ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG QUANG VINH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN CHỦ TRONG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ Ở NƯỚC TA LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo
đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chăm lo bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, cán bộ,
đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân "[13, 83-84]. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập và tự do” là
cơ sở trong quan hệ hài hoà lợi ích giai cấp, dân tộc và quốc tế. Tư tưởng của 2
Người đang được khái quát thành hệ thống những luận điểm khoa học về các
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quân sự và ngoại giao, dẫn
đường cho toàn Đảng, toàn dân ta nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân
tộc, đoàn kết quốc tế, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong từng thời kỳ cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được quán
triệt, vận dụng nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng ấy đã được cụ thể hoá trong đường lối chính trị qua các kỳ Đại hội
đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động"
[11,127]. Đến Văn kiện Đại hội Đảng IX nêu rõ hơn: “Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên
nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”[ 13, 83].
Hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
trước sự thách thức của khu vực hoá và toàn cầu hoá, Việt Nam là một trong
báo được công bố về tư tưởng của Người. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh
về giáo dục được bàn trên nhiều góc độ, lĩnh vực khác nhau, rất phong phú và
đa dạng:
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh -Viện Thông tin Khoa học
(2001) Tư liệu chuyên đề “Những vấn đề dân chủ” (4-5), 347 trang là công
trình của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước được phân theo các phần:
lý luận chung về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ ở một số nước,
dân chủ ở Việt Nam. Nhiều tác giả đã nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Hồ
Chí Minh.
- Bách khoa thư Hồ Chí Minh sơ giản (2003) Hồ Chí Minh với giáo dục
- đào tạo Nhà xuất bản (Nxb) Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 720 trang, công 4
trình của nhiều nhà khoa học được chia làm 3 phần: Phần một giới thiệu một
số trích dẫn của Hồ Chí Minh về giáo dục. Phần hai - Tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục. Phần ba - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong nhà
trường. Công trình lớn này đã làm rõ Hồ Chí Minh là Vị lãnh tụ vĩ đại - Nhà
văn hoá: Nhà giáo, Nhà văn, Nhà thơ, Nhà báo, tâm huyết về sự nghiệp
trồng người. Càng đọc, càng toát lên nội dung dân chủ trong giáo dục. Song
tác giả luận văn muốn đi sâu làm rõ hơn khía cạnh quyền được học hành,
nghĩa vụ của người học, các tầng lớp xã hội trong hệ thống giáo dục quốc dân,
trách nhiệm cá nhân - xã hội trong việc từng bước xã hội hoá giáo dục.
Các bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, báo chí truyền thông:
- Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), "Vai trò động lực của dân chủ", Tạp chí
Triết học, (5).
- Vũ Ngọc Hải (2003), " Hệ thống giáo dục quốc dân hướng tới xây
dựng xã hội học tập suốt đời ở nước ta" Tạp chí Giáo dục, (63).
- Võ Văn Lộc (2003), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong học tập"
Chí Minh thể hiện trong các tác phẩm đã được công bố bằng tiếng Việt.
- Về thực tiễn: Khảo sát một số hiện tượng liên quan đến dân chủ trong
giáo dục - đào tạo ở nước ta.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích
Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục -
đào tạo và ý nghĩa của những tư tưởng này đối với sự nghiệp giáo dục - đào
tạo ở nước ta hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn phải giải quyết một số nhiệm
vụ như sau: 6
- Khảo cứu các bài viết của Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục -
đào tạo, các bài chuyên khảo, nghiên cứu của một số học giả về vấn đề trên.
Từ đó phân tích, tổng hợp để khái quát được các nội dung chủ yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong giáo dục - đào tạo.
- Tìm hiểu thực trạng “dân chủ hoá” trong giáo dục - đào tạo ở nước ta
hiện nay. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị nhằm thực hiện
mở rộng quyền được học tập suốt đời.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Trong quá trình thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn, chúng
tôi đã dựa trên cơ sở lý luận sau đây:
Dựa trên cơ sở các luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin nói về dân chủ,
những luận điểm về dân chủ trong giáo dục - đào tạo của Hồ Chí Minh được
thể hiện trong các tác phẩm của Người; các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của
Đảng Cộng sản Việt Nam; Luật Giáo dục, các văn bản của Bộ Giáo dục &
8
B NỘI DUNG
đều có một kiểu dân chủ tương ứng. Trong quá trình phát triển của nhà nước
xuất hiện các tư tưởng dân chủ theo tư tưởng của các giai cấp thống trị. Khi
nhà nước tiêu vong thì dân chủ cũng tiêu vong. Đó là dân chủ xét về mặt thể
chế, còn về mặt giá trị dân chủ vẫn tồn tại và phát triển thể hiện sức mạnh và
quyền của con người trong quy luật nhận thức, cải tạo tự nhiên và xã hội.
Dân chủ là một phạm trù lịch sử gắn liền với xã hội có giai cấp. Lịch
sử đã chứng minh sự phù hợp tương đối chế độ dân chủ và chế độ nhà nước:
- Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, “toàn thể các thành viên thị tộc
đều là những người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau, họ có quyền cá
nhân ngang nhau, cả tù trưởng lẫn thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những
quyền ưu tiên nào cả; họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi
những quan hệ dòng máu, bộ lạc, bộ tộc, thị tộc. Tự do, bình đẳng, bác ái, tuy
chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ
bản của thị tộc”[8,136]. Cùng với nó về mặt xã hội, F. Ăngghen viết: “với 10
tính chất ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt
đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc,
vua chúa không có những vụ xử án ở đây tất cả đều bình đẳng và tự do,
kể cả phụ nữ” [ 8, 147-148] .
Đến nhà nước phong kiến, lực lượng sản xuất so với thời cổ đại đã phát
triển hơn. Con người đã cải tiến nghề luyện kim và sản xuất kim loại thành
công cụ lao động một cách phổ biến, cũng như sử dụng sức nước, sức gió. Sự
phân công lao động giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã
rõ hơn. Quan hệ sản xuất phong kiến đã giải phóng một phần cho người sản
xuất. Nông dân đã có một gia đình, có vai trò trong sản xuất là một đơn vị
kinh tế tự cung tự cấp và có mầm mống nền sản xuất hàng hoá nhỏ. Mọi
quyền lực và sức mạnh thuộc về tầng lớp quý tộc, hoàng tộc phong kiến đứng
của chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, đặc biệt
là tính thực thi dân chủ trong xã hội mới. Khi nói về chế độ dân chủ tư sản
V.I. Lênin cho rằng là một chế độ thuần tuý nhất, và hoàn hảo nhất trong các
chế độ mang tính chất tư sản.V.I. Lênin đã quan tâm và đánh giá vai trò của
giai cấp nông dân ở các nước dân tộc thuộc địa, vai trò của đảng cộng sản và
quy luật phát triển của nhà nước vô sản. Đồng thời, Người cũng vạch ra
những nguy cơ tha hoá của quyền lực nhà nước, đó là sự xuất hiện của chủ
nghĩa quan liêu, tệ sùng bái cá nhân, chủ nghĩa duy ý chí, xa rời dân chúng;
cùng với văn hoá chính trị thấp kém của quần chúng đã làm huỷ hoại dần
nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đó là dân chủ xét từ góc độ thể chế
chính trị.
Dân chủ có thể nhìn từ góc độ giá trị và hệ giá trị. Nghĩa là xét dân chủ
trong quan hệ với các giá trị công bằng, bình đẳng và tự do. Dân chủ không
chỉ là phạm trù lịch sử mà là phạm trù vĩnh viễn thể hiện năng lực tự quản,
khả năng quản lý của xã hội, thể hiện giá trị vật chất- tinh thần và văn hoá dân 12
chủ của nhân loại. Ở đó, dân chủ cá nhân và cộng đồng được đảm bảo trên cơ
sở hài hoà lợi ích. Dân chủ là điều kiện, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Dân chủ có thể tiếp cận từ cơ cấu xã hội, từ các quan hệ. Đó là các mối
quan hệ trong mỗi quốc gia dân tộc xét trên các quan hệ kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội Và quan hệ rộng hơn là giữa các quốc gia. Thể hiện các quan hệ
đối tác, hợp tác đảm bảo an ninh chủ quyền quốc gia, không can thiệp nội bộ,
không xâm phạm chủ quyền quốc gia. Đảm bảo thực hiện các công ước quốc
tế.
Qua quá trình hình thành và từng bước hoàn thiện lý luận dân chủ xã hội
chủ nghĩa (khoảng 100 năm trở lại đây), nhiều nhà nghiên cứu đã khái quát
một số nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa như sau:
kể mầu da, hoàn cảnh địa lý, trình độ phát triển kinh tế, xã hội.
1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Khi nghiên cứu học thuyết của C. Mác đối với phương Đông, Hồ Chí
Minh đã khẳng định chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng
không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa
thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được củng cố
nó bằng dân tộc học phương Đông. Tư duy “ Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong
điều kiện nền văn minh nông nghiệp. Tư tưởng của Hồ Chí Minh không đưa
ra khái niệm dân chủ chung chung mà dân chủ thực sự gắn liền với thực hành
dân chủ, nghĩa là để làm cho dân ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do
trong phạm vi quốc gia, dân tộc: Nước ta là một nước dân chủ, mọi quyền
hành và lực lượng đều thuộc về nhân dân. Nội dung dân chủ của Người được
thể hiện trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền với lý tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội trong cơ chế thống nhất: Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ. Hồ Chí Minh là mẫu hình thể hiện dân chủ thực sự 14
nhất quán trong một con người, là Người sáng lập, lãnh đạo Đảng vừa là một
đảng viên, vừa là Người lãnh đạo Nhà nước vừa là một công dân mẫu mực.
Tư tưởng dân chủ của Người là một di sản vô giá đối với cách mạng Việt
Nam. Đây là đề tài rộng lớn, chúng ta có thể tìm hiểu dần theo từng mục đích
nhỏ trong từng lĩnh vực khoa học nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Khắc Mai, đã
thống kê 100 câu nói về dân chủ của Hồ Chí Minh: về giá trị dân chủ; về địa
vị và quyền lợi của nhân dân; về bộ máy nhà nước dân chủ; về Đảng trong sự
nghiệp xây dựng nền dân chủ; về vai trò đoàn thể nhân dân; về giải pháp thực
hiện dân chủ [23,11-19]. Những vấn đề này có thể nghiên cứu vào các hoàn
cảnh cụ thể sinh động của cuộc sống. Ta có thể liệt kê một vài nội dung tư
tưởng của Bác về dân chủ trong cán bộ, đảng viên, là nguyên nhân và là kết
thực hành dân chủ phải làm cho “dân biết” một cách có hiệu quả bằng cách
giải quyết hai vấn đề: nâng cao dân trí và thông tin đầy đủ cho dân, nghĩa là
thực hiện công khai hoá”[ 15, 38].
Tóm lại, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ, nhân
dân làm chủ trong điều kiện lịch sử nhất định. Sự phù hợp giữa lý luận dân
chủ và “dân chủ hoá” sẽ được các nhà nghiên cứu dần làm sáng tỏ.
1.1.3 Dân chủ trong giáo dục-đào tạo
C. Mác đã từng nhắc nhở: sự ngu dốt là sức mạnh ma quỷ và chúng ta lo
rằng nó sẽ còn là nguyên nhân của nhiều bi kịch. V.I. Lê nin coi trọng tri
thức: Không có tri thức, không có chủ nghĩa xã hội và sự hợp tác giữa các đại
biểu của khoa học và công nhân - chỉ có một sự hợp tác như thế mới có thể
thủ tiêu được toàn bộ nạn nghèo khổ, bệnh tật và bẩn thỉu Người đã chỉ ra
cho nhân loại: Học. học nữa, học mãi
Giáo dục là một hiện tượng xã hội. Một hiện tượng có nhiều thuộc tính
gắn với mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Giáo dục - tự giáo dục; đào
tạo - tự đào tạo; bồi dường, huấn luyện, rèn luyện, tập huấn, bổ túc, giáo
dưỡng, dạy, học; học tập - tự học tập, nghiên cứu, ứng dụng v.v đều là 16
những mặt, những thuộc tính chỉ sự cải biến, tiến bộ trong quá trình hình
thành nhân cách con người và tiến bộ xã hội. Trên thế giới và ngay cả ở nước
ta đều có các quan niệm khác nhau về các hoạt động này, nhưng phần đông
đều thống nhất: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó
là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài
người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn
hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội
loài người không ngừng tiến lên.”[46, 9] Tính đa dạng của các thao tác, các
quá trình truyền đạt, lĩnh hội và phát triển tri thức hay bất kỳ một hoạt động
sản của thế giới; phòng chống các đại dịch, các tệ nạn xã hội, xung đột sắc
tộc, tôn giáo, can thiệp chính trị, chiến tranh cũng như chung sống hoà bình
xây dựng xã hội tốt đẹp đã làm cho lĩnh vực giáo dục luôn là vấn đề mới và
trở thành bức xúc. Trong xu hướng giáo dục mang tính toàn cầu hoá thì dân
chủ trong giáo dục cũng đa dạng luôn dựa trên các quan hệ lợi ích kinh tế - xã
hội. Nhưng giải quyết lợi ích giáo dục thì bất cứ quốc gia nào đều đặt mục
đích lợi ích xã hội lên hàng đầu và là lợi ích lâu dài vĩnh viễn.
Ngày nay, quyền ai cũng được học hành, được nghiên cứu, được sáng
tạo, được hưởng thụ, được học tập suốt đời là những mặt, những thuộc tính
được bàn đến nhiều trong các khái niệm được thế giới quan tâm như: kinh tế
tri thức, xã hội tri thức, xã hội thông tin, xã hội học tập, xã hội hoá giáo dục,
giáo dục cộng đồng, v.v Các quyền đó tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt là chính trị đã sinh thành, vận động, phát triển khác nhau. Nó cũng vừa là
nguyên nhân cũng vừa là kết quả của sự phát triển của các quốc gia, dân tộc.
Nhiều quốc gia không tự ti từ xuất phát điểm, chú trọng phát triển kinh tế tri
thức cùng với phát triển giáo dục, trong vòng nửa thế kỷ đã trở thành các
cường quốc trẻ “dân giầu, nước mạnh”. Chứng tỏ vai trò to lớn của kinh tế tri
thức, khả năng nhận thức và cải tạo thế giới của con người. Điều mà các nhà 18
kinh điển đã từng nhắc nhở: “khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp” thúc đẩy xã hội tiến bộ đầy sức thuyết phục.
Tóm lại, dân chủ trong giáo dục - đào tạo được thể hiện qua quyền được
học hành, quyền và mức độ được tham gia quản lý, hưởng thụ giáo dục, được
giáo dục. Trong giai đoạn lịch sử nhất định, dựa vào điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật con người đã và đang khái quát cái lô gíc sự
vận động của tư tưởng dân chủ trong giáo dục ở giai đoạn đó thể hiện sự đa
dạng quyền được học hành, sức mạnh của tri thức mới trong tiến bộ xã hội.
vua và trên cả cha mẹ, vì thầy luôn luôn hơn học trò (nhất tự vi sư, bán tự vi
sư). Sự thành đạt của con người là do cha mẹ nuôi dưỡng và thầy dạy dỗ.
Cũng chính vì vậy mà thầy trong truyền thống tôn sư, thầy luôn thật sự là thầy
biết “đạo làm người và đạo ở đời”. Nghề nhà giáo được xã hội tôn vinh là
nghề cao quý. Ở Phương Đông, phần nhiều các nhà văn hoá lớn là danh sư
của dân tộc như Khổng Tử, Lão Tử, Ganđi, Nêru, Chu Văn An Cả sự
nghiệp của họ luôn gắn với hoạt động giáo dục.
Ở Việt Nam, các Nhà nước phong kiến đã quan tâm đến giáo dục nhằm
đào tạo những con người làm quan để quản lý đất nước, quản lý xã hội. “
Năm 1070, dựng Văm Miếu, nơi tôn sùng Nho giáo, thờ Khổng tử; năm 1076
lập Quốc tử giám ở kinh đô Thăng long, coi như Trường Đại học đầu tiên ở
nước ta”[1, 21]. Thời Vua Trần Thuận Tông đã ban chiếu về việc xây dựng
trường học ở các phủ lộ. Trong chiếu lập học vua Quang Trung đã nói: "
Dựng nước phải lấy việc giáo dục làm đầu tiên, trị nước phải lấy việc kén
chọn nhân tài làm điều gấp rút" [18, 9]. Các trường này vừa dạy học vừa lựa
chọn và giới thiệu học trò giỏi đi thi. Nhiều gia đình khá giả thuê thầy về dạy
tại nhà riêng; cũng có thầy giáo vừa đi làm thuê vừa dạy cho con cháu nhà
chủ. Lúc đó, ngôn ngữ chính thống được dùng trong dạy học chủ yếu là chữ
nôm. Nhà giáo lúc đó được gọi là cụ đồ nho, ông giáo làng. Ông đồ nho thực
hành việc dạy học của mình từ thành thị, làng mạc nông thôn và đến cả ở 20
những nơi miền núi xa xôi hẻo lánh. Trong xã hội này, tính chất "xã hội hoá
giáo dục" đã hình thành và từng bước phát triển trên cơ sở nhà nước và nhân
dân cùng tham gia vào công việc giáo dục.
Cùng với chính sách chiêu hiền đãi sĩ, con nhà nghèo học giỏi có thể
được làm quan đã góp phần tạo nên truyền thống hiếu học. Truyền thống hiếu
học và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là những chuẩn mực trong giá trị văn
đen. Trong các bài viết sau này, Người thường nhắc đến ý chí đấu tranh cho
tự do, độc lập, cho quyền sống của con người được ghi lại trong Tuyên ngôn
độc lập 1776 của nước Mĩ. Người sang Anh (đầu năm 1913), nơi đang diễn ra
cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Airơlen. Chính ở Anh, Người đã đi
những bước đi đầu tiên trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình, gia nhập
công đoàn thuỷ thủ và cùng với giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc
biểu tình, đình công bên bờ sông Thêmdơ, Việc Người chuyển đến sống và
hoạt động tại thủ đô nước Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, mở ra
một thời kì mới trong cuộc đời mình. Đến với quê hương của lí tưởng Tự do,
Bình đẳng, Bác ái, Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc với các tác phẩm của các
nhà tư tưởng khai sáng: Vonte (Voltaire), Rútxô (Rousseau), Môngtétxkiơ
(Montesquieu), Những lí luận gia của Đại cách mạng Pháp 1789, như Tinh
thần pháp luật của Môngtétxkiơ, Khế ước xã hội của Rútxô, Tư tưởng dân
chủ của các nhà Khai Sáng đã có ảnh hưởng tới lớn đến tư tưởng của Người.
Nguyễn Ái Quốc hấp thụ được tư tưởng dân chủ, hình thành phong cách
dân chủ qua các cuộc hội họp, tham gia sinh hoạt đảng Xã hội Pháp, nhiệt
tình các cuộc tranh luận với A. Xarô (A. Sarraut), Liôtây (Lyautey), Varen
(Varenne) và sinh hoạt khoa học ở Câu lạc bộ Phôbua (Faubourg). Ở Pháp,
Người được gặp lại cụ Phan Châu Trinh và một số Việt Kiều yêu nước. Một
trong những sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt đánh dấu sự định hình và phát 22
triển tư tưởng dân chủ của Người là bản yêu sách đòi dân tộc độc lập ký tên
Nguyễn Ái Quốc (NAQ) gửi tới hội nghị của các cường quốc ký hoà ước Véc
xây khai mạc ngày 18/01/1919. Và tại Đại hội Tua (tháng 12 - 1920) Người
đã đọc tham luận đòi quyền tự do, trong đó có quyền tự do học tập. Nhờ được
rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp và sự cổ vũ, dìu dắt trực tiếp của
nhiều nhà cách mạng, trí thức tiến bộ Pháp như M.Casanh (M.Cachin),
nhân và nông dân; cách mạng Việt Nam liên hệ mật thiết với cách mạng thế
giới; mở rộng hoạt động trong cả nước, trong Việt kiều ở Lào và Thái Lan.
Tinh thần dân chủ trong giáo dục của Người được thể hiện mục đích “Đường
cách mệnh”: Mục đích sách này là để nói cho đồng bào ta biết rõ: 1) Vì sao
chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh. 2) Vì sao cách mệnh là việc chung cả
dân chúng chứ không phải việc một hai người. 3). Đem lịch sử cách mạng các
nước làm gương cho chúng ta soi. 4) Đem phong trào thế giới cho đồng bào ta
rõ. 5) Ai là bạn ta, ai là thù ta. 6) Cách mệnh thì phải làm thế nào?. Cùng với
tác phẩm Đường cách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp và các bài báo
truyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin với những bí danh đồng chí Vương; Lý
Thuỵ (1924); Thầu Chín (1928); Tống Văn Sơ (1931) , Người đã giáo dục -
đào tạo thanh niên Việt Nam theo một phương thức mới kết hợp lý luận và
thực tiễn, học đi đôi với hành chuẩn bị cho việc thành lập một chính đảng của
giai cấp công nhân Việt nam. Trong Cương lĩnh của Đảng về vấn đề giáo dục
đã cô đọng bằng chiến lược “ phổ thông giáo dục theo công nông hoá” đã thể
hiện rõ quyền lợi học tập của đông đảo tầng lớp công - nông. Bác đã kêu gọi
toàn Đảng nhận thức sâu sắc nhiệm vụ: Thực hành giáo dục toàn dân. Những
tư tưởng này được thực thi ngay từ khi thành lập nước Việt nam dân chủ cộng
hoà và đã tạo nền móng vững chắc cho nền giáo dục Việt Nam.
- Vai trò cá nhân
Là Người xuất thân trong gia đình nhà nho, Nguyễn Sinh Cung đã sớm
hấp thụ một nền Quốc học và Hán học. Thời kỳ ở Trường Quốc học Huế, thập 24
kỷ đầu của thế kỷ XX, các phong trào đòi tự do dân chủ ở nước ta phát triển.
Đó là: Phong trào Duy Tân (1902-1910) do nhà yêu nước Phan Bội Châu lãnh
đạo; Phong trào Đông Du (1906- 1908), Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục
(1907) dưới các hình thức tuyên truyền cải cách, cổ vũ lòng yêu nước; vận