Tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền và vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*** NGUYỄN THỊ HOA

TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ VÀO
XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học Hà Nội - 2013

2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài. 4
2. Tình hình nghiên của đề tài. 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. 10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11
6. Ý nghĩa lý luận và thức tiễn. 11
7. Kết cấu của luận văn. 11
Chương 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN. 13
1.1. Những tiền đề, điều kiện cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước pháp quyền. 13
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội. 13
1.1.2 Tiền đề văn hóa - tư tưởng. 19
1.1.3 Nguồn gốc thực tiễn cho hình thành tư tưởng về nhà nước pháp
quyền của Hồ Chí Minh. 28
1.2. Khái quát quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam. 33
1.2.1 Thời kỳ hình thành tư tuởng về nhà nuớc dân chủ 33
1.2.2 Thời kỳ phát triển và từng bước hoàn thiện tư tưởng về nhà nước
pháp quyền ở Việt Nam . 36
1.3 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam 42
1.3.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước
- nền tảng của pháp quyền XHCN ở Việt Nam. 42

2
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật và sự kết hợp
giữa pháp luật và đạo đức trong Nhà nước pháp quyền. 46
1.3.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng tổ chức bộ máy Nhà

người dân. 109
2.3.4 Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước. . 111
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong suốt tiến trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, vấn
đề chính quyền và việc xây dựng hoàn thiện một nhà nước kiểu mới – nhà
nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam luôn là mối quan tâm hàng đầu
của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền là một hệ
thống những tư tưởng, quan điểm có giá trị và ảnh hưởng lớn đến sự nhận
thức của xã hội Việt Nam trong lịch sử và hiện nay.
Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân và vì dân – một mô hình nhà nước chưa có trong lịch sử. Vì thế đây
là quá trình chúng ta vừa phải xây dựng lý luận, vừa phải “thi công” trong
thực tiễn, nên việc kế thừa, vận dụng các tư tưởng trong lịch sử để khai
thác, kế thừa những giá trị tích cực cho sự phát triển hiện tại là một đòi hỏi
tất yếu. Mặt khác, quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước với trình độ tương
ứng. Xu hướng toàn cầu hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế cũng đang đặt
ra nhiệm vụ không nhỏ đối với Nhà nước.
Hơn nửa thập kỷ qua, Nhà nước Việt Nam do chủ tịch Hồ Chí
Minh sáng lập và lãnh đạo dần được củng cố và hoàn thiện, đạt được nhiều
thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tuy
nhiên, thực tế hoạt động của Nhà nước ta trong bối cảnh mới hiện nay còn
nhiều bất cập, thể hiện trên nhiều phương diện. Đội ngũ cán bộ công chức
vừa thiếu, vừa yếu, đặc biệt là sự hiểu biết và cập nhật pháp luật chưa cao

chung về nhà nước pháp quyền gồm có các công trình như “Sự hạn chế
quyền lực nhà nước” của Nguyễn Đăng Dung (2004, Nxb. Đại học Quốc

6
gia), “Trung Quốc với việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN” do Đỗ
Tiến Sâm chủ biên (2008, Nxb. Khoa học xã hội), “Nhà nước pháp quyền
và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga” của Lê Cảm (1997, Nxb Sáng tạo
thuộc Hội Khoa học - kỹ thuật Việt Nam tại LB Nga, Matxcơva), “Triết
học pháp quyền của Lão Tử” (2007, Nxb. Tư pháp), “Triết lý chính trị
Trung Hoa cổ đại và vấn đề nhà nước pháp quyền: suy ngẫm, tham chiếu
và gợi mở” (2004, Nxb. Tư pháp), “Góp phần nghiên cứu hiến pháp và nhà
nước pháp quyền” (2005, Nxb. Tư pháp) của Bùi Ngọc Sơn, “Thể chế tư
pháp trong nhà nước pháp quyền” (2004, Nxb. Tư pháp) do Nguyễn Đăng
Dung chủ biên, “Về tư tưởng nhà nước pháp quyền và khái niệm nhà nước
pháp quyền” (Tạp chí Luật học số 2/2002) của Lê Minh Tâm, “Học thuyết
về nhà nước pháp quyền: lịch sử và hiện tại” (Tạp chí Luật học, số
04/1996) của Nguyễn Văn Động, “Học thuyết về nhà nước pháp quyền:
một số vấn đề trong lịch sử hình thành và phát triển” (Tạp chí nghiên cứu
lập pháp, số 10/2002), “Nhà nước pháp quyền: các nguyên tắc cơ bản”
(Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2001), “Góp phần nghiên cứu những
vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước pháp quyền” (Tạp chí Khoa học: Kinh tế
- Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2/2002), “Một số đặc điểm cơ
bản của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền” (Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, số 4/2002) của Hoàng Thị Kim Quế, “Sự độc lập của tư pháp : Hạt
nhân của nhà nước pháp quyền” (Tạp chí Khoa học: Kinh tế - Luật thuộc
Đại học Quốc gia Hà Nội, số 4/2002) của F.B. William Kelly; Phạm Trọng
Nghĩa dịch; “Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tư pháp trong Nhà
nước pháp quyền” (Tạp chí Toà án nhân dân, số 11/2002) của Lê Cảm,
“Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền tư sản” (Tạp chí Luật học, số
6/2003) của Vũ Hồng Anh, “Về một số cách tiếp cận nhà nước pháp


8
thống nhất khái niệm “nhà nước pháp quyền” vẫn còn là một vấn đề mà các
nhà nghiên cứu trên thế giới chưa thực sự có sự thống nhất.
Thứ hai, khảo sát lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền ở các nước trên thế giới nhằm rút ra những nguyên tắc chung, giá trị
chung của nhà nước pháp quyền. Đó chính là nhà nước do nhân dân làm
chủ, đảm bảo các quyền con người và quyền công dân, có pháp luật giữ vai
trò thống trị trong đời sống xã hội và quyền lực nhà nước được tổ chức theo
mô hình “tam quyền phân lập”.
Hướng nghiên cứu thứ hai: Tập trung nghiên cứu quan điểm, tư
tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật, Nhà nước pháp quyền.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới – quá trình hình
thành và phát triển” của Hoàng Văn Hảo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1995. Cuốn sách về cơ bản đã khái quát được quá trình hình thành và phát
triển của nhà nước kiểu mới theo tư tưởng của Người. “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân” của Nguyễn Đình Lộc chủ
biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Cuốn sách đã nói nên được
vấn đề dân làm chủ nhà nước, nhà nước là của nhân dân, phục vụ nhân dân.
“Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật” của Nguyễn
Xuân Tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách nói nên mối
quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. Muốn tồn tại nhà nước thì phải có luật
pháp. “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” của Vũ Đình Hòe, Nxb văn
hóa thông tin, Hà Nội, 2001. Cuốn sách đã khái quát được tư tưởng của Hồ
Chí Minh: đề cao nhân nghĩa, quyền con ngưới. “Tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam” của Phạm Ngọc
Anh – Bùi Đình Phong, Nxb lao động, Hà Nội, 2003. Cuốn sách cũng khái
quát được quá trình hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền của Hồ
Chí Minh và việc vận dụng tư tưởng đó vào xây dựng nhà nước pháp quyền


chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quan điểm cuả Hồ Chí Minh về
Nhà nước pháp quyền. Thực tiễn Việt Nam luôn có sự biến đổi không
ngừng, với mỗi một thời kỳ thì lại đặt ra những yêu cầu khác nhau. Do đó,
nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
trong thời kỳ hiện nay, đặc biệt là khi chúng ta bước vào thế kỷ XXI sẽ có
nhiều ý nghĩa thực tiễn và sâu sắc. Đó là hướng nghiên cứu chính của luận
văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
 Mục đích nghiên cứu:
Phân tích có hệ thống những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh
về Nhà nước pháp quyền và sự vận dụng những tư tưởng đó vào xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài phải thực hiện những
nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày những tiền đề, điều kiện cho sự hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.
- Phân tích một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
- Nêu những vận dụng của Đảng và Nhà nước ta, và đề xuất một
số giải pháp để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng, hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp
luật.

11
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng
hợp, lịch sử và lôgic; phương pháp văn bản học, gắn liền lý luận với thực
13
Chương 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN.

Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang phục hội,… Nhưng các phong trào ấy
cũng chỉ rộ lên được một thời gian ngắn rồi lần lượt bị dập tắt, một phần vì
chưa lôi cuốn được các tầng lớp nhân dân, phần khác vì các phong trào đó
chủ yếu vẫn do các sĩ phu phong kiến cựu học truyền bá và dẫn dắt, nên
không tránh khỏi hạn chế và thất bại.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên trên mảnh
đất có truyền thống bất khuất, từ nhỏ Hồ Chí Minh đã nuôi chí đuổi giặc
Pháp, giải phóng đồng bào. Trăn trở với vận nước, sự nghiệp cứu nước
không thành của các bậc tiền bối, ngày 5- 6- 1911 Hồ Chí Minh quyết chí
ra đi tìm đường cứu nước. Người đã trải qua nhiều nghề khác nhau để được
đến nhiều miền khác nhau trên thế giới khảo nghiệm và học tập. Những
chuyến đi đó giúp Người rút ra một kết luận quan trọng: Trên thế giới này,
ở đâu bọn đế quốc thực dân đều độc ác, ở đâu những người lao động cũng
bị bóc lột, áp bức rã man; trên thế giới này con người có nhiều màu da khác
nhau, nhưng chung quy chỉ có hai hạng người: hạng người bị bóc lột và
hạng người đi bóc lột. [65, tr.255]
Khoảng cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh về Pháp, đến sống
và hoạt động tại Pari, thủ đô nước Pháp, một trung tâm văn hóa, khoa học
và chính trị của châu Âu. Đây là một sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời
của Người. Nhờ lăn lộn trong phong trào lao động Pháp, sát cánh với
những người yêu nước Việt Nam và những người cách mạng từ các thuộc
địa của Pháp, Người đã nhanh chóng đến được với phái tả của cách mạng
Pháp và không lâu sau đó, gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng duy

15
nhất của nước Pháp bênh vực các dân tộc thuộc địa. Người trở thành một
chiến sỹ xã hội chủ nghĩa. Người nói: “các đồng chí đều biết rằng chủ
nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay, vì lợi ích của nó,
nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi. Từ đó chúng tôi
không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và

viên, người viết bài. Cũng trong năm 1922, Người viết vở kịch Con Rồng
Tre, hướng đòn đả kích vào Khải Định nhân chuyến đi Pháp của ông vua
này. Tiếp đó, Người xuất bản cuốn sách nổi tiếng Bản án chế độ thực dân
pháp (năm 1925).
Người đã đi nhiều nơi làm nhiều công việc, để nghiên cứu, học tập
kinh nghiệm của các nước và phụ trách nhiều cương vị trong những điều
kiện, hoàn cảnh khác nhau. Sau này, Người đào tạo, tổ chức Đảng cộng sản
Việt Nam, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – nhà nước công
nông đầu tiên ở Đông Nam Á, Người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, lãnh
đạo nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc lớn và xây dựng xã hội mới. Đó là
cơ sở thực tiễn đầy sức sống cho tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành, phát
triển ngày càng phong phú, toàn diện, nhất là những vấn đề về chính trị, về
Đảng, về Nhà nước. Nó là kết quả của sự tác động biện chứng giữa nhận
thức và hành động, lý luận và thực tiễn, vì vậy mà Người ngày càng tiếp
cận với chân lý của thời đại. Thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi, phong
phú, Hồ Chí Minh đã tìm ra những quy luật, đúc kết thành lí luận. Trong
những năm bôn ba ở các nước tư bản phát triển, Hồ Chí Minh đã nghiên
cứu cách tổ chức Nhà nước ở đó, phê phán những mặt tiêu cực, tiếp thu
những hạt nhân hợp lí để vận dụng vào quá trình xây dựng mô hình nhà
nước kiểu mới ở Việt Nam. Cũng chính xuất phát từ thực tiễn hoạt động
cách mạng mà Người có bước phát triển lớn trong quan điểm nhân sinh của

17
mình về một hình thức nhà nước phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt
Nam. Cụ thể là sự chuyển biến trong tư tưởng của Người từ một nhà nước
công – nông – binh sang Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân.
Như vậy, với những điều kiện lịch sử, xã hội trên đã giúp Người
tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc và bước đầu hình thành
tư tưởng của Người về xây dựng nhà nước kiểu mới, sau này là sự phát
triển thành tư tưởng về Nhà nước pháp quyền.

Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong
kiến và thực dân Pháp. Nhân dân lao động chiếm 97% hộ nhưng chỉ được
sử dụng 36% ruộng đất. Trong nông thôn có tới 59,2% hộ không có ruộng
đất phải sống bằng cày thuê, cấy rẽ. Cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn: cả
nước chỉ có 12 công trình thuỷ nông nhỏ, đảm bảo tưới cho 15% diện tích
canh tác, không có công trình tiêu úng nên lũ lụt thường xuyên xảy ra, bình
quân 2 năm 1 lần vỡ đê, nạn đói thường xuyên xảy ra. Năm 1913 Pháp
cướp đoạt tới 470000 ha so với năm 1980 là 10000ha, dữ dội nhất là ở
Nam Kỳ, đã xuất hiện những tên điền chủ lớn có trong tay từ 2000 đến
20000 mẫu tây. Vì thế, vào năm 1914 Nam Kỳ có thể xuất khẩu 1,4 triệu
tấn gạo, đem lại cho ư bản Pháp mối lợi khổng lồ. [70, tr228]
Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt, chủ yếu là công
nghiệp khai thác mỏ và một số cơ sở công nghiệp nhẹ nhằm bóc lột nhân
công rẻ mạt và vơ vét tài nguyên khoáng sản. Từ năm 1930 đến năm 1945,
thực dân Pháp đã khai thác: 2,76 triệu tấn than, 217.300 tấn kẽm, chì;
598.000 tấn sắt, măng gan, 1.384 kg vàng, 315.500 tấn phốt pho. Trong
hơn 10 năm, từ năm 1930 đến năm 1943, cả nước chỉ có khoảng 200 xí
nghiệp công nghiệp và 90.000 công nhân, trong đó 60% là công nhân khai
thác mỏ. Một phần ba công nhân thất nghiệp. Riêng miền Bắc năm 1929 có
25000 công nhân bị sa thải, trong đó có gần một nửa nghành mỏ. Những
công nhân còn việc làm chỉ hưởng 70% lương [70, tr.273]

19
Cả nước không có một cơ sở công nghiệp luyện kim, công nghiệp
chế tạo thiết bị và hoá chất nào. Công nghiệp hàng tiêu dùng cũng chỉ có
một số nhà máy đường, rượu, xay xát lương thực, dệt may, giấy với máy
móc thiết bị cũ. Vào những năm 1938-1939, tỷ trọng công nghiệp chỉ
chiếm 10% trong kinh tế cả nước. Khu vực tiểu thủ công nghiệp và các
làng nghề truyền thống bị kìm hãm và mai một. So với tổng số vốn đầu tư
vào công nghiệp toàn Đông Dương thời kỳ 1913-1939, vốn đầu tư cho

có ảnh hưởng mạnh mẽ tới Việt Nam. Mặt tích cực của Nho giáo là mặt
triết lý nhân sinh, lấy tu thân làm gốc, lấy hành động để lập thân và có lý
tưởng về một xã hội bình trị, thế giới đại đồng. Nho giáo còn đề cao văn
hóa và tạo ra truyền thống hiếu học trong xã hội.
Hồ Chí Minh đã kế thừa và khai thác những yếu tố hợp lý trong tư
tưởng chính trị của Nho gia, như tư tưởng chính danh, tư tưởng thân dân –
đề cao nhân dân. Khi kế thừa và vận dụng tư tưởng chính danh của Nho
giáo, Hồ Chí Minh đã loại bỏ tính chất duy tâm thiên mệnh, khôi phục lại
quan hệ bình đẳng giữa người với người. Người dậy rằng, dù là Chủ tịch
nước, Bộ trưởng, công nhân, nông dân, bộ đội hay người phục vụ nấu ăn,
quét rác đều là thừa nếu không hoàn thành được trách nhiệm của mình,
còn nếu làm tốt hơn người khác thì trở thành anh hùng, chiến sĩ thi đua, là
những “thánh nhân” vậy. [96, tr.13]
Tư tưởng thân dân cũng được Hồ Chí Minh vận dụng nhuần
nhuyễn. Khổng Tử đã nhận thấy “dân là gốc của nước”. Mạnh tử cho rằng
trong nước, dân là quý nhất, tiếp theo là xã tắc, vua là nhẹ; nên ai được
lòng dân chúng thì được làm thiên tử: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh. Việc đề cao dân trong tư tưởng của Nho gia không chỉ nói lên mục
đích vì dân trong hoạt động của nhà nước mà còn nói lên vai trò to lớn của

21
dân chúng, sức mạnh của dân chúng trong việc thực hiện các chính sách
quản lý của nhà nước.
Hồ Chí Minh đã thấm nhuần các tư tưởng tiến bộ của tư tưởng đó
của Nho gia và đã sớm chỉ ra cho chúng ta thấy sức mạnh của nhân dân
trong xây dựng nhà nước – một nhà nước do dân: “Gốc có vững cây mới
bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Người cũng đã từng dạy lấy dân
làm gốc. Đó là một sự kế thừa có giá trị tiến bộ của các nhà tư tưởng đi
trước. Nhưng người xưa mới chỉ nhận thấy sức mạnh của nhân dân, nhưng
chưa nhận thấy nhân dân là người chủ quyền cai trị, tức là quyền lực nhà

mạnh to lớn của con người, đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Hồ Chí Minh cũng tiếp thu phần tích cực trong tư tưởng nhân ái của Phật
giáo muốn xây dựng cuộc sống thẩm mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui, no
ấm cho chúng sinh, xây dựng một xã hội hạnh phúc và an lạc”. [96, tr.14]
Tìm hiểu cách mạng Tân Hợi và tư tưởng của Tôn Trung Sơn, Hồ
Chí Minh đã thấy chủ nghĩa tam dân mới và chính sách “Thân Nga, liên
cộng, phù trợ công nông” có những tư tưởng tiến bộ, có thể vận dụng vào
cách mạng Việt Nam. Người nhận xét: chủ nghĩa ấy thích hợp với điều kiện
nước ta. Tuy nhiên, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn cơ bản vẫn
chưa vượt qua được hệ tư tưởng tư sản nên có nhiều hạn chế. Lúc đó,
những phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc do Đảng cộng sản
Trung Quốc lãnh đạo trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới
(chống đế quốc và phong kiến) giành chính quyền ở Quảng Châu, tuy thất
bại nhưng những bài học về cách mạng đã ảnh hưởng tích cực đến tư tưởng
Hồ Chí Minh và đã giúp Người tiên đoán tương lai.

23
Khẩu hiệu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” mà Hồ Chí Minh đề ra
năm 1945 có phần vận dụng từ chủ nghĩa Tam dân, kinh nghiệm cách
mạng tư sản Pháp, nhưng đã được Người phát triển lên một trình độ mới
mang tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và cách mạng triệt để của
một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong tiến trình cách mạng
XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.
Như vậy, từ những giá trị tư tưởng đạo đức của Nho gia, kiêm ái
của Mặc gia, thuận theo tự nhiên của Lão gia, từ bi bác ái của nhà Phật, tư
sản dân chủ của cách mạng Tân Hợi Trung Quốc đã bước đầu hình thành
nên tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước vì con người. Trong nhà nước
ấy, nhân dân không những là một sức mạnh to lớn để xây dựng nhà nước,
mà còn là nguồn gốc của quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, mọi công việc
của nhà nước đều vì lợi ich của nhân dân, xuất phát từ ý nguyện của nhân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status