Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay Cao Thị Sính
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận án TS. ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 80 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Thị Thúy Vinh, TS. Lưu Minh Văn
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông và xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (NNPQ XHCN) ở Việt Nam hiện
nay. Làm rõ ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng NNPQ XHCN ở
Việt Nam hiện nay trên một số phương diện cơ bản. Đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng
NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Keywords. Triết học; Chủ nghĩa duy vật biện chứng; Chủ nghĩa duy vật lịch sử;
Nhà nước pháp quyền; Tâm lý tiểu nông
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới hiện nay, nhà nước đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm, xem xét,
được xoá bỏ hoàn toàn. Tâm lý tiểu nông vẫn đang tồn tại đậm nét, hiện diện trong các
tầng lớp dân cư, nhất là ở người nông dân nước ta. Tâm lý này, bên cạnh những mặt tích
cực, còn có những mặt tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ tới việc thiết định trong thực tế
nguyên tắc sống và làm việc theo pháp luật - một chuẩn mực của xã hội dân chủ, văn
minh, hiện đại; là một trở lực lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN ở
Việt Nam hiện nay.
Vì vậy, tìm hiểu những đặc trưng và ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc xây
dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu
cực của tâm lý tiểu nông đến việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn.
Với những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề: ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối
với việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên cứu luận án của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu có hai mảng tài liệu lớn:
1/ Những công trình nghiên cứu về tâm lý tiểu nông Việt Nam.
2/ Những công trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN
ở Việt Nam.
Sau đây, chúng tôi khảo sát riêng từng mảng tài liệu trên.
Một là, những công trình nghiên cứu về tâm lý tiểu nông Việt Nam.
ở nước ngoài, trong các công trình nghiên cứu của mình, nhiều học giả đã đề cập đến
vấn đề tâm lý tiểu nông. Đó là những tác giả tiêu biểu như: Pierre Gorou với “Người nông
dân châu thổ Bắc kỳ”,(1936), tái bản năm 2003; Gerald C.Hickey với “Nghiên cứu một cộng
đồng thôn xã Việt Nam - Xã hội học”; Jams B. Hendry với “Cuộc nghiên cứu một cộng đồng
thôn xã Việt Nam - phần hoạt động kinh tế ”; Lloyd Woodruff với “Nghiên cứu một cộng
đồng thôn xã Việt Nam - phần hoạt động hành chính ”v.v
ở trong nước, trước cách mạng tháng Tám đã có nhiều công trình nghiên cứu về nông
dân, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam của các tác giả như: Đào Duy Anh, Phan Kế Bính,
Nguyễn Văn Huyên…Từ sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau năm 1954 có các công
trình tiêu biểu như: “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của Nguyễn Hồng Phong, “Nông thôn Việt
việc hình thành ý thức pháp luật cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới”, Luận án Tiến sỹ
Triết học của Nguyễn Văn Long (2002)
Nhìn chung, các công trình nêu trên, từ nhiều góc độ khác nhau đã phân tích cơ sở
hình thành, đặc trưng của tâm lý nông dân, tâm lý làng xã, cũng như những điểm tích cực,
hạn chế và xu hướng biến đổi, ảnh hưởng của nó đến đời sống kinh tế xã hội ở nước ta.
Hai là, những công trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam
Từ khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam ra đời đến nay (1991), mô hình lý luận và thực tiễn xây dựng NNPQ ở nước ta đã
có khá nhiều các công trình nghiên cứu và bước đầu thu được một số kết quả. Có thể khái
quát những thành quả nghiên cứu đó như sau:
Về sách, các bài báo được đăng tải trên các tạp chí. Đó là các công trình: Xây dựng
NNPQ Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Văn Niên (1996); Xây dựng
NNPQ XHCN Việt Nam do Đào Trí úc (Chủ biên, (2005); Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Trần Hậu Thành (2005); v.v
Nhìn chung, các công trình này đã đề cập đến những vấn đề như: các tiền đề tư tưởng của
NNPQ Việt Nam XHCN; những bước đi thích hợp của việc xây dựng NNPQ XHCN ở nước
ta; xây dựng NNPQ và vấn đề dân chủ, quan điểm về xây dựng NNPQ XHCN của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam, thực tiễn tổ chức nhà nước theo hướng NNPQ hiện nay trên
thế giới
Các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ. Đó là những công trình sau: Mối quan hệ giữa
việc xây dựng NNPQ đối với sự phát triển đất nước theo định hướng XHCN, Luận án tiến sỹ
Triết học của Lê Minh Quân (1999); Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng NNPQ
Việt Nam, Luận án tiến sỹ Triết học của Đào Ngọc Tuấn (2002)
Có thể nói, vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam đã thu hút nhiều nhà
nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau:
Dưới góc độ triết học: Đó là các tác giả như: Nguyễn Đức Bình, GS Đoàn Trọng
Tuyến; Nguyễn Duy Quý; Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Thị Thuý Vân… Các tác giả theo
hướng tiếp cận này thường dựa vào quan niệm duy vật lịch sử về nguồn gốc, bản chất, đặc
trưng và chức năng của nhà nước và mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Từ việc làm rõ những đặc trưng của tâm lý tiểu nông ở Việt Nam, luận án tập
trung phân tích ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng NNPQ XHCN ở
Việt Nam, từ đó luận án đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của tâm lý tiểu nông đối với xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận án.
Một là, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về tâm lý tiểu nông và xây dựng
NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, làm rõ ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng NNQP XHCN ở
Việt Nam hiện nay trên một số phương diện cơ bản.
Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý
tiểu nông đối với việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với việc
xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay dưới góc độ triết học.
Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề xây dựng NNPQ được thể hiện ở nhiều nội dung,
nhưng luận án này chỉ tập trung vào phân tích ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với
xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam trên một số phương diện cơ bản là: kinh tế - xã hội;
xây dựng ý thức pháp luật (YTPL); xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ
pháp luật và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên các quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
(mà hạt nhân là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, biện chứng giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, sự tác động qua lại giữa các yếu tố của kiến trúc
thượng tầng và sự tác động qua lại của các hình thái ý thức xã hội) của chủ nghĩa Mác -
Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực tư
tưởng, ý thức xã hội, tâm lý xã hội và NNPQ.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
cụ thể, trong đó chủ yếu là phương pháp lôgíc - lịch sử, qui nạp - diễn dịch, phân tích - tổng
hợp, so sánh,
kinh tế tiểu nông; những điều kiện lao động sản xuất, sinh hoạt riêng có của nông dân, nông
nghiệp, nông thôn đã sản sinh, quyết định và chi phối thái độ, hành vi, cách ứng xử của họ.
Chủ thể của tâm lý đó là nông dân, song trên thực tế tâm lý tiểu nông không chỉ tồn tại và
biểu hiện ra ở người nông dân mà còn biểu hiện ra ở cả những người không phải là nông dân.
Tâm lý tiểu nông được hình thành, tồn tại bởi rất nhiều yếu tố, trong đó trực tiếp và
chủ yếu là nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, manh mún, tình trạng nền sản xuất phân tán,
biệt lập, khép kín là phổ biến, đặc biệt là tình trạng kém phát triển của sự phân công lao động
xã hội.
Bên cạnh những đặc trưng tâm lý tích cực như: lòng yêu nước, đoàn kết cộng đồng,
yêu lao động, cần cù, lạc quan trong cuộc sống; trọng con người, trọng tình cảm, trọng đạo
đức, trọng danh dự , tâm lý tiểu nông Việt Nam còn có những đặc trưng tiêu cực như: thói
quen sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, bảo thủ, lối nghĩ dựa theo kinh nghiệm; hẹp hòi, vị lợi, cục
bộ địa phương; tính tuỳ tiện, kém kỷ luật, kỷ cương, trọng lệ hơn luật Đó chính là tính
lưỡng diện, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn trong tâm lý tiểu nông Việt Nam.
Từ khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi đến trước những năm đổi mới đất nước,
vị thế của người nông dân và đời sống vật chất, tinh thần của họ được thay đổi đáng kể.
Điều đó đã làm cho tâm lý của họ có những biến đổi nhất định. Công cuộc đổi mới đất
nước từ 1986 đến nay đã tạo ra những thay đổi nhanh chóng trong đời sống kinh tế - xã hội
nông thôn. Sự thay đổi ấy đang tác động, làm biến đổi dần dần những đặc điểm tâm lý truyền
thống của người nông dân và làm xuất hiện những nhân tố mới, vừa có mặt tích cực, vừa có
những biểu hiện tiêu cực, vừa phong phú, đa dạng, vừa phức tạp, đan xen. Song, những đặc điểm
tâm lý tiểu nông nêu trên vẫn còn tồn tại và tiếp tục phát triển. Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên
nhân: tính bảo thủ và sức ỳ rất lớn của tâm lý tiểu nông, vẫn còn cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn
tại của tâm lý tiểu nông, cơ chế chính sách pháp luật chưa đồng bộ, việc thực thi pháp luật, thực
hiện các chính sách chưa nghiêm…
1.2. Khái niệm nhà nước pháp quyền, đặc điểm và nội dung xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN ở Việt Nam
NNPQ là nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó mọi chủ thể (kể cả nhà
nước) đều phải tuân thủ, phục tùng tuyệt đối pháp luật - một pháp luật thể hiện đầy đủ những
giá trị cao cả nhất của xã hội và con người, có sự phân công quyền lực nhằm mục đích bảo vệ
2.1. Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đến kinh tế, xã hội - cơ sở, nền tảng của việc
xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam
Những ảnh hưởng tích cực của tâm lý tiểu nông đến phát triển kinh tế, xã hội thể hiện
ở các đặc điểm tâm lý như: tình yêu đất nước, đoàn kết gắn bó cộng đồng, cần cù lao động,
lạc quan, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới do Đảng ta lãnh đạo Đó là những yếu tố tâm lý
quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội tạo nên tính tổ chức, sự ổn định, kỷ
cương của xã hội, tạo môi trường tâm lý xã hội lành mạnh Điều đó tạo cơ sở, điều kiện
thuận lợi để xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
Tâm lý coi trọng tình cảm, lối sống trọng tình nghĩa, trọng nghĩa vụ, tôn trọng các
quy tắc cộng đồng của người nông dân nói riêng, con người Việt Nam nói chung - xét
trong mối quan hệ tương hỗ với yêu cầu tôn trọng quyền cá nhân trên cơ sở thống nhất
giữa quyền cá nhân và lợi ích cộng đồng cũng như yêu cầu tôn trọng pháp luật, đề cao
pháp luật, đề cao tư pháp trong NNPQ XHCN Việt Nam - cũng có những tác động tích
cực. Xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam cần đến việc thực hiện nghĩa vụ của cá nhân như
một bảo đảm cho việc thực hiện quyền cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.
Đó chính là mặt tích cực của lối sống trọng tình, trọng nghĩa vụ, tôn trọng các qui tắc
cộng đồng của người dân Việt Nam đến việc xây dựng NNPQ.
Những ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với việc phát triển kinh tế, xã hội
được thể hiện ở các đặc điểm như: tâm lý bình quân chủ nghĩa, tâm lý dựa dẫm, ỷ lại, tâm lý
bám làng thiển cận, tâm lý cầu an, tâm lý cục bộ địa phương, tâm lý “phép vua thua lệ làng”,
tâm lý bảo thủ, trì trệ, không muốn đổi mới Các đặc điểm tâm lý này không khuyến khích
sự phát triển tính tích cực, năng động, sáng tạo của các cá nhân. Đó là những trở lực đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội, khi mà đất nước ta đang đòi hỏi mỗi người dân phải là những
nhân cách độc lập, có tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tích cực
năng động, sáng tạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong quá trình mở cửa
hội nhập và giao lưu với quốc tế.
2.2. Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đến xây dựng ý thức pháp luật trong nhân
dân
Tâm lý tiểu nông vừa tác động tích cực, vừa tác động tiêu cực đến việc xây dựng
đối với việc xây dựng YTPL trong nhân dân.
Thứ nhất, tâm lý “phép vua thua lệ làng”, tính cục bộ địa phương ảnh hưởng tiêu cực
tới việc xây dựng thói quen tôn trọng pháp luật nhà nước của người dân.
Do ảnh hưởng của tâm lý “phép vua thua lệ làng”, sống theo “lệ làng” nên người dân,
nhất là người nông dân vẫn chưa có thói quen tôn trọng pháp luật, không có tình cảm, thậm
chí coi thường pháp luật của Nhà nước trong xã hội nước ta hiện nay. Tâm lý ấy làm cho họ
nhiều khi có những hành động vô chính phủ, hành vi thiếu ý thức pháp luật, thiếu tinh thần
trách nhiệm, tinh thần dân chủ.
Thứ hai, tâm lý coi trọng địa vị, ngôi thứ, tính vị lợi, cục bộ địa phương đã ảnh hưởng
tiêu cực đến việc xây dựng hành vi tuân thủ, chấp hành pháp luật của người dân.
Thứ ba, mặt trái của tâm lý coi trọng người cao tuổi đã ảnh hưởng tiêu cực đến xây
dựng ý thức dân chủ, YTPL của người dân
ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý trọng người cao tuổi biểu hiện ở tâm lý sống lâu lên
lão làng, coi trọng về tri thức kinh nghiệm, coi thường và hạn chế, ngăn cản sự sáng tạo của
lớp trẻ. Về mặt xã hội, nó góp phần làm mất dân chủ, bình đẳng giữa các thế hệ, hạn chế việc
phát huy trí tuệ, sự sáng tạo, năng động của thế hệ trẻ. Nét tâm lý này là một yếu tố ảnh hưởng
tiêu cực đến việc xây dựng ý thức về dân chủ, xây dựng YTPL của người dân Việt Nam.
Thứ tư, tâm lý sống theo lệ làng đã góp phần làm hạn chế và vi phạm quyền của người
dân, làm cho họ thiếu lòng tin vào pháp luật. Đây là một trở lực đáng kể cho việc xây dựng
một nhân cách pháp luật, YTPL của người dân.
Thứ năm, tâm lý “trọng tình hơn trọng lý” đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc xây
dựng lối sống và sự ứng xử theo pháp luật của người dân.
Do ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý “trọng tình hơn trọng lý”, mà nhiều người, nhất là
người nông dân và những người sống ở nông thôn chưa có thói quen sử dụng luật pháp để
thực hiện quyền làm chủ của mình cũng như chưa có thói quen tìm hiểu và nhận thức về pháp
luật; lối sống và sự ứng xử coi trọng tình hơn lý của người dân vẫn diễn ra ở nước ta hiện
nay.
2.3. Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đến hoạt động xây dựng pháp luật, thực
hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật (công lý của xã hội)
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, chúng ta không thể tránh khỏi
cư.
Một trong những đặc trưng và yêu cầu của NNPQ là thừa nhận và tôn trọng tính tối
cao của pháp luật, xử sự theo pháp luật trong việc thực thi công quyền và trong đời sống xã
hội. Trong nhà nước ấy, pháp luật phải giữ vị trí tối thượng, là công cụ của công lý được
người dân sử dụng để bảo vệ mình, để kiểm soát nhà nước, chống lại sự lạm quyền. Thực
hiện điều này đối với việc xây dựng và thực thi NNPQ XHCN ở Việt Nam gặp khó khăn do
tác động tiêu cực từ tâm lý trọng lệ hơn trọng luật trong nhân dân. Thói quen đó đã dẫn tới
người dân đặt pháp luật ở vị trí yếu thế hơn so với lệ tục, đặt công quyền vào thế tuỳ tiện
trong thực thi quyền lực.
Việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam đòi hỏi phải đề cao vai trò xét xử của toà
án đối với những vi phạm pháp luật của cả cơ quan, quan chức nhà nước lẫn công dân. Thực
hiện nhiệm vụ này ở nước ta gặp những trở ngại, tác động tiêu cực từ tâm lý trọng tình hơn
trọng lý, chưa có thói quen sử dụng pháp luật, không thích kiện tụng, ít giải quyết bằng con
đường pháp luật, bằng con đường toà án Cách ứng xử này của người dân đã tạo ra thói quen
tuỳ tiện, vô kỷ luật, thói quen không tuân theo pháp luật, ngại sử dụng pháp luật của người
dân.
Xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam cần bảo đảm nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực
hiện các quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, có sự kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc thực hiện
quyền lực nhà nước. Nhưng điều đó cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng mức độ này, mức độ khác từ
những mặt tiêu cực của tâm lý tiểu nông. Tâm lý cục bộ địa phương, trọng lệ hơn trọng luật dẫn
tới người dân chỉ tôn trọng và tuân thủ theo những chuẩn mực của lệ tục, xa lánh pháp luật,
không chủ trương dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ giữa
người dân với nhà nước. Do đó, họ không chú ý, quan tâm đến việc giám sát, kiểm tra hoạt động
của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện công quyền. Quan niệm ấy ảnh hưởng không nhỏ
đến việc thực thi quyền lực, quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta hiện nay.
2.4. Ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông đối với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Những đặc điểm tâm lý tiểu nông tích cực là tiền đề, cơ sở vững chắc, là điều kiện
thuận lợi, ảnh hưởng tích cực đến việc xây dựng những phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán
bộ, công chức vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng” vừa “chuyên” để xây dựng NNPQ XHCN
Đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý có tâm lý bình quân chủ nghĩa, cào bằng, kìm
hãm người tài sẽ không chú trọng đề bạt, cất nhấc, bố trí những cán bộ có năng lực vào các
cương vị chủ chốt. Tâm lý bình quân chủ nghĩa ở người lãnh đạo không kích thích được
những cá nhân có khả năng cố gắng vươn lên, hăng say và trách nhiệm trong công việc, vì
vậy, không tạo được sức mạnh thúc đẩy sự phát triển của tập thể.
Tính tuỳ tiện, kém kỷ luật, kỷ cương, chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp
luật ảnh hưởng tiêu cực đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ta thể hiện ở tác phong
làm việc không theo kế hoạch, yêu cầu và thời gian quy định; ý thức kỷ luật của công chức
chưa cao
Sự ảnh hưởng tiêu cực của nét tâm lý này trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thể
hiện ở chỗ: không chấp hành nghiêm luật pháp của Nhà nước; đề ra những yêu cầu, đòi hỏi
không hợp lý đối với cấp dưới; không khách quan, công bằng trong việc đánh giá, đề bạt, sử
dụng cán bộ
Chương 3
Một số giải pháp nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến
việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay
3.1. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - cơ sở, tiền đề để khắc phục ảnh
hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông
3.1.1. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta sẽ tạo ra cơ sở khách
quan để khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với việc xây dựng NNPQ
XHCN ở Việt Nam trên một số điểm sau:
Nền kinh tế thị trường buộc người dân phải năng động, sáng tạo, nhạy bén trong quá
trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm. Điều này khác xa so với thói quen thụ
động, trông chờ, ỷ lại trong nền kinh tế trước đây, sẽ tạo ra tiền đề kinh tế - xã hội cho việc khắc
phục tâm lý cục bộ, địa phương chủ nghĩa cũng như tâm lý bảo thủ, khép kín của người dân. Sự
thay đổi, linh động của sản xuất dưới cơ chế thị trường làm cho những ai bảo thủ, trì trệ, luôn bám
cách phổ biến đòi hỏi mọi người phải tích cực học tập, nâng cao vốn kiến thức, phải
được trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật mới có thể làm việc cũng như mới có đủ năng
lực để giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong sản xuất và đời sống. Điều đó sẽ
kéo theo sự thay đổi về tầm nhìn, nếp nghĩ; lối suy nghĩ theo kinh nghiệm, thiển cận,
bảo thủ, ngại đổi thay, ngại tiếp thu cái mới từng bước được loại bỏ; óc quan sát, óc phê
phán, phương pháp đánh giá nhìn nhận, giải quyết vấn đề sẽ được phát triển trên cơ sở
khoa học ở mỗi người Việt Nam nói chung, người nông dân nói riêng.
CNH, HĐH ở nước ta tất yếu sẽ dẫn tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế
có cơ cấu cơ bản là nông nghiệp sang cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp - dịch vụ hiện
đại, trong đó tốc độ phát triển và tỷ trọng công nghiệp sẽ tăng lên. Khi cơ cấu nền kinh
tế được thay đổi, trong đó công nghiệp, dịch vụ giữ vai trò chủ đạo thì đời sống kinh tế -
xã hội của đất nước cũng như ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn có sự chuyển biến sâu
sắc, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục
ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tất yếu dẫn tới sự đô thị hoá nông
thôn diễn ra nhanh chóng. Nhờ đó, kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam trở nên sôi động
hơn, người nông dân cũng trở nên năng động hơn. Điều kiện sống và làm việc với
phong cách công nghiệp sẽ làm thay đổi một loạt những tập quán, thói quen lao động và
sinh hoạt cũ lạc hậu (lối sống khép kín, cách cư xử nặng tình nhẹ lý, tác phong lề mề,
chậm chạp ) của người tiểu nông Việt Nam.
Quá trình CNH, HĐH đất nước, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng sẽ
tạo ra sự biến đổi căn bản diện mạo đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam, tạo ra tiền đề
vật chất cho việc cải thiện đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tạo bầu không khí
tâm lý nông thôn, nông dân lành mạnh, hình thành nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Đây là yếu tố quyết định hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đến việc xây
dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
3.2. Phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng và đẩy mạnh thực
hiện dân chủ ở nông thôn
3.2.1. Nâng cao vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn
Đội ngũ đảng viên ở nông thôn bao gồm nhiều thế hệ, nhiều lớp tuổi, phần đông có
là Đảng uỷ cấp xã; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Ban chỉ đạo thực hiện Qui
chế dân chủ ở cơ sở; tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền, nhất là chính
quyền cơ sở trong việc tổ chức, triển khai thực hiện qui chế dân chủ
3.3. Nâng cao đời sống văn hoá đi đôi với cải biến phong tục, tập quán lạc hậu
Do đặc thù của làng - xã trong đời sống của người dân Việt Nam, nên trong giai đoạn
hiện nay, việc xây dựng thành công các làng - xã văn hoá nói riêng, “xây dựng nông thôn
mới” nói chung mà trong đó, mỗi người dân đều có ý thức sống và làm việc theo pháp luật
trên cơ sở thực thi các qui định trong Qui ước làng văn hoá sẽ hình thành một nông thôn mới
với môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh. Môi trường đó sẽ góp phần tích cực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế, đồng thời cũng tạo ra những mối quan hệ xã hội mới có ảnh hưởng tới tâm
lý của người dân sống ở nơi đây, sẽ có tác dụng khắc phục dần tâm lý tiểu nông lạc hậu, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc hình thành những nhân tố tâm lý mới, tiến bộ hơn. Điều đó ảnh hưởng
tích cực tới việc xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta. Đồng thời với việc xây dựng đời sống văn
hoá - xã hội mới cho người dân, nhất là người nông dân, chúng ta cần phải cải biến, dần dần xoá
bỏ những thói quen, phong tục, tập quán lạc hậu nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của nó
trong việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
3.4. Nâng cao ý thức pháp luật cho người dân với việc khắc phục mặt tiêu cực
của tâm lý tiểu nông
3.4.1. Nâng cao dân trí cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là người nông dân -
Điều kiện cơ bản để nâng cao nhận thức pháp luật
Nâng cao trình độ học vấn, dân trí là giải pháp cơ bản để giúp cho người dân nói
chung, người nông dân nói riêng có tri thức, nhận thức về vai trò của pháp luật, nâng cao khả
năng tự điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những yêu cầu của pháp luật, tiến tới biết
sử dụng pháp luật để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, làm cho YTPL của họ được nâng
lên. Theo đó, tâm lý coi thường, thờ ơ, thậm chí là ác cảm với pháp luật, tâm lý “phép vua
thua lệ làng”, cục bộ, địa phương của người dân dần dần được khắc phục. Điều này ảnh
hưởng tích cực đến việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
3.4.2. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức
tôn trọng pháp luật, ứng xử theo pháp luật cho người dân
Để tuyên truyền và giáo dục pháp luật có hiệu quả nhằm khắc phục ảnh hưởng tiêu
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng là
con đường tích cực hình thành phẩm chất đạo đức cách mạng ở người cán bộ, công
chức.
KẾT LUẬN
1. 1. Tâm lý tiểu nông là loại hình tâm lý xã hội của tầng lớp nông dân được hình
thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của nền kinh tế tiểu nông, với những điều kiện lao động sản
xuất, sinh hoạt riêng có của nông dân, nông nghiệp, nông thôn, do điều kiện đó sản sinh,
quyết định và chi phối thái độ hành vi, cách ứng xử của họ. Chủ thể của tâm lý đó là nông
dân, song trên thực tế tâm lý tiểu nông không chỉ tồn tại và biểu hiện ra ở người nông dân mà
còn biểu hiện ra ở cả những người không phải là nông dân.
Bên cạnh những đặc trưng tâm lý tích cực như: đoàn kết cộng đồng, yêu lao động, cần
cù, lạc quan trong cuộc sống; trọng con người, trọng tình cảm, trọng đạo đức, trọng danh
dự , tâm lý tiểu nông Việt Nam còn có những mặt tiêu cực như: thói quen sản xuất nhỏ lẻ,
manh mún, bảo thủ, lối nghĩ dựa theo kinh nghiệm; hẹp hòi, vị lợi, cục bộ địa phương; tính
tuỳ tiện, kém kỷ luật, kỷ cương, trọng tình hơn trọng lý, trọng lệ hơn luật Đó chính là tính l-
ưỡng diện, tính vừa thống nhất vừa mâu thuẫn trong tâm lý tiểu nông Việt Nam.
Tâm lý tiểu nông ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội ta,
trong đó ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam.
2. NNPQ là nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó mọi chủ thể (kể cả
nhà nước) đều phải tuân thủ, phục tùng tuyệt đối pháp luật - một pháp luật thể hiện đầy đủ
những giá trị cao cả nhất của xã hội và con người, tổ chức theo nguyên tắc phân định quyền
lực nhằm mục đích bảo vệ tối đa chủ quyền của nhân dân.
Xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam xác định với những nội dung cơ bản
là: Xây dựng cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại của NNPQ XHCN; xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật; thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật; xây dựng YTPL cho nhân dân;
cải cách bộ máy nhà nước, trước hết là xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; mở rộng dân chủ
XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân
3. Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, luận án tập trung phân tích sự ảnh hưởng của
tâm lý tiểu nông Việt Nam đối với việc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam trên một số
ta trong giai đoạn mới, NXB CTQG, Hà Nội.
5. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Lê Văn Cảm (1997), Học thuyết về nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên
bang Nga, NXB Sáng tạo, Mátxcơva.
7. Nguyễn Cúc (chủ biên) (2002), Thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện
nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB CTQG, Hà Nội.
8. Đoàn Văn Chức (1997), Xã hội hoá văn hoá, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (2004), “Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với giá trị
truyền thống trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay”, Tạp chí Triết học (159 ), tr. 5 -
11.
10. Diu Righin (1986), Pháp luật, chính trị, đạo đức và ý thức pháp luật xã hội, NXB Sự
thật, Hà Nội.
11. Phan Đại Doãn (chủ biên) (1996), Quản lý xã hội nông thôn nước ta hiện nay - một số
vấn đề và giải pháp, NXB CTQG, Hà Nội.
12. Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế xã hội, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
13. Phan Đại Doãn (2004), Mấy nét về văn hoá làng- xã Việt Nam trong lịch sử, NXB
CTQG, Hà Nội.
14. Nguyễn Quang Du (1994), ý thức nông dân trong cán bộ, đảng viên nông thôn miền
Bắc Việt Nam - những đặc trưng chủ yếu, Luận án PTS Triết học, Hà Nội.
15. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (2004): Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền,
NXB Tư pháp, Hà Nội.
16. Trần Sỹ Dương (2010), ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội.
17. Bùi Huy Đáp (1996), Nông nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới, NXB CTQG,
Hà Nội.
18. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khóa VII, NXB CTQG, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Sự thật, Hà Nội.
34. Bùi Xuân Đính (1985), Lệ làng và phép nước, NXB Pháp lý, Hà Nội.
35. Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý làng xã, NXB Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
36. Bùi Xuân Đính (1999), 101 truyện pháp luật đời xưa, NXB Thanh niên, Hà Nội.
37. Lê Văn Định (2000), Xu hướng biến đổi của tâm lý cộng đồng làng ở Việt Nam trong
giai đoạn đổi mới, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội.
38. Bùi Xuân Đức (2004), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay,
NXB Tư pháp, Hà Nội.
39. Vũ Minh Giang (1992), “Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hoá hiện nay
ở nước ta”, Tạp chí Thông tin lý luận (9), tr. 22 - 25.
40. Trần Văn Giàu (1973), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến
cách mạng tháng Tám Tập 1, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
41. Trần Văn Giàu (1980), Các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, NXB
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
42. P.Gourou(2003), Người nông dân châu thổ Bắc kỳ, NXB Trẻ.
43. Hoàng Văn Hảo (1997), “Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân”, Đại hội VIII những tìm tòi và đổi mới, Học viện CTQG, tr. 85 - 98.
44. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2004), Tâm lý người Việt Nam đi vào công nghiệp hoá,
hiện đại hoá - Những điều cần khắc phục, NXB CTQG, Hà Nội.
45. Diệp Đình Hoa (1990), Tìm hiểu làng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
46. Nguyễn Huy Hoàng (2004), Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội.
47. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các môn khoa học Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình Triết học Mác - Lênin, NXB CTQG,
Hà Nội.
48. Nguyễn Thị Hồi (2005), Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ
máy nhà nước ở một số nước, NXB Tư pháp, Hà Nội.
49. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992) (1995), NXB CTQG, Hà Nội.
50. Hiến pháp năm 1992 và các luật tổ chức Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (1993), NXB CTQG, Hà Nội.
Hà Nội.
69. Đỗ Long (2000), Quan hệ cộng đồng và cá nhân trong tâm lý nông dân, NXB Khoa
học Xã hội, Hà Nội.
70. Nguyễn Văn Long (2002), Lệ làng truyền thống với việc hình thành ý thức pháp luật
cho nông dân Việt Nam thời kỳ đổi mới, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội.
71. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Sửa đổi) (2004), NXB CTQG, Hà Nội.
72. Lý luận chung về nhà nước và pháp luật (2004), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
73. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập Tập 2, NXB CTQG, Hà Nội.
74. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập Tập 3, NXB CTQG, Hà Nội.
75. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập Tập 7, NXB CTQG, Hà Nội.
76. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập Tập 8, NXB CTQG, Hà Nội.
77. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập Tập 9, NXB CTQG, Hà Nội.
78. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập Tập 12, NXB CTQG, Hà Nội.
79. C. Mác và Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập Tập 13, NXB CTQG, Hà Nội.
80. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập Tập 18, NXB CTQG, Hà Nội.
81. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập Tập 19, NXB CTQG, Hà Nội.
82. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập Tập 20, NXB CTQG, Hà Nội.
83. C. Mác và Ph. Ăngghen (1998), Toàn tập Tập 23, NXB CTQG, Hà Nội.
84. C. Mác và Ph. Ăngghen (1998), Toàn tập Tập 46, NXB CTQG, Hà Nội.
85. Đỗ Thị Thanh Mai (2001), Tâm lý nông dân miền Bắc Việt Nam khi chuyển sang kinh
tế thị trường - Đặc trưng và xu hướng biến đổi, Luận án Tiến sỹ Triết học, Hà Nội.
86. Nông Đức Mạnh (2004), “Đưa cuộc vận động thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở lên
một bước mới, rộng rãi hơn, hiệu quả hơn, thiết thực hơn”, Tạp chí Cộng sản (20), tr.3-
6.
87. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập Tập 1, NXB CTQG, Hà Nội.
88. Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập Tập 4, NXB CTQG, Hà Nội.
89. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập Tập 5, NXB CTQG, Hà Nội.
90. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập Tập 6, NXB CTQG, Hà Nội.
91. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập Tập 7, NXB CTQG, Hà Nội.
92. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập Tập 9, NXB CTQG, Hà Nội.
110. Trương Hữu Quýnh (1982), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam Tập 1, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
111. Trương Hữu Quýnh (1983), Chế độ ruộng đất ở Việt Nam Tập 2, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
112. Trần Văn Sơn (Sưu tầm và tuyển chọn) (2000), Qui chế dân chủ ở cơ sở, NXB lao
động, Hà Nội.
113. Văn Tạo (1993), Chúng ta kế thừa những di sản nào, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
114. Văn Tạo (1996), Phương thức sản xuất châu á: Lý luận Mác - Lênin và thực tiễn Việt
Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
115. Trần Hậu Thành (2000), “Nguyên tắc thống nhất quyền lực và phân công, phối hợp
giữa các quyền trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước ta”, Tạp chí Nghiên
cứu lý luận (6), tr 24- 28.
116. Trần Hậu Thành (2000), “Dân chủ và mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với dân
chủ”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (10), tr. 9-11, 48.
117. Trần Hậu Thành (2000), “Quan hệ giữa nhà nước và pháp luật trong Nhà nước pháp
quyền”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận (2), tr. 47 - 51.
118. Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
119. Trần Hậu Thành (2005), “Một số vấn đề lý luận về quan hệ Nhà nước, xã hội và công
dân trong NNPQ”, Tạp chí Triết học (6), tr 16-22.
120. Võ Văn Thắng (2005), Kế thừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc
trong việc xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ Triết học, Hà Nội.
121. Trần Ngọc Thêm (1998), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội.
122. Hồ Văn Thông (1997), “Xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay”, Đại hội VIII những tìm
tòi và đổi mới, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, tr. 35 - 68.
123. Hồ Văn Thông (1998), Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, NXB
CTQG, Hà Nội.
124. Lê Minh Thông (1997), “Để nhà nước ta thực sự là nhà nước “của dân, do dân và vì
dân”, Tạp chí Triết học (6), tr.19 - 26.
125. Lê Minh Thông, Nguyễn Như Phát (2002), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính
học Xã hội, Hà Nội.
142. Viện Sử học (1979), Nông thôn Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
143. Viện Thông tin Khoa học Xã hội (1992), Thuyết “Tam quyền phân lập” và bộ máy
nhà nước tư sản hiện đại, Hà Nội.
144. Viện Ngôn ngữ học (2001), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
145. Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên) (1994), Từ điển Xã hội học, NXB Thế giới.
146. Lê Kim Việt (1998), Đặc điểm tâm lý nông dân đồng bằng Bắc Bộ và sự tác động của
nó đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ nước
ta, NXB CTQG, Hà Nội.
147. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục
148. Lê Hữu Xanh (chủ biên) (1999), Tâm lý nông dân đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình
CNH, HĐH nông thôn hiện nay, NXB CTQG, Hà Nội.
149. Lê Hữu Xanh (chủ nhiệm đề tài cấp Bộ) (2002), ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu
nông đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh của nhà n-
ước trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Học viện CTQG Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
150. Lê Hữu Xanh (chủ biên) (2005), ảnh hưởng tiêu cực của tâm lý tiểu nông đối với cán
bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội.
151. Insun. Yu, Luật xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII (1994), NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội.