MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt nhiều thế kỷ, các nhà tư tưởng tiến bộ của xã hội loài người đã
gắng sức một cách khó nhọc nhằm giải quyết vấn đề thủ tiêu sự bất bình đẳng
trong xã hội. Mỗi một giai đoạn lịch sử của xã hội, các nhà tư tưởng đều để lại
những học thuyết, những dấu vết nào đó của những tìm tòi lý luận trong lĩnh vực
tư tưởng xã hội.
Ngay từ thời cổ Hy Lạp con người đã được coi là châu báu của vũ trụ,
con người là đẹp nhất. Tiếp đó các đại biểu kiệt xuất của thời kỳ phục hưng đã
tìm con đường giải phóng con người thoát khỏi sự áp bức kìm kẹp của chế độ
phong kiến đưa lại cho con người quyền sống, quyền được làm con người tự do.
Đến cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, những học thuyết của các nhà xã hội
chủ nghĩa không tưởng vĩ đại như: Xanh Simông, Phuriê, Ô oen...đã mở rộng ra
rất nhiều những giới hạn của các quan niệm không tưởng trước kia. Tuy nhiên,
không một ai trong số những đại biểu của trào lưu này có thể phát hiện được
những quy luật phát triển xã hội thực sự, mặc dù họ đã nêu lên những giả thuyết
sâu sắc về chế độ xã hội tương lai và đã phê phán xã hội tư bản một cách dũng
cảm và thẳng tay.
Chỉ đến những năm đầu thế kỷ XIX, từ những thành tựu khoa học của nhân
loại, từ thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, Mác - Ăngghen mới tìm thấy
chìa khoá để mở cánh cửa giải phóng con người là giai cấp công nhân phải giành
lấy chính quyền, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhưng nó vẫn ở một góc
độ, khía cạnh nhất định và chưa được hoàn thiện. Nó chỉ được hoàn thiện và trớ
thành thực tiễn khi V.I.Lênin xây dựng những hệ thống quan điểm, tư tưởng về
nhà nước xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước đó, đưa nó trở thành thực tiễn ở
nước Nga - Xôviết. Đây chính là công lao to lớn, vĩ đại của Lênin.
Trước sự khủng hoảng ở các nước xã hội chủ nghĩa và sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, nhiều người đã biểu lộ sự dao động và hoài
nghi về một nhà nước xã hội chủ nghĩa - nhà nước của dân, do dân, vì dân. Bọn
chủ nghĩa cơ hội và xét lại cùng các thế lực phản động chống cộng được dịp tấn
công một cách điên cuồng và quyết liệt vào chủ nghĩa xã hội, phủ định sứ mệnh
tích, giới thiệu trong các tác phẩm đã được in thành sách hay đăng trên các tạp
chí… Nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đã quan tâm nghiên cứu đề cập đến vấn đề
này ở nhiều phương diện khác nhau, song tất cả chỉ mới thu được những thành
công nhất định. Mặc dù vậy tôi vẫn muốn chọn đề tài này làm tiểu luận, để khai
2
thác sâu hơn khía cạnh của vấn đề và hy vọng sẽ tìm ra những nét mới trong nội
dung tư tưởng của Lênin về chuyên chính vô sản.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của tôi là tìm hiểu và làm rõ những nội dung tư
tưởng về nhà nước xã hội chủ nghĩa được Lênin trình bày trong các tác phẩm của
mình và sự vận dụng tư tưởng đó của Đảng ta trong quá trình xây dựng nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để đạt được mục đích đó, tiểu luận phải có những nhiệm vụ làm rõ những
vấn đề sau:
- Lý luận chung về nhà nước và nhà nước chuyên chính vô sản của chủ
nghĩa Mac Lenin
- Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử đồng thời sử dụng các phương pháp như: logic, lịch
sử, phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu tài liệu…
6. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liêu tham khảo, tiểu luận có
kết cấu gồm 3 phần:
Chương 1. Khái quát về tác giả, tác phẩm
Chương 2. Nội dung lý luận chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác Lenin
Nhóm số đông ủng hộ V.I. Lê-nin gọi là những người Bolshevik,
nhóm số ít chủ trương thành lập đảng đấu tranh theo kiểu Nghị
viện gọi là những người menshevik.
Tháng Tư 1905, tại Đại hội lần thứ III ĐCNXHDC Nga, V.I. Lênin được bầu là chủ tịch Đại hội. Tháng Mười Một 1905, V.I. Lênin bí mật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga. Tháng
Chạp 1907, V.I. Lê-nin sống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo
vệ và củng cố đảng hoạt động bí mật. Tháng Sáu 1912 từ Paris
chuyển về Krakov lãnh đạo tờ Pravda (Sự thật). Ngày 16 tháng
Tư V.I. Lê-nin đến Petrograd để trình bày Luận cương Tháng Tư
4
thực chất là một văn kiện mang tính cương lĩnh đề ra đường lối
giành chiến thắng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa với
khẩu hiệu Toàn bộ chính quyền về tay các Xô Viết! Hội nghị lần
thứ VII toàn Nga (Tháng TƯ 1917) của ĐCNXHDC Nga đã nhất trí
thông qua đường lối do V.I. Lê-nin đề ra. Đầu tháng Tám 1917
Đại hội lần thứ VI ĐCNXHDC Nga họp bán công khai ở Petrograd,
V.I. Lê-nin tuy không tham dự nhưng vẫn lãnh đạo Đại hội tiến
hành và thông qua đường lối phải khởi nghĩa vũ trang giành lấy
chính quyền. Trong thời gian này, V.I. Lê-nin viết xong cuốn Nhà
nước và cách mạng đề ra nhiệm vụ cho giai cấp vô sản phải
giành lấy chính quyền bằng con đường đấu tranh vũ trang Đầu
Tháng Mười 1917,
Tối ngày 6 Tháng Mười Một 1917, V.I. Lê-nin đến Cung điện
Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa. Đến rạng sáng ngày 7
Tháng Mười một 1917 , toàn thành phố Petersbuorg nằm trong
tay những người khởi nghĩa, và đến đêm ngày 7 Tháng Mười Một
1917, Cách mạng Tháng Mười Nga đã toàn thắng. Chính quyền
đã về tay nhân dân. Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới
1.2. Khái quát về tác phẩm “ Nhà nước và cách mạng”
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Lênin có nhiều tác phẩm phát triển học thuyết về nhà nước của Mác như:
Tai họa sắp đến và những phương pháp ngăn ngừa tai họa đó; Những người
Bônsêvích sẽ giữ được chính quyền hay không?; Nhiệm vụ trước mắt của chính
quyền Xô viết; cách mạng vô sản và tên phản bội Causky; Bàn về Nhà nước,
Kinh tế chính trị trong thời kỳ chuyên chính vô sản; Thà ít mà tốt; nhưng tác
phẩm Nhà nước và cách mạng là tác phẩm chủ yếu nhất, tiêu biểu nhất. Đây là
toàn bộ lý luận về nhà nước, những quan điểm về một Nhà nước kiểu mới - Nhà
nước vô sản đầu tiên trên thế giới của Lênin.
Tác phẩm này được viết ra trong hoàn cảnh trước ngày nổ ra Cách mạng
Tháng Mười (từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1917). Để tránh sự bắt bớ của Chính
phủ lâm thời lúc bấy giờ, Lênin phải ẩn náu trong nhà một người công nhân ở ga
Rađơlít trên biên giới Nga - Phần Lan, về sau lại ẩn náu trong túp lều tranh phía
sau hồ Rađơlít để hoạt động và viết tác phẩm này.
Sống trong hoàn cảnh bí mật, Lênin không một phút nào ngừng hoạt động
cách mạng, Người vẫn giữ mối liên hệ với Trung ương Đảng. Thời gian ở đây,
Lênin viết thêm 60 bài báo, sách và thư từ. Trong số đó có tác phẩm Nhà nước và
cách mạng nổi tiếng, nó được viết ra như có sự hối thúc của thời cuộc, như dành
riêng cho giai cấp công nhân để giành lấy chính quyền.
Trong tác phẩm này, Lênin không những đã khôi phục được quan điểm của
Mác và Ăngghen về nhà nước mà còn phát triển một bước học thuyết của chủ
nghĩa Mác về nhà nước và chuyên chính vô sản. Sau đó không lâu, Lênin có ý
muốn viết tiếp phần thứ hai của tác phẩm này - một bài tổng kết những kinh
nghiệm của cuộc Cách mạng Nga năm 1905 và năm 1917; tổng hợp lại những
kinh nghiệm mới của chính quyền Xô viết để tiếp tục phát huy và làm phong phú
thêm học thuyết về nhà nước của mình. Rất tiếc, Lênin chưa kịp làm công việc
đó thì Người đã từ trần. Đây là một thiệt thòi lớn cho nhân loại, cho những nước
đi theo con đường của Lênin.
tai họa chưa từng có và làm tăng thêm tinh thần cách mạng của nhân dân.
Kết quả là đẩy cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản thêm nhanh
và thuận lợi:
- Phong trào cách mạng vô sản thế giới phát triển rầm rộ.
- Thời cơ giai cấp vô sản giành lấy chính quyền từ tay giai cấp tư sản đã
chín muồi.
- Vấn đề giai cấp vô sản và quan hệ đối với nhà nước được đặt ra.
8
- Việc giai cấp vô sản trực tiếp tổ chức vũ trang và cuộc cách mạng vô sản
giành chính quyền bằng bạo lực đã trở thành vấn đề hành động thực tế trước mắt.
Lênin khẳng định: Chủ nghĩa đế quốc là đêm trước của cách mạng vô sản.
Vì vậy, vấn đề nhà nước được đặt ra một cách cấp bách. Tác phẩm Nhà nước và
cách mạng chính là sự chuẩn bị lý luận về nhà nước và cách mạng cho giai cấp
vô sản giành chính quyền và nắm lấy chính quyền, là cương lĩnh xây dựng nhà
nước của giai cấp vô sản, vũ trang về mặt lý luận cho giai cấp vô sản và quần
chúng cách mạng Nga, làm cho những hoạt động khởi nghĩa vũ trang có sự chỉ
đạo lý luận mácxít.
Ba là, viết Nhà nước và cách mạng, Lênin muốn đập tan luận điệu của bọn
cơ hội ở Quốc tế II (điển hình là Bécstanh và Causky), mưu toan chống lại những
nguyên lý về nhà nước của Mác, chống lại việc xây dựng phương pháp cách
mạng để thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản. Bọn cơ hội, xét lại ở
Quốc tế II ra sức bảo vệ lý luận phát triển, bảo vệ hòa bình để chuyển từ chủ
nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội. Còn bọn vô chính phủ thì tìm cách chống lại
bất kỳ một nhà nước nào, kể cả nhà nước chuyên chính vô sản.
Trước tình hình đó, Lênin cho rằng, nếu không đấu tranh kiên quyết chống
những thiên biến cơ hội chủ nghĩa về vấn đề nhà nước thì không thể đấu tranh
giải phóng quần chúng cần lao khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản nói chung.
IV), ở những chương này, bằng phương pháp lịch sử và phân tíc lịch sử Lênin đã
chỉ rõ cách thức mà Mác và Ăngghen tổng hợp kinh nghiệm của các cuộc cách
mạng trong những năm 1848 - 1851, đặc biệt làCông xã Pari để từ đó phát triển
những tư tưởng của hai ông về Nhà nước, về chuyên chính vô sản.
Chương V - Lênin tập trung phân tích những cơ sở kinh tế của Nhà nước tự
tiêu vong. Lý luận về chuyên chính vô sản, về hai giai đoạn của hình thái kinh tế
cộng sản chủ nghĩa cũng được Lênin phân tích rất cụ thể và sâu sắc ở chương
này. Vì vậy, đây cũng là chương quan trọng chứa đựng nhiều luận điểm cơ bản và
mẫu mực.
10
Chương VI - Lênin đã vạch rõ bọn theo chủ nghĩa cơ hội đã tầm thường hóa
chủ nghĩa Mácnhư thế nào qua những cuộc luận chiến của chính các đại biểu,
phe phái này với nhau. Luận điểm của Plê-kha-nốp chống bọn vô Chính phủ,
luận điểm của Cau-xky chống bọn cơ hội chủ nghĩa và luận chiến của Cau-xky
chống Pan-nê-cúc.
11
CHƯƠNG II.
NỘI DUNG LÝ LUẬN CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN TRONG
TÁC PHẨM “ NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG”
2.1.
Khái niệm chuyên chính vô sản
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của Nhà nước, các nhà kinh điển của chủ nghĩa
2.2.
Nguồn gốc của chuyên chính vô sản
Học thuyết chuyên chính vô sản của chủ nghĩa Mác có một lịch sử lâu dài
và phong phú. Từ 1848, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác – Ăngghen
nêu rõ tư tưởng của chuyên chính vô sản là: Giai cấp vô sản phải giành quyền
thống trị và chính trị . Sau khi trải qua cách mạng Pháp 1848 - 185l, Mác rút ra
kết luận quan trọng là: nếu không dùng bạo lực đập tan bộ máy nhà nước của giai
cấp tư sản thì cách mạng vô sản không thể thắng lợi, chính quyền của giai cấp vô
sản cũng không thể dựng lên được. Sau Công xã Pari 1871, Mác đặt ra vấn đề là:
giai cấp vô sản sau khi đập tan bộ máy nhà nước tư sản, thì thay vào bằng hình
thức nhà nước nào?
Năm 1875, trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta, đã trình bày rõ một
số vấn đề hết sức quan trọng về nhà nước và chuyên chính vô sản trong thời kỳ
quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản.
Đến thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản thì học thuyết chuyên
chính vô sản của chủ nghĩa Mác đã bước sang một giai đoạn mới, Lênin không
những khôi phục học thuyết của Mác - Ăngghen, đập tan mọi sự xuyên tạc của
mọi chủ nghĩa cơ hội đối với học thuyết này đồng thời phát triển nó, đề ra và giải
quyết một số vấn đề mới quan trọng.
Trong bức thư gửi Vâyđơmaye ngày 5 tháng 3 năm 1852, Mác cho rằng,
điều mới mẻ mà Mác đã làm và đã chứng minh là:
- Sự tồn tại của giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn lịch sử nhất định
của sự phát triển sản xuất.
- Đấu tranh giai cấp tất nhiên đưa đến chuyên chính vô sản.
- Bản thân sự chuyên chính chỉ là bước quá độ tiến lên xóa bỏ mọi giai cấp
và tiến lên một xã hội không có giai cấp.
Đối với luận điểm này, trong Nhà nước và cách mạng, Lênin trình bày
rằng: “kẻ nào chỉ thừa nhận có đấu tranh giai cấp không thôi, thì kẻ đó vẫn chưa
Tính tất yếu của chuyên chính vô sản
Trên cơ sở tổng kết những thực tiễn đấu tranh cách mạng và những phát
hiện khoa học mới về quy luật phát triển khách quan của xã hội, các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác- Lenin đã dựa vào một lý thuyết khoa học về xã hội xã
hội chủ nghĩa với lý tưởng dân chủ, công bằng và n 1hân đạo, chỉ ra con đường và
các biện pháp để tạo lập xã hội đó. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa MácLenin, nhà nước chuyên chính vô sản là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử xã
1 V.I. Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1976, T.33, tr. 27
2V.I. Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1976, T.33, tr. 23
1
14
hội loài người. sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa là
tất yếu phát triển khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển của xã
hội. sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa bắt nguồn từ tiền đề kinh tế, chính
trị - xã hội đã phát sinh trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Những tiền đề kinh tế: Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kì đầu
của sự phát triển tư bản chủ nghĩa là quan hệ sản xuất tiến bộ so với quan hệ sản
xuất phong kiến, đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của lực lượng sản
xuất. nhưng do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thằng dư nên khi chủ nghĩa tư bản
phát triển đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc thì những quan hệ sản xuất đó đã trở
nên mâu thuẫn, không còn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển đến một
trình độ xã hội hóa cao hơn. Mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản
xuất ngày càng trở nên gay gắt và không thể điều hòa được, đòi hỏi phải có một
lực lượng sản xuất mới phù hợp đó chính là kiểu quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. cuộc cách mạng nhằm cải
biến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tất yếu sé dẫn đến sự thay đổi sự thay thế
Bản chất của bất kỳ một Nhà nước nào trong xã hội bao giờ cũng mang bản
chất của giai cấp thống trị xã hội (ví dụ như Nhà nước chủ nô, Nhà nước quân
chủ phong kiến, Nhà nước dân chủ tư sản…)
Bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (Nhà nước chuyên chính vô sản),
do đó trước hết mang bản chất giai cấp công nhân (giai cấp vô sản). nhưng giai
cấp công nhân lại là giai cấp thuộc về nhân dân lao động mà ra, đại biểu phương
thức sản xuất mới, hiện đại và đại biểu cho lợi ích của toàn thể nhân dân lao động
và dân tộc, do vậy Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công
nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin cho thấy nhà nước chuyên
chính vô sản là nhà nước nửa nhà nước, nhà nước không hiểu theo nghĩa đen.
Lênin khẳng định nhà nước chuyên chính vô sản là nhà nước kiểu mới, nhà nước
đang tự tiêu vong. Ông nêu rõ những cơ sở kinh tế xã hội để nhà nước tiêu vong.
Từ đó ông cũng lưu ý chỉ có nhà nước chuyên chính vô sản mới tự tiêu vong. Do
đó càng không phủ nhận cách mạng bạo lực vì không có cách mạng bạo lực thì
không thể thay thế nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản.
Đề cập đến bản chất của nhà nước chuyên chính vô sản, Lenin đã nêu ra một
định nghĩa tuyệt hay của Mác trong tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản : Nhà
nước, tức là giai cấp tư sản được tổ chức thành giai cấp thống trị. Điều đó càng
thể hiện bản chất của chuyên chính vô sản đó là sự thống trị của giai cấp vô sản, sự
thống trị này không chia sẻ với ai. Nó trực tiếp dựa vào lực lượng vũ trang của
quần chúng để trấn áp bọn bóc lột và xây dựng chế độ mới. “Chỉ có giai cấp vô
16
sản, giai cấp đặc biệt mới lật đổ được sự thống trị của giai cấp tư sản; những điều
kiện sinh hoạt kinh tế của giai cấp vô sản chuẩn bị cho nó tiến hành việc lật đổ ấy,
và làm cho nó có khả năng và lực lượng để thực hiện việc lật đổ ấy.”
17
hoá xã hội chủ nghĩa; tổ chức và quản lý văn hoá, giáo dục, khoa học, đảm bảo các
quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân.
Chức năng quan trọng nhất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chức năng tổ
chức. Lênin viết: “Cách mạng tư sản chỉ có một nhiệm vụ là: quét sach, vứt bỏ,
phá huỷ tất cả những ràng buộc của xã hội trước… cách mạng xã hội chủ nghĩa
thì lại ở trong một hoàn cảnh khác hẳn. Một nước lạc hậu mà lại phải- do những
bước ngoắt ngoéo của lịch sử - bắt đầu làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thì nước
đó càng gặp khó khăn trong việc chuyển từ những quan hệ cũ, tư bản chủ nghĩa
sang những quan hệ xã hội chủ nghĩa. Ở đây ngoài nhiệm vụ phá hoại, còn có
những nhiệm vụ mới khó khăn chưa từng thấy, đó là nhiệm vụ tổ chức” 1. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, là công cụ của giai cấp vô sản, là
chính quyền của đa số trong xã hội và tiếp theo của toàn thể nhân dân. Điều cơ
bản trong hoạt động của nó không phải là bạo lực - điều đặc trưng cho các kiểu
Nhà nước tồn tại trước đó – mà là tổ chức, thuyết phục và giáo dục quần chúng.
Đương nhiên, Nhà nước xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ là công cụ trấn áp chống
lại sự phản kháng của giai cấp tư sản và các thế lực phản động “trấn áp giai cấp
tư sản và đập tan sự phản kháng của nó vẫn là một điều tất yếu” 2 . Nhưng Lênin
đã chỉ ra, nhiệm vụ trọng yếu nhất đặc trưng cho Nhà nước xã hội chủ nghĩa
“Trước hết đó là nhiệm vụ tổ chức trong nước” 3 . Khi nêu ra nhiệm vụ tổ chức,
Lênin đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của việc tổ chức nền sản
xuất, tổ chức nền kinh tế XHCN. Người chỉ ra rằng, cần tổ chức kiểm kê, kiểm
soát các xí nghiệp lớn, biến toàn bộ kinh tế nhà nước thành một cơ cấu kinh tế
hoạt động sao hàng triệu trăm con người đều được chỉ đạo bằng một kế hoạch
duy nhất. Và rằng, “thống kê và kiểm soát, đó là điều chủ yếu cần cho cả việc “tổ
chức” lẫn hoạt động đều đặn của xã hội cộng sản, trong giai đoạn đầu của nó” 4
Chức năng giai cấp của Nhà nước vô sản không chỉ thực hiện có hiệu quả
đã được hoàn thành trên những nét chủ yếu và cơ bản, thì tất nhiên có một nhiệm
vụ căn bản khác được đề lên hàng đầu, đó là: thiết lập một chế độ xã hội cao hơn
chủ nghĩa tư bản , nghĩa là nâng cao năng suất lao động và do đó phải tổ chức lao
động theo một trình độ cao hơn” 5
Lênin nêu lên điều kiện để nâng cao năng suất lao động, trước hết là phải có cơ
sở vật chất của nền đại công nghiệp; phải nâng cao trình độ học vấn và văn hoá quần
chúng nhân dân, đồng thời phải nâng cao tinh thần kỷ luật của những người lao
động, kỹ năng lao động của họ, tính khéo léo của họ…
Trong lĩnh vực xã hội: phải tạo ra quan hệ xã hội mới, tạo ra những tổ chức
lao động mới có khả năng phối hợp những thành tựu mới nhất của khoa học và kỷ
5 Sđd T 36, tr 208.
19
thuật tập hợp đông đảo những người lao động: “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy
được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”6
2.6.
Mối quan hệ của chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội
chủ nghĩa
Lenin đã làm rõ mối quan hệ giữa chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội
chủ nghĩa khi khẳng định nhà nước không phải lực lượng đặc biệt để trấn áp
nhân dân lao động mà đó chính là nhà nước của nhân dân lao động dùng để trấn
áp thiểu số bóc lột và mở rộng dân chủ cho nhân dân trên mọi lĩnh vực kinh tế,
chính trị, xã hội. Nghĩa là nhà nước và dân chủ có mối liên hệ với nhau. Nhà
nước chuyên chính vô sản và dân chủ vô sản là cao nhất trong lịch sử.
Phê phán những luận điệu của chủ nghĩa cơ hội về vấn đề dân chủ, Lenin đã
con đường dẫn đến chủ nghĩa xã hội do giai cấp vô sản lãnh đạo. Khẳng định mối
liên hệ biện chứng và tất yếu giữa dân chủ và chủ nghĩa xã hội,
Lênin khẳng định: “Không một yêu sách dân chủ nào có thể thực hiện được
một cách ít nhiều rộng rãi và ít nhiều chắc chắn… ngoài cách thông qua những cuộc
chiến đấu cách mạng dưới ngọn cờ chủ nghĩa xã hội”. Từ “biện chứng sinh động của
lịch sử”, Lênin nhận thấy, không một chế độ dân chủ nào có thể đứng ngoài hiện
thực xã hội và việc kết hợp đấu tranh vì dân chủ và đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội
trong các cuộc cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo bao giờ cũng là nhiệm vụ
hết sức quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Do vậy, “không thể có một chủ
nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn”, và cuộc đấu tranh
vì dân chủ và cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội là không thể tách rời của một tiến
trình thống nhất đưa cách mạng vô sản tới thắng lợi triệt để.
Từ những luận điểm của Lênin, có thể khẳng định, dân chủ và chủ nghĩa xã
hội là sự kết hợp hữu cơ mang tính tất yếu, đấu tranh vì dân chủ và đấu tranh vì
chủ nghĩa xã hội là không thể tách rời. Đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội tìm thấy
thuộc tính bản chất và động lực phát triển nội tại của nó ở cuộc đấu tranh vì dân
chủ; đấu tranh vì dân chủ, trên con đường tiến hóa và phát triển của nó, sẽ tìm
thấy khả năng và những điều kiện tốt nhất để thực hiện tiềm năng và sức mạnh
bản chất của mình ở cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. Vì thế, “chủ nghĩa xã hội
thắng lợi nhất thiết phải thực hiện chế độ dân chủ hoàn toàn”(8). Giai cấp vô sản
và những người cộng sản, sau khi đã giành được chính quyền từ tay giai cấp tư
sản, phải thực hiện ngay chế độ dân chủ r ộng rãi cho quảng đại quần chúng nhân
dân lao động và lấy đó làm động lực thúc đẩy công cuộc xây dựng xã hội mới –
xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Bởi “không có chế độ dân chủ thì
chủ nghĩa xã hội không thể thực hiện được theo hai nghĩa sau đây:
21
1.
Sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Quốc dân đại
hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước, triệu người như một, nhất tề nổi
dậy với ý chí “dù có hy sinh đến đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn,
cũng quyết tâm giành cho được chính quyền trong toàn quốc”.
Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng giành được thắng lợi, tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa ở Hà Nội (ngày 19-8), Huế (ngày 23-8); Sài Gòn (ngày 25-8). Chính
quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân. Vua Bảo Đại xin thoái vị để “được
làm dân tự do của một nước độc lập”.
Ngày 25-8-1945, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Uỷ ban dân tộc
giải phóng do Quốc dân Đại hội Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm
thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Trong lời tuyên cáo của Chính phủ
ngày 27-8-1945 đã nói rõ: “… Chính phủ lâm thời thật là một Chính phủ quốc
gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn thể đợi ngày triệu tập được
Quốc hội để cử ra một Chính phủ cộng hòa chính thức”.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, trước cuộc mít tinh của hàng
chục vạn đồng bào Thủ đô, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời
trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân và thế giới:
“Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời” - một kỷ nguyên mới trong lịch sử
phát triển của dân tộc Việt Nam bắt đầu: Kỷ nguyên độc lập - tự do.
Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền cả nước thuộc về tay nhân
dân. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước cộng hòa non trẻ đã phải tiến hành cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược và cả nước cùng đấu tranh để thực hiện
thống nhất đất nước. Sau khi chiến thắng thực dân Pháp năm 1945, miền Bắc
23
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là nhà nước do dân mà
nòng cốt là liên minh công nông – trí thức tự tổ chứ và định đoạt quyền nhà
nước. quyền lực nhà nước Việt Nam không phụ thuộc vào 1 cá nhân nào, một
nhóm người nào mà thuộc về toàn thể nhân dân.
24
Nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước và thực
hiện nó bằng hình thức khác nhau. Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thong qua
bấu cử lập ra cơ quan đại diện của mình. Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền
lực nhà nước thông qua các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước hoặc trực tiếp đưa ra những kiến nghị của mình với các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ thực sự
rộng rãi:
Lịch sử hình thành và phát triển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có thể nhận thấy rõ trong qua trình hình thành và phát triển của một chế độ
dân chủ mới. những thiết chế nhà nước đầu tiên ra đời dựa trên cơ sở của dân
chủ. Đó là các hình thức quốc dân đại hội để bầu ra chính phủ lâm thời, tổng
tuyển cử để bầu ra đại biểu Quốc hội và Chủ tịch nước những năm đầu tiên sau
khi cách mạng tháng Tám thành công, sự ghi nhận chính thức trong các Hiến
pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992)
Bản chất dân chủ còn thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
tư tưởng, văn hóa, xã hội
Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam
Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam luôn coi đại đoàn kết dân tộc là một nguyên tăc cơ bản để thiết lập chế
độ dan chủ, phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, đồng thời