Tiểu luận Triết học: “Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay”. - Pdf 12

Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
1

Đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách
kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi
mới ở nước ta hiện nay”.

Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
2 Đề cương chi tiết:
A. Đặt vấn đề:
B. Nội dung:
1. Cơ sở lý luận mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã
hội.
Chính sách kinh tế và cơ sở hạ tầng
Chính sách xã hội và kiến trúc thượng tầng
Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
- Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
- Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
2. Cơ sở thực tiễn về mỗi quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách
xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay.
2.1 Thực trạng chính sách kinh tế và chính sách xã hội Việt Nam hiện nay
2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi mới

trường ở nước ta, và việc nước ta gia nhập tổ chức quốc tế WTO ngày 07/11/2006 vừa
qua.
Bởi vậy, nhiệm vụ của chúng ta là phải xác định cho được điểm tới hạn, ở đó sự
kết hợp giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là tối ưu nhất, có tác động tích cực
thúc đây sự phát triển và tiến bộ xã hội. Vấn đề đặt ra là phải xác định rõ mỗi quan hệ
giữa chính sách phát triển kinh tế và chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Đây cũng chính là lí do tôi lựa chọn đề tài: “Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách
kinh tế và Chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay” làm tiểu
luận triết học.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: nghiên cứu những mối quan hệ biện chứng giữa
chính sách kinh tế và chính sách xã hội, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để phát huy
trong công cuộc đổi mới hiên nay. Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng mối quan hệ
giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội của Việt Nam để đánh giá tìm ra những
hướng để vận dụng nó nó.
Kết cấu của tiểu luận bao gồm:
A. Đặt vấn đề:
B. Nội dung:
C.Kết luận
C. Danh mục tài liệu tham khảo B. NỘI DUNG
Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
4

1. Cơ sở lý luận mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã
hội.
1.1 Chính sách kinh tế và cơ sở hạ tầng:
Chính sách kinh tế là những chủ trương và biện pháp kinh tế mà Nhà nước áp
dụng trong một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử nhằm đạt được những yêu cầu và những

đấu tranh về mặt chính trị, tư tưởng của các giai cấp đối kháng, đặc trưng là sự thống trị
về mặt chính trị, tư tưởng của giai cấp thống trị.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái kinh tế -
xã hội, chúng thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó, cơ sở
hạ tấng quyết định kiến trúc thượng tầng, song kiến trúc thượng tầng cũng có tác động
của tích cực trở lại cơ sở hạ tầng. Như vậy, thông qua mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở
hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế
và chính sách xã hội.
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và chính sách xã hội:
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống
nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc
thượng tầng. Điều này thể hiện ở những điểm sau:
- Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó.
Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định. Trong xã
hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về mặt
chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như
nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo… đều phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ
tầng quyết định.
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúc thượng tầng phải phù
hợp với cơ sở hạ tầng nhưng không phải là sự phù hợp giản đơn. Toàn bộ kiến trúc
thượng tầng đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động phát triển và tác động
một cách mạnh mẽ đối với cơ sở hạ tầng.
Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan
thì nó là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động ngược
lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
Chính sách kinh tế, chính sách xã hội có bản chất là cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng nên cũng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Do đó, đây là hai phạm trù
riêng rẽ nhưng không tách rời nhau, có mối quan hệ tương hỗ và thống nhất. Sự đồng
bộ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội là điều kiện cần và đủ để bình ổn và
phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực

- Nâng cao hiệu quả của nền kinh tế
- Bảo đảm công bằng xã hội
- Giữ ổn định kinh tế - xã hội
Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
7
Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, sự phát triển kinh tế cũng đồng thời kéo
theo một loạt các vấn đề về xã hội, như nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, mất
cân bằng sinh thái, các chứng bệnh nan y và cả sự thay đổi về các giá trị đạo đức, giá trị
tinh thần Theo quan điểm hiện đại, mục tiêu phát triển bền vững không chỉ dựa trên
những thành quả của phát triển kinh tế mà còn bao hàm cả các chỉ tiêu về phát triển giáo
dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, các chỉ tiêu về phát triển con người, phát triển khoa học,
công nghệ và chỉ tiêu về bảo vệ môi trường Chính vì vậy, bên cạnh các chính sách kinh
tế, chính sách xã hội đóng vai trò như một cán cân điều tiết, đem lại đời sống tốt đẹp, sự
công bằng, dân chủ cho mỗi thành viên trong xã hội.
Thực tiễn ở Việt Nam từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay cho thấy, thông
qua đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện
các chính sách kinh tế, chính sách xã hội đã đạt nhiều thành tựu tích cực. Nền kinh tế đã
có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc
tế; tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được cải thiện rõ rệt, văn hóa - xã hội không ngừng tiến bộ, khả năng độc lập, tự chủ
tăng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, bên
cạnh những tiến bộ đã đạt được, còn tồn tại nhiều bất cập, điển hình là:
- Nền kinh tế kém hiệu quả và sức cạnh tranh còn yếu. Tích lũy nội bộ và sức
mua trong nước còn thấp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, cơ cấu đầu tư còn nhiều bất hợp lý. Đầu tư của Nhà nước còn thất
thoát và lãng phí. Nhịp độ thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài thiếu ổn định, quan
hệ sản xuất có mặt chưa phù hợp, hạn chế việc giải phóng và phát triển lực lượng sản
xuất.
- Giáo dục, đào tạo còn yếu về chất lượng, cơ cấu đào tạo chưa phù hợp, có nhiều
bất hợp lý trong dạy, học và thi cử Khoa học và công nghệ chưa thật sự trở thành

phải khai thác tính thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội để đạt được
mục tiêu phát triển chung.
2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi
mới
Qua gần 20 năm đổi mới, nhờ đường lối đúng đắn của Đảng và tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của nhân dân trong việc hiện thực hoá đường lối đó, chúng ta đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng. Nền dân chủ XHCN với Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định trên những đường nét cơ bản. Nền văn
hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, sự thống nhất trong đa dạng đã hình thành. Khối
Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
9
đại đoàn kết toàn dân tộc mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức ngày càng được củng cố, thực sự trở thành một động lực
quan trọng của đổi mới đất nước.
Nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân với lực lượng vũ trang nhân dân
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại ngày càng đủ mạnh để bảo vệ Tổ
quốc và cuộc sống yên lành của nhân dân. Nền ngoại giao độc lập, tự chủ, rộng mở, đa
phương hoá, đa dạng hoá với tinh thần Việt Nam sắn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển, không
ngừng mở rộng các quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường
quốc tế đã phát huy vai trò to lớn của mình trong đổi mới đất nước. Công cuộc xây
dựng, chỉnh đốn Đảng đã góp phần làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh, đủ sức gánh
vác được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc ta giao phó. Những thành tựu đó đã làm cho sức
mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên nhiều, vị thế nước ta trên trường quốc tế
không ngừng được nâng cao.
Những bài học được rút ra từ 20 năm đổi mới giúp chúng ta hoàn thiện hơn nữa
đường lối, chủ trương, chính sách và cách thức triển khai trong tổ chức thực tiễn sẽ góp
phần đẩy mạnh hơn sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, việc tham gia WTO là bước
hội nhập kinh tế quốc tế ở tầm cao nhất về cấp đối tác sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho

trường, để không chệch hướng xã hội chủ nghĩa, bao giờ cũng phải xác lập quan hệ hợp
lý giữa chúng.
- Việc nghiên cứu sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội giúp
chúng ta có cơ sở để tìm ra quan hệ hợp lý giữa chúng. Chúng ta chủ yếu xem xét, phân
tích những dấu hiệu, những yếu tố tác động tích cực của các chính sách đó, để từ đó nhà
nước áp dụng các biện pháp kiểm soát, khống chế chúng về mặt tính chất, quy mô và
cường độ, không cho nó vượt quá điểm “tới hạn”, trở thành những “điểm nóng”, gây nên
những hậu quả xấu hoặc nguy hiểm về mặt xã hội.
Như vậy, ở đây có hai vấn đề đặt ra:
Một là, khi hoạch định chính sách kinh tế phải tính đến hậu quả về mặt xã hội.
Hai là, một số chính sách xã hội được xây dựng không tính đến khả năng của
nền kinh tế không quan tâm đến lợi ích kinh tế thì sẽ trở thành yếu tố cản trở tăng
trưởng kinh tế.
3. Giải pháp
Các chính sách kinh tế tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu:
- Tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp và công dân đầu tư
và phát triển sản xuấ t kinh doanh.
Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
11
- Tập trung sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật, đổi mới công tác chỉ
đạo thực hiện để bảo đảm các thành phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu
dài, hợp tác, cạnh tranh lành mạnh, thực sự là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển,
tích cực chuẩn bị các điều kiện về kinh tế, thể chế, cán bộ để thực hiện thành công quá
trình hội nhập trên cơ sở phát huy nội lực, bảo đảm độc lập, tự chủ, bình đẳng và cùng có
lợi.
Các chính sách xã hội cần được thực hiện đồng thời và tập trung vào những
nhiệm vụ: đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn

với những diễn biến quá nhanh của kinh tế thị trường, đã làm cho những nguy cơ tiềm ẩn
của cơ chế kinh tế bùng phát bất lợi.
Thứ ba, xây dựng mới các chính sách kinh tế và chính sách xã hội cho phù hợp
với điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là chính sách đối với
người lao động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Thứ tư, tăng cường chức năng quản lý nhà nước trong việc thực hiện chính sách
kinh tế, chính sách xã hội. Các chính sách kinh tế, chính sách xã hội cần hướng vào việc
thúc đẩy kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm nâng cao phúc lợi xã hội, bảo đảm phát triển bền
vững, thực hiện công bằng, dân chủ. Xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan nhà nước,
xác định đúng hình thức, phương pháp quản lý của các cơ quan này trong việc thực hiện
các chính sách. Tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý những hành vi vi phạm các
chính sách.
Thứ năm, khắc phục những nhận thức lệch lạc về cách thức giải quyết hai loại
chính sách kinh tế và chính sách xã hội. Tiểu luận Triết học Đỗ Thị Phương Lan-CH 16M
13
C. KẾT LUẬN

Tóm lại, chính sách xã hội và chính sách kinh tế là một thể thống nhất. Sự thống
nhất đó được xã định ở quan hệ hợp lý giữa chúng, mà ở đó sự kết hợp giữa chính sách
kinh tế và chính sách xã hội là tối ưu nhất, có tác động tích tích cực thúc đẩy sự phát triển
và tiến bộ xã hội. Tức là sự kết hợp đó dựa trên nguyên tắc đơn giản là: Chính sách kinh
tế phải tìm được động lực trong xã hội và đảm bảo ổn định xã hội, ngược lại chính sách
xã hội phải thúc đẩy kinh tế phát triển và phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép.
Như trên đã phân tích, chính sách xã hội khi xây dựng phải được xem xét trong
mối quan hệ với hàng loạt chính sách khác như chính sách kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn
hoá, đối ngoại… ở nhiều cấp độ khác nhau: Vĩ mô (trung ương), vùng, địa phương và cơ
sở. Trong bản thân hệ thống hệ thống chính sách xã hội cũng phải tính đến các mối quan

1.2 Chính sách xã hội và kiến trúc thượng tầng……………………………………….3
1.3 Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội……………………….4
2 .Cơ sở thực tiễn về mỗi quan hệ biện chứng giữa Chính sách kinh tế và Chính sách xã
hội trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay…………………………………….5
2.1 Thực trạng chính sách kinh tế và chính sách xã hội Việt Nam hiện nay……… 5
2.2 Sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội trong các thời kỳ đổi
mới……………………………………………………………………………………8
3. Giải pháp………………………………………………………………………….10
C.Kết luận…………………………………………………………………………….12
D. Danh mục tài liệu tham khảo…………………………………………………….12
Mục lục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status