Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** NGUYỄN LIÊN PHƯƠNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN CHỦ VÀ VIỆC VẬN DỤNG VÀO
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
luËn v¨n th¹c sü luËt häc
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG THỊ KIM QUẾ HÀ NỘI - 2009

23
1.2.2. Tư tưởng, văn hoá nhân loại
25
1.2.3. Nguồn gốc lý luận cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
28
1.2.4. Tài năng và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
30
1.3. Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
32
1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và nền dân chủ XHCN
32
1.3.1.1. Dân chủ là tài sản quý báu nhất của nhân dân
32
1.3.1.2. Nhà nước XHCN là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ
34
1.3.1.3. Nhà nước XHCN là sự kết hợp hài hoà các lợi ích trong
xã hội
39
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước kiểu mới của dân,
do dân và vì dân
43
1.3.2.1. Xây dựng một nhà nước hợp hiến
43
1.3.2.2. Lợi ích của nhân dân là nền tảng xã hội
48
1.3.2.3. Nhà nước dân chủ là phục vụ nhân dân
51 1.3.2.4. Cải cách xã hội để nâng cao đời sống nhân dân và thực

chủ ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
83
2.3.1. Phương hướng tiếp tục mở rộng dân chủ trong thời gian tới
83
2.3.2. Một số giải pháp cơ bản
84
2.3.2.1. Cải cách và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
84
2.3.2.2.Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu phát huy
dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
88
2.3.2.3. Hoàn thiện cơ chế pháp lý đối với hoạt động giám sát và
phản biện xã hội
91
KẾT LUẬN
96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
99 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “lấy
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động, là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy
lý luận của Đảng ta”. Để thực hiện một cách triệt để và cụ thể, Nghị quyết
Đại hội IX, ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số

2
23/CT-TW “Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn mới”.
Những văn kiện trên đã cho chúng ta thấy, đây là một bước tiến mới
trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Qua đó, cũng cho chúng
ta thấy rõ, đây là quyết định của Đảng có tính định hướng quan trọng cho các
nghiên cứu khoa học tiếp tục đi sâu và tìm hiểu về tư tưởng của Hồ Chí Minh.
tư tưởng Hồ Chí Minh đã là một bộ phận chính của chuyên ngành “Hồ Chí
Minh học” thuộc ngành Khoa học Chính trị Việt Nam. Trong những năm qua,
có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa
học ở các cấp, các ngành về tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng vẫn chưa có công
trình nào đề cập tới vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận
dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta”.
Thực tiễn đã cho chúng ta thấy, trong việc học tập, nghiên cứu, tuyên
truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn thiếu những tài liệu viết về
vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ từ góc độ pháp lý. Đây là một vấn
đề thiết thực mà mọi người dân Việt Nam rất quan tâm. Hơn nữa, trong tác
phẩm Toàn tập, Người đã khẳng định: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân
dân,…”[34, tr. 279].
Dân chủ đã từ lâu không còn là vấn đề xa lạ. Ở mỗi quốc gia, mỗi xã hội
hay trong mỗi gia đình mọi người đều nhắc đến vấn đề dân chủ. Dân chủ tuy
là một đề tài cũ nhưng mỗi khi đề cập đến nó luôn mang lại cho chúng ta
những yếu tố mới mẻ mang hơi thở của thời đại. Dân chủ và thực hiện dân
chủ là nhu cầu khách quan của con người, là khát vọng của con người, là mục

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hơn hai mươi năm đất nước đi lên trong công cuộc đổi mới và hội nhập
thế giới là một khoảng thời gian dài cho phép chúng ta nghiên cứu, nhìn nhận
về “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào công cuộc đổi
mới ở nước ta” một cách khách quan. Nhận định về giá trị tư tưởng Hồ Chí
Minh, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có đánh giá:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về

4
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và
phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp…”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về vấn đề dân chủ
trong việc xây dựng nhà nước và pháp luật, xây dựng chế độ kinh tế, nền văn
hoá mới… là một vấn đề có giá trị khoa học đã được rất nhiều giới lý luận
nghiên cứu. Đã có rất nhiều cuốn sách, bài nghiên cứu đề cập đến tư tưởng
Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và những lĩnh vực cụ thể có liên quan đến
dân chủ như nhà nước, pháp luật, kinh tế Trong đó đáng chú ý là các tác
phẩm: Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, Nxb
Lý luận chính trị, Hà Nội; Phạm Thành, Nguyễn Khắc Mai (1991), Tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, Hà Nội; Bùi Ngọc Sơn (2005), Tư
tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật”, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1995; Hoàng
Văn Hảo (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới - Sự hình
thành và phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc
(1998), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Tế (1999), Tìm hiểu tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Phạm
Ngọc Anh (2003), Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội v.v

- Làm rõ một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ: xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực.
- Đề cập đến một số thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới đất
nước trong hơn 20 năm qua và việc Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà
nước và nhân dân, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong quá trình
thực hiện đổi mới đất nước. Qua đó, đưa ra ra một số phương hướng, giải
pháp có thể áp dụng thực tế trên cơ sở tiếp thu những luận điểm sáng tạo của
Hồ Chí Minh về dân chủ.

6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ một vấn đề rộng lớn, bao trùm nhiều
lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Trong đề tài này tác giả không
tham vọng nghiên cứu toàn bộ nội dung dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh
trên mọi lĩnh vực kể trên. Tác giả chỉ đề cập một số nét cơ bản trong tư tưởng
về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; về bảo vệ và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp để tiếp
vận dụng vào công cuộc đổi mới đất nước trong thời gian tới hiệu quả.
Thời gian nghiên cứu khảo sát từ năm 1986 - 2008.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận:
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào
công cuộc đổi mới ở nước ta” là nghiên cứu thuộc loại hình cơ bản để tìm ra
những nhận thức mới, giải quyết một số vấn đề về dân chủ trong tư tưởng Hồ
Chí Minh và việc vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta trong hoàn cảnh
hiện nay.
* Phương pháp chung:
- Nghiên cứu được thể hiện bằng thế giới quan và phương pháp luận của

hướng việc học tập, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh sau này.
6. Ý nghĩa và những đóng góp về khoa học của luận văn
Nghiên cứu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và việc vận dụng vào
công cuộc đổi mới ở nước ta” là thực hiện một cách cụ thể Nghị quyết Đại hội
IX của Đảng về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Là nghiên cứu chuyển từ lý luận về tư tưởng Hồ Chí Minh sang việc
vận dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta để hoàn thiện sự hiểu biết, nâng
cao trình độ nhận thức của quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên, giúp họ
dễ dàng tiếp cận với tư tưởng của Người.

8
Công cuộc xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam cũng như của một
số nước khác trong khu vực đang đứng trước sự thử thách của hội nhập kinh
tế, chính trị và văn hoá, nghiên cứu này sẽ góp phần xác định rõ hơn hướng đi
đúng đắn, nhân cách, tài năng, tư tưởng của Người.
Nghiên cứu không chỉ đánh giá những thành tựu và hạn chế mà còn nêu
lên những kiến nghị để tìm ra những giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh thực
thi dân chủ theo quan điểm của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng vào công
cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

9
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ

1.1. Một số vấn đề lý luận về dân chủ
1.1.1. Dân chủ là một sản phẩm tiến hoá của lịch sử
Thuật ngữ dân chủ xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại. Ph. Hérodote (484-

quân sự, hội đồng, đại hội nhân dân đó là những cơ quan của xã hội thị tộc đã
phát triển thành một nền dân chủ quân sự.
Dân chủ quân sự thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ là một thể chế xã hội tự
quản dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội thấp kém, tư liệu sản xuất là của
chung trong cộng đồng thị tộc, bộ lạc. Nhận xét về hình thức dân chủ này, Ph.
Ăngghen đã viết: không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc,
vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan toà, không có nhà tù, không có
những vụ xử án.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự ra đời của chế độ tư
hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp, nền dân chủ quân sự của thời kỳ
cộng sản nguyên thuỷ tan rã.
Thay thế chế độ cộng sản nguyên thuỷ bằng chế độ chiếm hữu nô lệ
cũng đồng thời là quá trình thay thế nền dân chủ quân sự bằng nền dân chủ
chủ nô. Đó là một bước tiến dài trong lịch sử. Từ khi xã hội bắt đầu có sự
phân chia giai cấp thì giai cấp chủ nô và nô lệ cũng xuất hiện. Cuộc đấu tranh
giai cấp bắt đầu từ đó và diễn ra ngày càng quyết liệt và giai cấp chủ nô đã
thiết lập một bộ máy bạo lực đặc biệt, đó là nhà nước. Từ đó, dân chủ được
biểu hiện thông qua chế độ nhà nước. Trong nền dân chủ của xã hội chiếm
hữu nô lệ, giai cấp chủ nô nắm hết quyền lực nhà nước, các quyền tự do và
bình đẳng của chủ nô và các công dân tự do được bảo đảm, còn giai cấp nô lệ
không có quyền gì, kể cả quyền sống, quyền làm người, nô lệ chỉ là tài sản, là
công cụ của chủ nô. Nền dân chủ đó phục vụ cho giai cấp chủ nô. Sự ra đời

11
của xã hội chiếm hữu nô lệ là một bước phát triển của lịch sử so với xã hội
cộng sản nguyên thuỷ nhưng nhân dân lao động không có một quyền lực gì.
Xã hội phong kiến ra đời đã thay thế xã hội chiếm hữu nô lệ và là một
bước tiến so với nền dân chủ chủ nô: người nông nô đã có quyền sống, quyền
làm người nhưng không có quyền lực về chính trị. Ở phương Tây, quyền lực
đó nằm trong tay chúa đất và nhà thờ. Ở phương Đông, tất cả đều thuộc sở

Đó là sự chuẩn bị đầy đủ về mặt tư tưởng cho cách mạng tư sản mà trực tiếp
là Cách mạng tư sản Pháp.
Chủ nghĩa tư bản được xác lập với tính cách là một chế độ xã hội, đồng
thời nhà nước của giai cấp tư sản được tổ chức theo hình thức chính thể cộng
hoà, lịch sử của nền dân chủ có bước tiến đáng kể. Các cuộc cách mạng tư sản
thắng lợi đã thiết lập quyền lực chính trị của giai cấp tư sản. Tiêu biểu là cuộc
cách mạng tư sản Pháp (năm 1789) với sự ra đời của Tuyên ngôn Nhân quyền
và Dân quyền vĩ đại. Đó là những cái mốc lịch sử của sự phát triển nền dân
chủ. Dù vẫn nằm trong khuôn khổ của chế độ tư hữu, vẫn duy trì các quan hệ
bóc lột của giai cấp tư sản, song chủ nghĩa tư bản đã làm một cuộc cách mạng
phá bung cái trật tự chuyên chế thời Trung cổ, mở đường cho sự phát triển
của lực lượng sản xuất, mở đường giải phóng cho xã hội. Nó xác lập nên xã
hội công dân thay thế cho xã hội thần dân và xây dựng nhà nước pháp quyền
với hệ thống pháp luật tư sản thay thế cho nhà nước phong kiến đẳng cấp
quan liêu, độc đoán. Chế độ dân chủ tư sản ra đời đã tạo lập được phần nào đó
sự phù hợp giữa nó với chế độ nhà nước. V.I. Lenin đã đánh giá rất cao nền
dân chủ tư sản, Người cho rằng, nền dân chủ tư sản đánh dấu một bước tiến
bộ to lớn về mặt lịch sử so với chế độ Nga hoàng, với chính thể chuyên chế,
với chế độ quân chủ và với tất cả những tàn tích của chế độ phong kiến. Dù
vậy, nền dân chủ tư sản bị hạn chế bởi tính giai cấp của nó. Đó là nền dân chủ
cho người giàu, cho giai cấp tư sản, vì giai cấp tư sản, quyền lực nhà nước
vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản.
Tất cả các nền dân chủ nói trên, kể cả dân chủ tư sản, đều là nền dân
chủ cho thiểu số, không phải là nền dân chủ cho toàn thể nhân dân lao động.

13
Điều này đã được V.I. Lenin phân tích rất rõ trong tác phẩm Nhà nước và
Cách mạng. Để đạt được nền dân chủ đầy đủ nhất, hoàn thiện nhất, nhân loại
đã và đang hướng tới một nền dân chủ mới, dân chủ “gấp triệu lần dân chủ tư
sản”. Đó là nền dân chủ XHCN.

ngừng diễn ra trong lịch sử, trong xã hội có phân chia giai cấp và có đối
kháng giai cấp. Cũng vì vậy mà dân chủ được phát triển trong suốt tiến trình
lịch sử của nhân loại, trong quá trình đấu tranh giai cấp. Mặc dù dân chủ chủ
yếu là kết quả của đấu tranh xã hội, của cuộc đấu tranh chống lại mọi hình
thức áp bức, bóc lột, mọi ách nô lệ, mọi sự chuyên chế, song dân chủ cũng
còn là kết quả của sự phát triển của tư duy, của sự nhận thức các giá trị. Vì
vậy, sự phát triển của dân chủ là một quá trình và loài người không thể có
ngay một nền dân chủ hoàn thiện. Nền dân chủ có quan hệ mật thiết với cuộc
đấu tranh các quyền của con người, vì sự tiến bộ xã hội, đồng thời cũng
không tách rời những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Chính
vì lẽ đó mà xã hội công bằng, văn minh, càng có nhiều phương tiện hiện đại
thì không những nhu cầu dần chủ càng tăng lên mà còn có điều kiện để thực
thi dân chủ trong thực tế.
Bản chất của dân chủ là quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân
con người, “công nhận phẩm giá vốn có của mọi thành viên gia đình nhân
loại, công nhận các quyền bình đẳng và bất khả phân của họ là cơ sở của tự
do, công bằng và hoà bình trên toàn thế giới ”, lời nói đầu của Tuyên ngôn
Quốc tế Nhân quyền đã viết như thế [58]. Các giá trị của dân chủ (hệ giá trị)
bao gồm: Quyền tự do cá nhân, là sự tôn trọng cá nhân, con người được nhà
nước pháp quyền bảo vệ. Những tiêu chuẩn chung đó chính là cơ sở hình
thành hệ giá trị toàn cầu, hệ giá trị sẽ đóng vai trò chi phối, kiểm soát hoạt
động của con người. Một chế độ xã hội được coi là dân chủ hay phản dân chủ
là tuỳ thuộc vào mức độ giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột,
thoát khỏi tình cảnh nô lệ, vươn tới tự do và làm chủ chế độ xã hội đó.

15
Dân chủ còn thể hiện các mối quan hệ khác nhau giữa cá nhân và cộng
đồng, giữa con người và xã hội trong cả chính trị và kinh tế, trong cả quyền
lực, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân.
Quá trình toàn cầu hóa làm lan truyền những giá trị phổ biến như nhân

dân chủ. Tự do là quyền căn bản của con người, từ quyền tự do sinh sống, tự
do đi lại, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do
hội họp, tự do bầu cử. Tất cả những quyền tự do căn bản này đã được ghi
nhận trong Bản tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền (năm 1948). Lời mở đầu của
Bản Tuyên ngôn ghi rõ:
Xét rằng việc công nhận nhân phẩm bẩm sinh của mọi người, thành
viên của đại gia đình nhân loại, cùng sự công nhận quyền bình đẳng, bất khả
nhượng, đó là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới. Xét rằng
những hành động sao nhãng, khinh miệt và chà đạp những quyền căn bản của
con người là những hành động man dại, đi ngược lại lương tâm, lương tri của
nhân loại; và một thế giới mà trong đó, mọi ngừơi đều được tự do ngôn luận,
tự do tín ngưỡng, và không bị đe dọa bởi nghèo đói, thế giới đó phải được coi
là ước vọng cao cả của nhân loại.
Vậy, chúng ta phải thừa nhận tự do là quyền căn bản, bẩm sinh của con
người, không phân biệt trai gái, không phân biệt chủng tộc. Theo một số học
giả tư sản, trong những quyền căn bản đó có hai quyền quan trọng, là hai trụ
cột của chế độ dân chủ, đó là quyền tự do ngôn luận và tự do bầu cử.
Nói như Voltaire: “Tự do ngôn luận là linh hồn của chế độ dân chủ”.
Hồ Chí Minh cũng đã nêu thấu triệt tinh thần ấy trong một luận đề đầy sức
thuyết phục: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Đối với
mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý.
Khi đã tìm thấy chân lý rồi thì quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục
tùng chân lý” [34, tr. 216].
Theo tinh thần quyển Contrat Social (Khế ước xã hội) của J. J.
Rousseau và Bản Tuyên ngôn Độc lập (Hoa Kỳ) mà người soạn thảo chính là

17
Thomas Jefferson, thì quyền tự do bầu cử là hành động đầu tiên tạo dựng nên
dân chủ.
Qua phân tích ở trên, tiêu chuẩn về quyền con người trong đó có quyền

Bên cạnh điều kiện kinh tế, dân trí, văn hoá cũng là những tiền đề tạo
nên một môi trường để dân chủ phát triển. Do vậy, để nâng cao dân trí và tăng
cường vốn văn hoá cho người dân thì giáo dục, tuyên truyền là một trong
những điều kiện quan trọng đối với dân chủ vì hiểu biết dân chủ và ứng xử
dân chủ là kết quả của việc giáo dục nhận thức. Từ kết quả của giáo dục và
nhận thức về dân chủ, lý tưởng dân chủ phải trở thành những cam kết có tính
chất nguyên tắc để thực hiện. Sự dung thứ những tư tưởng, quan điểm khác
biệt, thậm chí đối lập cũng rất cần thiết cho sự tồn tại của dân chủ. Việc nâng
cao trình độ văn hoá, dân trí cho nhân dân là nhân tố cơ bản để thực hiện dân
chủ bởi vì dân chủ là biểu hiện của trình độ văn hoá chính trị, có quan hệ mật
thiết với trình độ dân trí, văn hoá nói chung. Chỉ khi nào người dân tự giác
nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, tự giác tham gia vào công việc
nhà nước, công việc xã hội, hoạt động với tư cách là công dân có tri thức, văn
hoá thì mới thực sự có điều kiện thực hiện dân chủ. “Mù chữ đứng ngoài
chính trị” (V.I. Lenin), ít hiểu biết cũng làm hạn chế sự tham gia vào đời sống
chính trị. Giáo dục đóng vai trò chính trong quá trình này vì giáo dục mang lại
kiến thức để giúp cho việc tham gia của người dân một cách hiệu quả và có
thể thực hiện được ngay từ đầu. Dân trí gắn liền với ý thức của nhân dân và
phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục. Nếu không thừa nhận sự đa dạng về
chính trị và sự đa dạng về nhận thức thì không thể giáo dục tự do, và nếu
không giáo dục tự do thì không gian nhận thức của nhân dân sẽ bị hạn chế và
điều đó sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến trình độ dân trí.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ hoá phải được bắt đầu từ chủ
trương diệt giặc dốt. Do vậy, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công
(năm 1945), chính phủ do Người đứng đầu đã chỉ đạo và có nhiều biện pháp
nhằm nâng cao dân trí. Ngay sau khi hơn một tháng đọc Tuyên ngôn Ðộc lập,
Người đã nói: “Nay chúng ta giành quyền độc lập. Một trong những công việc

19
phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng cao dân trí”[31, tr. 44]. Nhờ chủ

luật – đây là hình thức biểu hiện của dân chủ. Dân chủ cần đến tính pháp lý và
tính nhân văn của nhà nước pháp quyền. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không
có nhà nước pháp quyền thì không có dân chủ và dân chủ là hạt nhân lý luận
của nhà nước pháp quyền [55, tr. 73].
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy vấn đề đảm bảo quyền con người
trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền
XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta chính là những cách
thức, tiến trình thực hiện dân chủ hoá ở nước ta và đây cũng là những điều
kiện trong quan trọng đảm bảo cho một nền dân chủ XHCN tại Việt Nam.
1.1.4. Sự hình thành dân chủ XHCN là bước phát triển mới về dân
chủ
Kế thừa tư tưởng dân chủ của nhân loại, chủ nghĩa Mác - Lênin cho
rằng: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân; Dân chủ là một hình thức tổ
chức của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, một hình thái nhà nước; Với
tính cách là một chế độ chính trị, một hình thái nhà nước, dân chủ luôn có sự
thống nhất biện chứng của hai mặt: đảm bảo quyền làm chủ cho giai cấp mà
nó đại diện và thực hiện chuyên chính với các lực lượng chống đối.
Ngày nay, trên thế giới có hai nền dân chủ đang tồn tại song song, đó là
nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN.
Cơ sở kinh tế của nền dân chủ tư sản là quan hệ sản xuất tư bản chủ
nghĩa dựa trên chế độ tư hữu tư bản đối với tư liệu sản xuất. Trong xã hội
phong kiến, con người bị trói buộc vào ruộng đất của các vua chúa, thì trong
nền dân chủ tư sản, cá nhân những người lao động với mức độ nhất định được
phát huy do đã có quyền tư hữu, do đó đã được giải phóng một phần. Phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tạo ra cơ cấu xã hội gồm hai giai cấp mới: giai
cấp tư sản và giai cấp công nhân. Xã hội tư bản phát triển trên cơ sở ai làm
chủ tư liệu sản xuất thì sẽ làm chủ về chính trị. Do đó, nền dân chủ tư sản
ngày càng bộc lộ rõ là một nền dân chủ hạn chế, nền dân chủ của một số ít kẻ
bóc lột. Cơ sở tinh thần (tư tưởng) của nền dân chủ tư sản nhấn mạnh và


Trích đoạn Hiến pháp năm 1992 – nền tảng chính trị pháp lý cho việc mở rộng và phát huy dân chủ Sự ra đời của Quy chế dân chủ ở cơ sở đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng các thể chế dân chủ ở nước ta Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí Công tác xây dựng pháp luật nước ta trong thời kỳ đổi mớ Hoạt động giám sát và phản biện xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status