TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
MÔN NGUYÊN LÍ MÁC – LÊNIN I
TÊN ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC VÀ
VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY.
Họ và tên: Lê Văn Giang
Lớp: A8 – K2 – TC
Giáo viên hướng dẫn: Trần Huy Quang
Hà Nội – 11/2014
1
LỜI MỞ ĐẦU
Theo quan điểm Mac-Lênin :”Vật chất và ý thức tồn tại trong mối quan hệ biện chứng
với nhau, tác động lẫn nhau thông qua hoạt động thực tiễn; trong mối quan hệ đó vật
chất giữ vai trò quyết định đối với ý thức. Vật chất là nguồn gốc của ý thức, ý thức là sự
phản ánh đối với vật chất.”
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, công cuộc đổi mới đất nước ta đạt được những
thành tựu vô cùng to lớn.Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, đã
có những chuyển biến tích cực.Kể từ Đại hội VI, Đảng ta đã vận dụng quan điểm duy
vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức vào công cuộc đổi mới.Thực tế
đã chứng minh những đường lối, tư tưởng và chính sách trên là đúng đắn.Chúng ta đã
chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với những ý nghĩa và tác dụng của vấn đề này, em đã chọn đề tài tiểu luận triết học số
một : “Quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ giữa vật chất với ý thức và vận
dụng vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.”
giác của con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người.
ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất , còn vật chất là cái được ý thức
phản ánh .
1.1.2 Các đặc tính của vật chất
Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất .
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng ,vận động là sự biến đổi nói chung
chứ không phải là sự chuyển dịch trong không gian .Ăngghen cho rằng vận động là một
phương thức tồn tại vật chất ,là thuộc tính cố hữu của vật chất,gồm tất cả mọi sự thay
đổi trong moi quá trình diễn ra trong vũ trụ.Vận động có 5 hình thức vận động chính là
cơ -Hoá- lý -sinh-xã hội.Các hình thức vận động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
một hình thức vận động này thực hiện là tác động qua lại với những hình thức vận động
khác ,trong đó vận động cao bao gồm vận thấp nhưng không thể coi hình thưc vận cao
là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp.
Thế giới khách quan bao giờ cũng tồn tại không ngừng không thể có vật chất
không vận động ,tức vật chất tồn tại .Vật chất thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn
3
tại của mình .Ăngghen nhận định rằng các hình thức và các dạng khác nhau của vật
chất ,chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của
nó .Trong thế giới vật chất từ các hạt cơ bản trong vi mô trong hệ thống hành tinh
khổng lồ.Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất có kết cấu xác định
gồm những bộ phận nhân tố khác nhau ,cùng tồn tại ảnh hưởng và tác động lẫn nhau
gây ra nhiều biến đổi .Nguồn gốc vận động do những nguyên nhân bên trong ,vận động
vật chất là tự thân vận động.
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất ,không thể có vận động bên ngoài vật
chất Nó không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do đó nó dược bảo toàn cả
số lượng lẫn chất lượng.Khoa học đã chứng minh rằng nếu một hình thức vận động nào
dó của sự vật mất đi thì tất yếu nó nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế .Các
hình thức vận động chuyển hoá lẫn nhau còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại.
Mặc dù vận động luôn ở trong quá trình không ngừng ,nhưng điều đó không loại
trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối ,không có nó thì không có sự phân
hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người. Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc
người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không bình thường hoặc bị
rối loạn. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. Ý thức không
thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.
4
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên
ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức.
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất, thuộc tính này
được biểu hiện ra trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau,
phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật
chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng. Kết quả của sự phản ánh phụ
thuộc vào cả hai vật – vật tác động và vật nhận tác động. Đồng thời quá trình phản ánh
bao hàm quá trình thông tin. Nói cách khác, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông
tin của vật tác động. Đây là điều hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên
của ý thức.
Là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai
đoạn phát triển cao của thế giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người. Ý thức là
ý thức của con người, nằm trong con người, không thể tách rời con người. Ý thức bắt
nguồn từ một thuộc tính của vật chất – thuộc tính phản ánh – phát triển thành. Ý thức
ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, nội dung của
nó là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản ánh. Ý thức và sự phản ánh thế
giới bên ngoài vào trong bộ óc người. bộ óc người là cơ quan phản ánh song chỉ có riêng
bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức. Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các
giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra. Như vậy, bộ óc
người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức.
1.2.2. Nguồn gốc xã hội:
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng, không
thể thiếu được, song chưa đủ điều kiện quyết định cho sự ra đời cùng với quá trình hình
thành bộ óc người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội, ý thức là sản phẩm
và ý thức, từ đó dẫn đến làm mất đi sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm.
Tuy nhiên, ý thức không phải là bản sao giản đơn, thụ động máy móc của sự vật. Ý
thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng động sáng tạo. Ý thức
phản ảnh thế giới khách quan trong quá trình con người tác động cải tạo thế giới. Do đó,
ý thức con người là sự phản ảnh có tính năng động, sáng tạo. Ý thức là sự phản ảnh sáng
tạo lại hiện thực, theo nhu cầu thực tiển xã hội, vì vậy ý thức “Chẳng qua chỉ là vật chất
được đem chuyển vào trong đầu óc con người, và được cải biến đi ở trong đó” (C. Mác
và Ph. Ăngghen : Toàn tập, NXB. CTQG, HN, 1993, Trang 35). Nói cách khác, ý thức là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người, song đây là sự
phản ảnh đặc biệt – phản ảnh trong quá trình con người, cải tạo thế giới. Quá trình ý
thức là quá trình thống nhất của 3 mặt sau đây :
- Một là trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi
này mang tính chất hai chiều, có định hướng và chọn lọc các thông tin cần thiết.
- Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.
Thực chất đây là quá trình “Sáng tạo lại” hiện tượng của ý thức, theo nghĩa mã
hóa các đối tượng vật chất thành các ý thức tinh thần phi vật chất.
- Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình
hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiển biến cái quan niệm thành cái
thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chất ngoài hiện
thực. Trong giai đoạn này con người lựa chọn những phương pháp, phương tiện, công
cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mục đích của mình. Điều đó
càng nói lên tính năng động sáng tạo của ý thức.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạocủa ý thức
là sáng tạo của sự phản ảnh, theo qui luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh, mà kết
quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sự sáng tạo của ý thức không đối lập ,
loại trừ, tách rời sự phản ánh mà ngược lại thống nhất với phản ánh, trên cơ sở phản
ánh. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức. Ý thức trong bất cứ
trường hợp nào - cũng là sự phản ánh và chính thực tiển xã hội của con người tạo ra sự
trên cơ sở những điều kiện vật chất nhất định ,thiếu những phương tiện vật chất người
ta không thể làm được cái gì hết bởi ý tưởng tự nó không thực hiện được cái gì hết muốn
hiện thực hóa ý tưởng phải sử dụng lực lượng vật chất .Ông cha ta thường nói “có thực
mới vực được đạo “, hay “có bột mới gột nên hồ”.
1.4. Tính độc lập tương đối của ý thức :
Vật chất là cái có trước ,ý thức là cái có sau ,ý thức do vật chất quyết định .Đó là
quan điểm của các nhà duy vật trước Mác đã khẳng định .Nhưng triết học Mác-Lênin
không chỉ dùng lại ở đó mà nó lại khẳng định rằng vật chất quyết định ý thức ,song ý
thức lại tác động trở lại vật chất ,cải tạo thế giới vật chất thông qua họat động thực tiễn
của con người .
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách năng động
sáng tạo .Cho nên nó giúp con người hiểu biết bản chất và qui luật vân động của sự vật
hiện tượng .Trên cơ sở đó con người xác định phương hướng ,mục tiêu họat động của
mình ,xác định phương pháp và biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu .Nhờ có ý thức
con người phân biệt được đúng ,sai ,lợi ,hại,cái gì nên làm ,cái gì cần tránh ,tìm được
đường đi đúng hướng tránh được sai lầm .Trong quá trình họat động thực tiễn xuất
hiện nhiều khả con người có thể phân tích ,phát hiện nhiều khả năng tốt ,xấu để chỉ đạo
họat động của mình tạo điều kiện cho khả năng tốt phát triển ,ngăn ngừa hạn chế khả
năng xấu .
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách năng động
,sáng tạo .Cho nên nó giúp con người hiểu biết bản chất và qui luật vân động của sự
vật ,hiện tượng .Trên cơ sở đó con người xác định phương hướng ,mục tiêu họat động
của mình ,xác định phương pháp và biện pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu .Nhờ có ý
thức con người phân biệt được đúng ,sai ,lợi ,hại,cái gì nên làm ,cái gì cần tránh ,tìm
được đường đi đúng hướng tránh được sai lầm .Trong quá trình họat động thực tiễn
xuất hiện nhiều khả con người có thể phân tích ,phát hiện nhiều khả năng tốt ,xấu để chỉ
đạo họat động của mình tạo điều kiện cho khả năng tốt phát triển ,ngăn ngừa hạn chế
khả năng xấu .Ýthức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một
cách năng động ,sáng tạo .Cho nên nó giúp con người hiểu biết bản chất và qui luật vân
động của sự vật ,hiện tượng .Trên cơ sở đó con người xác định phương hướng ,mục tiêu
thành duy tâm chủ nghĩa ,còn nếu phù hợp một cách thụ động sẽ trở nên thực dụng ,còn
nếu cứ khư khư ôm lấy cái bản lĩnh , lý tưởng môt cách máy móc xơ cứng thì chắc chắn
sẽ gặp không ít khó khăn ,nếu không kịp thích ứng có khi sẽ bị đào thải ….Cho nên nói
đến vai trò của ý thức thực chất là nói tới vai trò của con người.Dó cần phải trang bị ý
thức lý luận khoa học cho cán bộ ,cho đông đảo quần chúng nhân dân bởi
“muốn xây dựng XHCN phải có con người XHCN”
Triết học Mác-Lênin đã vạch rõ bản chất phản động của triết học duy tâm. Họ cho
rằng ý thức có trước vật chất và quyết định vật chất, nhưng thực chất là nguỵ biện để
che đậy cái bản chất của chủ nghĩa tư bản .Họ xem mối quan hệ giữa vất chất và ý thức
chỉ là quan hệ một chiều như chính giai cấp tư sản trong chủ nghĩa tư bản .Vậy triết học
duy vật biện chứng của Mac –Lênin đã chứng minh rằng đằng sau chủ nghĩa duy tâm là
khuynh hướng tư tưởng của giai cấp tư sản hiện đai đang tìm mọi lý lẽ phản khoa học
để chống lại chủ nghĩa duy vật của Mác .Chủ nghĩa duy vật của Mác đã luận chứng một
cách khoa học về thế giới ,đó là thế giới vật chất .Thế giới vật chất không ai sinh ra
,không ai tiêu diệt được ,tồn tại khách quan ngoài ý thức của con người và quyết định ý
thức của con người .Nhưng không phủ nhận sự tác động trở lại của ý thức mà còn thừa
nhận một cách có căn cứ khoa học về vai trò của ý thức đối với vật chất .Chính quan hệ
biện chứng giữa vật chất và ý thức đã giúp con người không chỉ nhận biết được thế giới
8
mà còn cải tạo được thế giới vật chất để phục vụ cho lợi ích của con người, vai trò của ý
thức biểu hiện tập trung ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người .Tầm quan
trọng của ý thức tiến bộ của lý lụân cách mạng đã được Lênin tổng kết trong câu nói nổi
tiếng “không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng “.Thật vậy khi
điều kiện khách quan đã xuất hiện những chủ trương đường lối sáng suốt,biện pháp
đúng đắn ,quyết tâm cao là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của
cách mạng .Nguyên nhân chủ yếu của sự thành công của cách mạng Việt Nam là Đảng
ta đã nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với tình hình thực
tế nước ta nên đã đề ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn trong từng giai
đoạn cách mạng.
2 . Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới:
lộn và suy sụp, lạm phát trầm trọng, Đại hội Đảng lần thứ IV lại đề ra những chỉ tiêu kế
hoạch năm 1976 - 1980 quá cao và phát triển sản xuất quá khả năng của nền kinh tế,
như: năm 1975, phấn đấu đạt 21 triệu tấn lương thực, 1 triệu tấn cá biển,1 triệu hecta
khai hoang,1triệu 200 hecta rừng mới trồng ,10 triệu tấn than sạch, 2 triệu tấn xi
9
măng Đến hết năm 1980, nhiều chỉ tiêu kinh tế chỉ đạt khoảng 50-60% mức đề ra, nền
kinh tế tăng trưởng rất chậm chạp, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 1,5%, công
nghiệp tăng 2,6%, nông nghiệp giảm 0,15%. Đại hội Đảng lần thứ V, cũng chưa tìm ra
được đầy đủ những nguyên nhân đích thực sự trì trệ trong nền kinh tế của nước ta và
cũng chưa đề ra các chủ trương, chính sách và toàn diện về đổi mới, nhất là về kinh tế.
Tại Đại hội Đảng VI, Đảng đã tự phê bình một cách nghiêm khắc, đã phân tích đúng
nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội, đề ra các định hướng và xác
định chủ trương đổi mới đặc biệt là đổi mới về kinh tế, thực hiện mục tiêu ba chương
trình kinh tế: lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Vì vậy, từ lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và từ kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đại hội Đảng lần thứ VII chỉ ra những tồn tại lớn cần giải
quyết như vấn đề lạm phát, thiếu việc làm, trong điều hành quản lý còn nhiều sơ hở,
lúng túng Đặc biệt Đại hội cũng xác định: “Về quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị phải tập trung sức đổi mới kinh tế, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của nhân dân về
đời sống và làm việc, các nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của củ
nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính
trị”. Đại hội đã rút ra bài học quan trọng là: ”Mọi đường lối,chủ trương của Đảng phải
xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách
quan”.
Đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa,
Đảng ta chủ trương “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững”, nâng cao trình độ dân trí, trình độ tri thức và tay nghề
cho người lao động. Muốn vậy “phải khơi dậy trong dân lòng yêu nước, ý chí quật
cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà khỏi nghèo nàn,
lạc hậu” - tức phát huy tính năng động của ý thức. Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư
5 . Chiến lược kinh doanh ,NXB Hà Nội – 2001 .
MỤC LỤC
Lời mở đầu 2
Nội dung 3
12
1 . Lý luận chung về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 3
1.1 Vật chất 3
1.1.1 Vật chất là gì ? 3
1.1.2 Các đặc tính của vật chất 3
1.2. Nguồn gốc của ý thức 4
1.2.1. Nguồn gốc tự nhiên 4
1.2.2. Nguồn gốc xã hội 5
1.2.3 Bản chất ý thức 6
1.3 Vật chất quyết định ý thức 6
1.4. Tính độc lập tương đối của ý thức 7
2 . Ý nghĩa phương pháp luận và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới 9
2.1 Ý nghĩa phương pháp luận 9
2.2 Sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới 9
Kết luận 11
Danh mục tài liệu tham khảo 12
13