quyền tư sản là Nhà nước pháp
quyền ở nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hơn nữa, chế độ ta là chế độ
một đảng. Nói chế độ nhiều đảng dân chủ hơn chế độ một đảng là không
chính xác, nhưng cũng phải thấy rằng, trong chế độ một đảng, Đảng lãnh đạo
như thế nào để đảm bảo dân chủ, đảm bảo cho Nhà nước thực sự là quyền lực
của nhân dân cũng là vấn đề phức tạp. Đảng ta lãnh đạo Nhà nước không có
mục đích nào khác hơn là đem lại quyền dân chủ, quyền làm chủ cho nhân
dân. Nhưng, lãnh đạo như thế nào để đạt được mục đích đó là một bài toán
không dễ. Thực tiễn trong hơn 20 năm đổi mới đã cho thấy điều đó.
Không đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng thì quyền lực nhà nước sẽ bị biến dạng,
biến chất. Vả lại, trong thời đại hiện nay, có nhà nước nào lại không bị chi
phối bởi một đảng hay liên minh của một số đảng. Vì vậy, nếu không đảm

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Tiếp theo)
TRẦN THÀNH (*)

3) Vấn đề tạo lập những điều kiện, cơ sở cho việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
Chúng ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
nhưng những điều kiện cho việc xây dựng đó còn có những hạn chế nhất
định. Trước hết, đó là việc chuẩn bị về mặt lý luận. Phải nói rằng, trong
những năm đổi mới, chúng ta đã có những bước khởi động và tập trung
nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết từng vấn đề, từng khía cạnh cụ thể lý
luận Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiết kế mô hình cụ
thể chưa thực sự thật chín muồi, không ít vấn đề còn phải được nghiên cứu,
trao đổi, tranh luận trên các diễn đàn, các trang sách báo. Liên quan đến lý
luận nhà nước pháp quyền còn phải nói đến một số lý luận khác, như xã hội
công dân, kinh tế thị trường. Những vấn đề này, cũng có thể nói, chưa được
nghiên cứu đủ tầm cả về bề rộng lẫn chiều sâu; hơn nữa, vẫn còn có những
quan niệm chưa thống nhất, nhất là về xã hội công dân. Nhà nước pháp
quyền được xây dựng trên cơ sở xã hội công dân. Đến lượt mình, xã hội
công dân chỉ có thể được hoàn thiện và phát triển thuận lợi trên cơ sở nhà
nước pháp quyền. Chính vì vậy, đi đôi với xây dựng nhà nước pháp quyền,
chúng ta phải tạo lập và hoàn thiện xã hội công dân. Xã hội nước ta đã là
xã hội công dân chưa, xây dựng và hoàn thiện xã hội công dân đòi hỏi
những gì? Tất cả những điều này phải có lý luận soi sáng, hướng dẫn. Hơn
nữa, ở nước ta, thực tiễn của quá trình đổi mới và xây dựng xây dựng Nhà
nước pháp quyền cũng đã xuất hiện một số vấn đề phức tạp mà lý luận
chưa giải thích được hoặc giải thích chưa có sức thuyết phục. Trong quan

trong tình trạng bị động, tin tưởng, chờ đợi từ phía Đảng và Nhà nước.
Thực tế đã chỉ ra rằng, xây dựng chế độ dân chủ theo kiểu ban phát từ trên
xuống, hoặc sẽ là rất hạn chế, hoặc sẽ trở nên hình thức. Trong chế độ dân
chủ tư sản hiện nay, sở dĩ người lao động có được một số quyền dân chủ
nhất định, đó tuyệt nhiên không phải là do “lòng từ thiện” của giai cấp tư
sản, mà là kết quả của cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài của quần chúng lao
động dưới chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên, Đảng và Nhà
nước rất quan tâm đến xây dựng chế độ dân chủ, mong muốn xây dựng một
chế độ dân chủ cao, rộng rãi đối với nhân dân. Nhưng rõ ràng điều đó vẫn
chưa đủ. Dân chủ phải là sự nghiệp của quần chúng, phải là “tác phẩm” của
bản thân quần chúng. Đảng chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa là nhằm mục đích xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân
dân, một chế độ dân chủ triệt để, đầy đủ và thực sự cho nhân dân. Muốn
vậy, phải tiếp tục nâng cao trình độ dân trí cho cán bộ, đảng viên và quảng
đại quần chúng nhân dân.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá
trình lâu dài. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng trong những năm qua,
việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã có những thành
tựu nhất định, song trong quá trình xây dựng cũng nảy sinh nhiều vấn đề
đòi hỏi chúng ta cần phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, tìm kiếm, thử
nghiệm. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa đang là nhiệm vụ cấp bách đặt ra trước chúng ta./.

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ, Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị –
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.5. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.
698.
(2) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr. 56-57.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t.7, tr.368.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t.4, tr. 8.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status