Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VÕ VĂN DŨNG
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI TIÊN TẦN
VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số : 62.22.80.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS,TS. TRƯƠNG VĂN CHUNG TP. HỒ CHÍ MINH- 2015
LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Triết học,
quý thầy/ cô phòng sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn PGS,TS. Trương Văn Chung đã hướng dẫn tôi một cách tận
tình, trách nhiệm và luôn chia sẻ những khó khăn của tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận án.
Cuối cùng, tôi muốn thể hiện sự biết ơn đến gia đình, anh em, bạn bè, những
người đã luôn động viên, tin tưởng và tiếp thêm niềm tin cho tôi để hoàn thành việc

Chương 1: ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN HÌNH
THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI TIÊN TẦN 10
1.1. ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
CHÍNH TRỊ THỜI TIÊN TẦN 10
1.1.1. Sự chuyển biến to lớn về trật tự, thể chế xã hội thời Xuân Thu - Chiến
Quốc là điều kiện hình thành tư tưởng chính trị thời Tiên Tần 10
1.1.2. Sự băng hoại về luân lý đạo đức xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc, là
một điều kiện góp phần hình thành tư tưởng chính trị thời Tiên Tần 28
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI
TIÊN TẦN 33
1.2.1. Văn hóa và tư tưởng truyền thống Trung Quốc là cơ sở lý luận của sự
hình thành tư tưởng chính trị thời Tiên Tần 33
1.2.2. Quan điểm về con người và bản tính con người, là một trong những cơ
sở hình thành tư tưởng chính trị thời Tiên Tần 44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 52
Chương 2: NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ THỜI TIÊN TẦN 54
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI TIÊN TẦN 54
2.1.1. Tư tưởng về thể chế chính trị thời Tiên Tần 55
2.1.2. Quan điểm về mối quan hệ giữa nhà nước với dân trong tư tưởng chính
trị thời Tiên Tần 74
2.1.3. Quan điểm về phương pháp trị nước trong tư tưởng chính trị thời Tiên Tần 87
2.2. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ THỜI TIÊN TẦN 112
2.2.1. Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần mang tính thống nhất về mục đích
nhưng đa dạng và phong phú về đường lối, phương pháp 112
2.2.2. Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần là sự thống nhất chặt chẽ giữa thần
quyền và vương quyền 117
2.2.3. Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần gắn liền với những giá trị đạo đức, luân lý 119
ii


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng chính trị đã có những tư tưởng tiến bộ
nhằm ổn định chính trị - xã hội đương thời. Đặc biệt ở Trung Quốc, tư tưởng chính
trị thời Tiên Tần ra đời trong lòng xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc: sự tan rã của
chế độ nô lệ kiểu phương Đông sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Sự
biến đổi đó đã làm cho xã hội rơi vào đại loạn, chính trong xã hội đó đã nảy sinh
một loạt các nhà tư tưởng mà lịch sử đã gọi đây là thời kỳ “bách gia chư tử”. Các
học phái thời kỳ này đứng trên lập trường khác nhau, đại diện cho các tầng lớp xã
hội khác nhau. Chính vì thế, họ đưa ra cách lý giải khác nhau về nguyên nhân dẫn
đến xã hội loạn lạc và đưa ra các giải pháp khác nhau để giải quyết những vấn đề
của xã hội nhằm cứu đời, cứu người. Tư tưởng chính trị thời kỳ này, mặc dù vẫn
còn nhiều hạn chế do điều kiện lịch sử nhưng nó vẫn còn có những giá trị lịch sử
nhất định. Những giá trị trở thành bài học bổ ích đã từng được Chủ tịch Hồ Chí
Minh tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phê phán trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cùng với các lĩnh vực khác, chính trị là một trong những lĩnh vực cơ bản, có
vai trò, có mối liên hệ và sự tác động, ảnh hưởng chi phối đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Một xã hội phát triển hài hòa, bền vững là xã hội phải có sự
phát triển đồng bộ giữa các yếu tố như kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội; trong đó
đặc biệt là lĩnh vực chính trị. Muốn phát triển chính trị thì cần có khoa học về chính
trị và triết học chính trị. Tư tưởng chính trị với tư cách là sự phản ánh các hiện
tượng xã hội, gắn bó mật thiết với sự tồn tại của xã hội và nhà nước có giai cấp; là
sự phản ánh mối quan hệ giữa các giai cấp, các mối quan hệ giữa nhà nước với
nhân dân. V.I.Lênin cho rằng, lịch sử tư tưởng chính trị là lịch sử của quá trình thay
thế của tư tưởng, do đó là lịch sử đấu tranh tư tưởng. Nghiên cứu lịch sử tư tưởng
chính trị là một nhân tố cần thiết cho việc nghiên cứu nền chính trị đương đại.

thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đến hoạt động
3

cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị” [39, 70] nhằm xây dựng bộ máy
nhà nước trong sạch, vững mạnh, gắn với dân, thể hiện đúng ý chí và nguyện vọng
của nhân dân, đảm bảo mọi hoạt động của nhà nước đều phải xuất phát từ dân, phát
huy sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Thêm vào đó chúng ta phải tổng kết từ thực
tiễn, nghiên cứu lý luận. Mặt khác, phải kế thừa những giá trị tinh hoa văn hóa của
tư tưởng nhân loại về xây dựng bộ máy nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, việc
tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại sẽ là một trong những điều kiện quan
trọng cho sự tiến bộ của một dân tộc và những giá trị tiến bộ mà chúng ta cần tiếp
thu sẽ là điều kiện để đổi mới tư duy, kiện toàn bộ máy nhà nước có hiệu quả. Đó
chính là những tri thức và kinh nghiệm phong phú mà nhân loại đã sáng tạo ra.
Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần là một trong những tinh hoa văn hóa của
nhân loại, đã từng ảnh hưởng sâu rộng tới xã hội Việt Nam. Một trong những điều
hay của tư tưởng chính trị thời Tiên Tần là thượng tôn pháp luật, lấy dân làm gốc
của nước, quan phải gần dân, xây dựng nhà nước đặt trong sự gắn bó mật thiết với
nhân dân, v.v đáng để chúng ta kế thừa như những bài học lịch sử bổ ích trong
công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị thời Tiên
Tần với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay” làm luận án tiến sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần có giá trị lớn, không những cho các triều đại
phong kiến trước đây mà cho đến hôm nay, tư tưởng đó vẫn còn thu hút được sự
quan tâm của các nhà nước hiện đại. Chính vì thế, nó đã thu hút được đông đảo sự
quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Trung Quốc mà ngay cả ở Việt Nam và
các nước lân cận; có thể khái quát các công trình nghiên cứu đó qua các chủ đề sau:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị thời Tiên Tần trong

Nghiên cứu về chủ đề này còn có rất nhiều những tác phẩn khác như: “Giáo
trình Lịch sử triết học” (Nxb Giáo dục, 2002); “Lịch sử Trung Quốc năm ngàn
năm” (tập 1, Lân Hán Đạt, Tào Dư Chương, Nxb Trẻ, 2004); “Lịch sử triết học
Trung Quốc” (tập 1, Hà Thúc Minh, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999), v.v Các công
5

trình khoa học này đã phân tích khái quát các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội
Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc. Với tư cách là cơ sở khách quan hình
thành nên các trường phái triết học ở Trung Quốc giai đoạn này, các công trình đã
giúp người đọc có cái nhìn toàn thể về thời kỳ Tiên Tần.
Mặt khác, cũng cần nói đến công trình nghiên cứu về giá trị lịch sử như “Triết
lý phương Đông - giá trị và bài học lịch sử” (Doãn Chính, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2005). Công trình nghiên cứu trên hai phương diện, triết lý và bài học lịch
sử. Phương diện những bài học lịch sử trong triết học Trung Quốc cổ đại, về
phương diện này tuy không mới nhưng việc nghiên cứu một cách nghiêm túc, tác
giả đã chỉ ra được những lý giải xác thực, có giá trị khoa học cao.
Những công trình nêu trên đã trình bày hết sức công phu, toàn vẹn về chính trị
thời kỳ Tiên Tần trong triết học. Tuy nhiên, tư tưởng chính trị Tiên Tần trong triết
học vẫn chưa được trình bày theo một hệ thống chặt chẽ và chưa có sự so sánh với
tư tưởng chính trị ở các nền văn minh khác cùng thời.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị thời Tiên Tần trong lịch
sử văn hóa Trung Quốc.
Công trình nghiên cứu về văn hóa Trung Quốc phải kể đến công trình: “Cội
nguồn văn hóa Trung Hoa” (Đường Đắc Dương, chủ biên, Nxb Hội nhà văn,
2003), công trình đề cập đến những nội dung vốn có của văn hóa truyền thống
Trung Quốc như lịch sử hình thành dân tộc Trung Quốc và đặc trưng về địa lý tạo
nên nền văn minh nơi này. Không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nội dung văn hóa
mà còn nêu ra những ý nghĩa của quá khứ đối với hiện tại. Công trình đã khái quát
quá trình phát triển, phân tích ý nghĩa văn hóa lịch sử với hiện tại, từ đó làm rõ
những nội dung đặc sắc văn hóa Trung Quốc tác động đến chính trị và luật pháp.

trong Triết học Trung Quốc cổ đại” (Nguyễn Anh Tuấn, Nxb Đại học quốc gia, Tp
Hồ Chí Minh, 2002; “The oxford companion to politics of the world” (Sách hướng
dẫn về các nền chính trị trên thế giới. (Joel Krieger (Editor in Chief) New York
Oxford OXFORD UNIVERSITY PRESS 1993); “The Problems of Philosophy”
(những vấn đề triết học), (William P. Alston (Author), Richard B. Brandt
Publisher: Allyn & Bacon, Incorporated 1974 ), v.v Các công trình không chỉ đề
cập đến những tư tưởng chính trị ở Trung Quốc từ thời kỳ cổ đại mà cả ở thời kỳ
7

hiện đại; từ đó rút ra ý nghĩa lịch sử trong việc xây dựng Nhà nước tương lai; “Nho
gia với Trung Quốc ngày nay” (Vi Chính Thông, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1996). Tác phẩm này đã có cái nhìn khách quan hơn những hạn chế về hệ thống
chính trị Trung Quốc khi cho rằng các nhà tư tưởng chính trị của Nho gia đã hình
thức hóa tư tưởng dẫn đến xiềng xích tư tưởng chính trị. Do vậy, tư tưởng của các
nhà chính trị Nho gia mang hình thức “nội thánh, ngoại vương”.
Nhìn chung, các công trình trên đã chỉ ra được nguồn gốc ra đời, nội dung tư
tưởng, và những đánh giá có tính chất phê phán các nhà tư tưởng chính trị thời Tiên
Tần một cách riêng biệt.
Kế thừa và phát triển các công trình trên, chúng tôi sẽ trình bày nội dung tư
tưởng chính trị thời Tiên Tần một cách có hệ thống; đồng thời đưa ra cách đánh giá
riêng về giá trị lịch sử, nhằm nêu ra những suy nghĩ về bài học lịch sử đối với việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận án: Trên cơ sở làm rõ hệ thống tư tưởng chính trị thời kỳ
Tiên Tần qua một số nội dung cơ bản như tư tưởng về thể chế, quan điểm về mối
quan hệ giữa nhà nước với nhân dân, quan điểm về phương pháp trị nước. Luận án
rút ra giá trị, hạn chế và những bài học lịch sử từ tư tưởng chính trị thời Tiên Tần
đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: Để đạt được mục đích trên, luận án phải thực hiện
những nhiệm vụ sau: Thứ nhất, khái quát điều kiện lịch sử- xã hội và cơ sở lý luận

thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử để nghiên cứu và trình bày luận án của mình. Đồng thời, chúng tôi
còn sử dụng hệ thống các phương pháp như: phân tích và tổng hợp, diễn dịch và
quy nạp, logic và lịch sử, so sánh, đối chiếu để nghiên cứu và trình bày luận án.
Trong các phương pháp này, chúng tôi quan tâm và sử dụng chủ yếu nguyên tắc
tiếp cận triết học so sánh. Cách tiếp cận của luận án là cách tiếp cận triết học lịch sử
và triết học chính trị.
5. Cái mới của luận án
Một là, hệ thống hóa tư tưởng chính trị thời Tiên Tần ở một số nội dung cơ
bản như: tư tưởng về thể chế chính trị thời Tiên Tần, quan điểm về mối quan hệ
9

giữa nhà nước với nhân dân trong tư tưởng chính trị thời Tiên Tần, quan điểm về
phương pháp trị nước trong tư tưởng chính trị thời Tiên Tần, rút ra những đặc điểm
cơ bản của tư tưởng chính trị thời Tiên Tần. Hai là, trên cơ sở khái quát hóa nội
dung cơ bản tư tưởng chính trị thời Tiên Tần luận án rút ra những giá trị, hạn chế
và đề xuất một số bài học lịch sử từ tư tưởng chính trị Tiên Tần đối với việc xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về lý luận, trên cơ sở trình bày hệ thống những tư tưởng cơ bản của các học
thuyết chính trị thời Tiên Tần, ý nghĩa và giá trị bài học lịch sử của nó, luận án góp
phần làm sâu sắc và phong phú thêm nội dung tri thức về lịch sử tư tưởng Trung
Quốc nói chung và tư tưởng chính trị thời Tiên Tần nói riêng.
Đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam giai đoạn hiện
nay, những bài học lịch sử rút ra từ tư tưởng chính trị thời kỳ Tiên Tần vẫn còn giá
trị bổ ích và thiết thực góp phần vào công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, luận án còn có thể làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên
cứu, giảng dạy môn lịch sử chính trị và triết học Trung Quốc trong các trường đại
học và cao đẳng.

công cụ bằng đá, bằng đồng cũng chính là những phát minh vô cùng quan trọng,
tạo tiền đề thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển sau này.
Sự xuất hiện của ngành chăn nuôi và trồng trọt thời nhà Hạ đã đưa con người
thoát khỏi cái hang tăm tối, ẩm thấp mà họ sinh sống trước đây. Nó đã làm cho con
người không phải đi xa khỏi nơi cư trú để tìm kiếm thức ăn như trước. Tuy nhiên,
sản xuất trong thời kỳ này chỉ dừng lại hình thức tự túc, tự cấp. Do vậy, trong xã hội
11

chưa có sự phân hóa giàu nghèo. Quá trình canh tác nông nghiệp thời nhà Hạ diễn ra
hoàn toàn dựa vào tự nhiên, theo hình thức quảng canh. Công cụ lao động để tham
gia sản xuất trong nông nghiệp hết sức thô sơ, chủ yếu là đá và các vật dụng sẵn có
trong tự nhiên. Tuy hình thức trồng trọt và chăn nuôi còn kém phát triển nhưng đã
làm cho đời sống của nhân dân tương đối ổn định. Hình thái tô tem và bái vật linh
cũng mất dần ý nghĩa trong đời sống xã hội, thay vào đó là những quan điểm sùng
bái sức mạnh của lực lượng tự nhiên mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo. Tuy nhiên,
nền kinh tế ở thời kỳ này chăn nuôi vẫn chiếm vị trí quan trọng, nông nghiệp chỉ phát
triển dưới dạng “nương rẫy”. Nền văn minh Trung Quốc là nền văn minh gốc du
mục khởi đầu từ tộc người Hoa Hạ “cư trú ở địa khu Trung Nguyên” [30, 17-18].
Nền kinh tế gốc du mục nhà Hạ tuy ở dạng sơ khai nhưng nó đáp ứng được nhu cầu
của lịch sử lúc bấy giờ. Khi việc canh tác còn phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự
nhiên và sự trù phú của đất đai thì hình thức quảng canh hoàn toàn phù hợp.
Bước qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ Ân – Thương, “khoảng đầu thế kỷ thứ
XVIII trước CN, Thành Thang lật đổ vua cuối cùng của nhà Hạ, lập nên nhà
Thương” [17, 15]. Dưới thời nhà Thương, nền kinh tế trồng trọt và chăn nuôi khá
phát triển, quá trình định cư đã dần thay thế cho hình thức du canh du cư thời nhà
Hạ. Nhờ vào lao động sản xuất, con người nhận thức được để có thể trồng trọt thì
phải có nước để tưới, họ tìm cách dẫn nước vào đồng ruộng để thay thế sự trông
chờ vào tự nhiên. Sự xuất hiện của vật ngang giá chung thúc đẩy quá trình trao đổi
trong xã hội. Qua quá trình phân công lao động và sự tách biệt về kinh tế, sản phẩm
lao động trở thành hàng hóa. Hàng hóa ra đời thì tiền tệ cũng xuất hiện, “tiền tệ của

xuất hiện cơ cấu tài chính quốc gia được chia làm hai hệ thống lớn; một là hệ thống
địa quan tư đồ (quan quản lý thu nhập); hai là hệ thống thiên quan chủng tề (quan
quản lý việc chi ra). Thiên quan và địa quan quản lý toàn bộ việc ruộng đất, nhân
khẩu, thuế khóa, cống nạp, thu chi, kiểm tra thuế khóa trên toàn quốc với sự phân
công rành mạch, chức trách rõ ràng. Việc thống kê về dân số cũng đã xuất
hiện:“Trong kinh văn thời Tây Chu, đã thấy ghi số lượng của người dân, đầy tớ, nô
lệ mà vua ban thưởng cho chư hầu” [133, 325]. Trong thương nghiệp xuất hiện quan
chuyên coi về thị trường, quản lý tình hình trao đổi mua bán ở chợ. Hàng hóa mua
13

bán chủ yếu trong thời kỳ này là nô lệ, trâu ngựa, binh khí, các vật quý lạ, v.v. Hàng
hóa mua bán xong phải được chấp nhận lập tờ khoán ước, cấp cho hai bên mua và
bán. Thương nhân cũng như thợ thủ công thời kỳ này phần lớn đều phụ thuộc vào quý
tộc chủ nô. Họ kinh doanh và phục vụ chủ yếu cho nhu cầu của quý tộc.
Sự xuất hiện của kim khí đã làm cho xã hội nhà Chu có nhiều chuyển biến
lớn, trình độ sản xuất bắt đầu lớn mạnh. Đây được xem như một phát hiện có tính
cách mạng thời nhà Chu. Sự phát hiện đồ sắt đã làm cho kinh tế phát triển mạnh
mẽ, hình thức quảng canh được thay thế bởi hình thức “định canh” trong nông
nghiệp. Đồ sắt ra đời không chỉ làm cho kinh tế phát triển mà nó còn làm cho nhận
thức con người phát triển lên hình thức cao hơn. Đồng thời, nó cũng nhanh chóng
đẩy xã hội thoát thai hoàn toàn khỏi hình thái kinh tế nông nghiệp quảng canh,
bước qua thời kỳ “định canh” trong nông nghiệp.
Thời Xuân thu – Chiến quốc, nền kinh tế có nhiều biến động lớn do sự xuất
hiện của nông cụ bằng sắt. Sự kết hợp giữa sức người và điều kiện tự nhiên là hết
sức quan trọng, nó là nguồn gốc của mọi của cải. Quá trình nhận thức đó đã dẫn
đến sự cáo chung của nhận thức cổ truyền. Chế độ ruộng đất thuộc về thiên tử vốn
có trước đây đến nay đã không còn, thay vào đó là sự phân hóa ruộng đất thuộc về
cá thể. Nguyên nhân của sự phân hóa ruộng đất là do một số thương nhân giàu có
đã tìm cách mua lại ruộng đất từ tay địa chủ; các chư hầu cấp cho các tướng lĩnh có
công; do sự mở rộng diện tích canh tác bằng hình thức khai khẩn; v.v… Không ít

Thủy lợi phát triển đánh dấu sự phát triển quá trình nhận thức của con người
lên một tầm cao mới. Nếu như trước đây con người phải trông chờ vào sự ban tặng
những trận mưa của “trời” thì thời kỳ Xuân thu – Chiến quốc con người đã biết chủ
động hơn trong việc trồng trọt. Những dòng nước mát đã tưới khắp ruộng đồng làm
cho con người và các đàn gia súc của họ không còn phải di cư vào những mùa khô.
Nhờ vào việc phát triển thủy lợi cùng với đồ sắt con người đã biết thâm canh tăng
vụ, năng suất được tăng lên. Hệ thống thủy lợi đã phát triển tương đối mạnh để phù
hợp với nhu cầu phát triển của nông nghiệp lúc đó. Thời cổ đại, người Trung Quốc
không chỉ biết dựa vào nguồn nước sẵn có mà họ còn biết sử dụng nguồn nước
ngầm, họ đã biết đào giếng để lấy nước uống. Có thể nói, Trung Quốc là một trong
những quốc gia sử dụng nước ngầm sớm nhất thế giới. Để giữ cho nguồn nước sạch
15

và không bị lấp lại, con người đã biết lấy gỗ và đá để xung quanh giếng, tạo thành
một khung vuông.
Thời Xuân thu sáng tạo ra kỹ thuật luyện gang thép. Ngoài ra, họ còn chế tạo
ra các công cụ từ sắt như lưỡi cày, lưỡi cuốc, liềm hái, v.v… để sử dụng trong sản
xuất và trong gia đình. Qua đó, con người cũng bắt đầu chế tạo ra binh khí như
kiếm, giáo, mâu, thuẫn, v.v… để phục vụ chiến tranh.
Sự chuyển biến về chính trị thời kỳ Tiên Tần đã làm cho nhà Chu suy yếu,
chư hầu quật khởi. Tư tưởng chính trị thời Tiên Tần gắn chặt với các quan điểm tôn
giáo, đạo đức, triết học xen lẫn vào lịch sử của chúng trong bức tranh chung của
bước tiến tinh thần Trung Quốc. Chính quyền và quỷ thần không tách rời nhau
trong triều đại nhà Hạ, vua nhà Hạ là biểu tượng của sự hợp thể giữa chính quyền
và quỷ thần. Cơ cấu quyền lực nhà Hạ được kết cấu giống với hình ảnh của kim tự
tháp mà nội dung cốt lõi của nó là “kính quỷ thần”. Nhà Hạ đã chia đất nước ra làm
chín châu, hàng năm các châu phải nộp cống cho nhà Hạ. Cống phẩm phải nộp dựa
vào các sản vật từng châu như vàng, bạc, da thú, gỗ quý, lông thú, v.v… Việc xây
dựng bộ máy nhà nước nhằm mục đích để bảo vệ lãnh thổ và củng cố địa vị xã hội
của giai cấp quý tộc, đồng thời nó còn dùng để đàn áp sự phản kháng của nhân dân

Tuy nhiên, vào thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc, sự thống trị của nhà Chu đã
không còn như trước đây. Sự phân chia quyền lực của các nước chư hầu nhằm mục
đích xưng bá, và do điều kiện kinh tế giữa các nước chư hầu khác nhau, dẫn đến
các nước chư hầu tự chấp chính, tự chế tạo tiền tệ với chế độ to nhỏ, nặng nhẹ khác
nhau. Sự khác nhau về tiền tệ tựu chung được phân thành bốn hệ thống tiền tệ lớn;
đó là đạo tệ, bố tệ, viên tiền và sở tệ. Sự phát triển của vật ngang giá chung đã thúc
đẩy quá trình trao đổi trong xã hội. Thương nghiệp phát triển tạo nên sự giao lưu về
kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các vùng miền và các nước. Hàng hóa trên thị
trường cũng vì thế mà không ngừng tăng lên. Hình thức thương nghiệp “công
thương thực quản” thời nhà Chu tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới. Sự
xuất hiện những thương nhân không phải xuất thân từ tầng lớp quý tộc ngày một
nhiều. Nhờ vào quá trình trao đổi hàng hóa đã tạo điều kiện cho tầng lớp thương
nhân đi chu du khắp nước, thậm chí sang các nước khác để buôn bán. Quá trình
trao đổi hàng hóa đã tạo nên mối quan hệ khắng khít giữa thương nhân với vua và
17

quan lại các nước. Thương nhân dựa vào vua các nước để bảo hộ hàng hóa của
mình, còn vua các nước dựa vào thương nhân để vận chuyển lương thảo và nhu yếu
phẩm nhằm phục vụ chiến tranh. Một số thương nhân trong thời kỳ này dựa vào thế
lực đồng tiền để tham gia vào hoạt động chính trị ở các nước, đòi chia sẻ quyền
bính với các nước chư hầu. Thương nhân ngày càng đông đúc, các mặt hàng hóa
như vải, đồ gốm, đồ sắt, lương thực, ngựa, trâu, da thú, cá, muối, v.v… được mang
ra trao đổi mua bán trên thị trường, thậm chí đã xuất hiện tình trạng lũng đoạn, đầu
cơ tích trữ. Quá trình lớn mạnh của thương nhân đã tạo nên tầng lớp quý tộc mới
trong xã hội. Điều này đã dẫn đến sự biến đổi về chính trị trong xã hội. Sự tranh
giành quyền bính của tầng lớp quý tộc mới với tầng lớp quý tộc cũ, sự biến đổi về
kinh tế và quan hệ xã hội đã làm nên sự biến đổi về chính trị - xã hội thời bấy giờ.
Chế độ chính trị đó ảnh hưởng tới phong tục tập quán, ảnh hưởng tới “tam
cương ngũ thường”, tới kỷ cương, trật tự, tôn ti phong kiến, tới vai trò của người
đàn ông trong gia đình, trong xã hội. Chế độ hoàng đế là một bộ phận trong hạt

được lịch sử bắt đầu cuộc đối đầu của người Hoa Di, Hoa tức là Hoa Hạ bao gồm
tộc Hoàng Đế, Viêm Đế, Cao Dương, Nghiêu, Chú Xúc, v.v… là những tộc người
lớn nhất thời kỳ đó. Di bao gồm tộc Di, Man, Địch, Nhung, v.v… Bộ lạc Hoa Hạ
cư trú ở trung và hạ lưu sông Hoàng Hà, được phân làm hai nhánh. Trong quá trình
hình thành và phát triển thì hai nhánh này đối đầu với nhau và tụ họp lại để phát
triển. Vậy Hoa Hạ là sự hợp nhất của ba bộ lạc cổ mà hình thành. Ba bộ lạc này
dựa vào hai loại hình văn hóa lớn Đông - Tây phát triển thành khu vực văn hóa Hà
Nam, Thiển Tây, Long Sơn. Ba bộ lạc này cùng thống nhất phát triển trên cơ sở
văn hóa Long Sơn ở trung và hạ lưu sông Hoàng Hà. Thời kỳ đầu phát triển của
nhà Hạ, Thương, Chu mang tính cộng đồng của nền văn hóa đồng thau vì trên thực
tế rất khó để phân biệt được rõ ràng nền văn hóa của các thời kỳ này. Biểu hiện rõ
nhất trong văn hóa thời kỳ nhà Hạ là nền văn hóa mang tính đại biểu. Hoa Hạ trở
thành chủ thể văn hóa, cũng có thể nói văn hóa thời kỳ này mang tính đẳng cấp.
“Trung Quốc nặng về lễ, nghĩa cho nên gọi là Hạ, có cái đẹp của văn chương nên
gọi là Hoa” [30, 21]. Nhà Hạ luôn cho mình là bộ lạc lớn nhất nên khinh thường
các bộ lạc khác, coi các bộ lạc khác là man di không biết lễ nghĩa. Các triều đại
luôn tìm cách bành trướng để mở rộng lãnh thổ của mình và gây nên các cuộc chiến
tranh không ngừng nghỉ “nó được thai nghén trong sự đấu tranh, hòa trộn lâu dài
19

giữa các dân tộc Trung Quốc” [30, 23] trong suốt chiều dài lịch sử của họ. Các
quốc gia thời Tiên Tần ở Trung Quốc rộng hay hẹp là do sức mạnh quân sự quyết
định. Các cuộc xâm chiếm đất đai để mở rộng lãnh thổ ở Trung Quốc được tiến
hành ở các nước láng giềng và xuống phía nam. Quá trình đó đã làm cho nền văn
hóa gốc du mục ở Trung Quốc hội tụ và giao thoa với các nền văn hóa khác tạo
thành một nền văn hóa đa dạng và phong phú.
Nếu như trước đây, khi đứng trước vũ trụ bao la người ta đã đưa ra những
phán đoán về vũ trụ mang hình thức thần thoại về mối quan hệ giữa trời và đất, về
kết cấu vũ trụ như bàn cổ khai thiên lập địa, nữ Oa vá trời, Hậu Nghệ bắn rụng chín
mặt trời, đó là những quan điểm nguyên thủy nhất về vũ trụ. Vào thời Ân - Thương,

duy con người đều do sự chi phối của thiên mệnh. Chính quyền, tài sản, danh
phận của con người đến trí tuệ đều do thượng đế ban cho. Thiên tử nhà Chu được
xem là con của trời, cai trị dân chúng trên mặt đất; do vậy, dân chúng phải tuyệt
đối phục tùng theo sự điều hành của thiên tử. Nếu không phục tùng mệnh lệnh
của thiên tử nhà Chu thì trời sẽ trừng phạt nghiêm minh bằng hình thức gieo tai
họa thông qua các hiện tượng tự nhiên như lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, chết chóc,
v.v… Kế thừa tư tưởng “thiên mệnh”, “quỷ thần” của các triều đại trước đó như:
tất cả mọi việc trong xã hội đến giới tự nhiên đều do sự chi phối của lực lượng
siêu nhiên, nhà Chu đã phát triển lên tầm cao mới cho phù hợp với thực tiễn lịch
sử. Nhà Chu khẳng định, giữa con người và lực lượng siêu nhiên có thể thông đạt
được với nhau thông qua việc thờ cúng và bói toán. “Rút bài học diệt vong của
nhà Thương, phản ánh sự biến đổi của xã hội, nhà Chu cho rằng bên cạnh việc
kính trời, thờ cúng tổ tiên còn phải tu dưỡng đạo đức và bảo hộ dân. Cho nên nhà
Chu đã chủ trương lập đức cùng với lễ, “kính thiên” cùng với “bảo dân”, tạo ra
một bước tiến trong quan niệm về lễ” [20, 332]. Nếu như trước đây lễ có mục
đích là thờ kính quỷ thần và tổ tiên thì đến nay nó đã trở thành quy tắc để duy trì
trật tự đẳng cấp trong xã hội, đồng thời lễ cũng bao hàm trong nó cả ý thức tôn
giáo, chính trị và quy phạm đạo đức.
Vào thời nhà Chu, người ta đã biết làm ra ngói để lợp nhà che nắng, che mưa.
Việc xây dựng các cung điện, nhà ở, v.v… làm bằng gỗ xuất hiện. Việc tìm ra các
vật liệu để làm nhà ở đã làm cho con người bước ra khỏi hang động, cùng với đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status