Tài liệu Tiểu luận "Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kì quá độ lên CNXH ở nước ta" - Pdf 99



TIỂU LUẬN

"Mối quan hệ biện chứng giữa
cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng trong thời kì quá
độ lên CNXH ở nước ta"
1
LỜI MỞ ĐẦU

Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam đang là một đất nước
có được nhiều sự chú ý từ các nước trên thế giới.
Đó là đất nước Việt Nam đã và đang trên con đường đổi mới một cách toàn
diện và ngày càng sâu sắc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản
xuất tạo ra của cải vật chất của xã hộ
i. Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành
nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội. Hai mặtđó của đời sống xã
hội được khái quát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ t
ầng
và kiến trúc thượng tầng. Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong
đó có thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể và nhiều thành kinh tế khác nhau.
Tính chất đan xen - quá độ về kết cấu của cơ sở kinh tế vừa làm cho nền kinh tế
sôi động, phong phú, vừa mang tình phức tạp trong quá trình thực hiện định
hướng xã hội. Đây là một kết cấu kinh tế nă
ng động, phong phú được phản
chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là nền kiến
trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế. Như

định.
Trong kết cấu kiến trúc thượng tầng thì Nhà nước là bộ phận quan trọng
nhất. Bởi vì, Nhà nướ
c nắm trong tay sưc mạnh kinh tế và bạo lực, nó chi phối
3
mọi bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng và các bộ phận này phải phục ting
nó.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
xã hội.
2.1 Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung, tính chất kết cấu của kiến trúc thượng
tầng. C
ơ sở hạ tầng của một xã hội nhất định như thế nào, tính chất của nó ra
sao, giai cấp đại diện cho nó như thế nào thì hệ thống thiết chế chính trị pháp
quyền, đạo đức, triết học v v và quan hệ của các thể chế tương ứng với các
thiết chế ấy cũng như vậy. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng t
ầng thể
hiện ở những mặt sau:
-Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định sự hình thành kiến trúc thượng tầng,
cơ sở hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy.
-Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng trong một
hình thái kinh tế xã hội nhật định, khi cơ sở hạ tầng biến
đổi thì kiến trúc
thượng tầng cũng biến đổi theo.
-Cơ sở hạ tầng quyết định sự thay đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng.
Khi cơ sở hạ tầng nào mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất
theo, khi cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì nó lại sản sinh ra kiến trúc thượng tầng
mới phù hợp với nó.
Ví dụ
cơ chế bao cấp tương ướng với nó là Nhà nước xơ cứng, mệnh lệnh

công cụ bạo lực tập trung trong tay giai cấp thống trị.
Nó không chỉ thực hiện chức năng kinh tế bằng hệ thống chính sách kinh tế
- xã hội đúng, nó còn có tác dụng trực tiếp thúc đẩy sự phát triển c
ủa nền kinh
tế. Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng phải thông qua thì mới có
hiệu lực đối với CSHT.
Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại CSHT theo hai chiều

-Tích cực: Khi KTTT tác động cùng chiều với những quy luật vận động của
CSHT thì nó thúc đẩy CSHT phát triển. Do đó, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã
hội.
5
-Tiêu cực: Khi KTTT tác động ngược chiều với những quy luật vận động
của CSHT, khi nó là sản phẩm của quan hệ kinh tế lỗi thời thì nó cản trỏ, kìm
hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Do đó, nó kìm hãm sự phát triển kinh tế.

6
PHẦN II
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG
VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA.

Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng
XHCN ở nước ta , cần vận dụng quán triệt quan hệ biện chứng giữ cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng.
Cơ s
ở hạ tầng kinh tế nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế đa thành phần.
Tính chất đan xen, quá độ về kết cấu của cơ sở kinh tế vừa làm cho nền kinh tế
sống động, phongphú, vừa mang tính phưvs tạp trong quá trình thực hiện định
hướng XHCN. Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú của nền kinh

sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng tiến bộ hơ
n thay thế cơ sở hạ tầng và kiến
trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa lỗi thời phản động. Tuynhiên, nhà nước
chuyên chính vô sản có thật sự vững mạnh hay không lại hoàn toàn phụ thuộc
vào sự phát triển của sự phát triển của cơ sở hạ tầng cộng sản chủ nghĩa.
2. Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá
độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng XHCN khác căn bẳn với cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp đối kháng.
Dưới chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
thuần nhất và thống nhất. Vì cơ sở hạ tầng xã hội ch
ủ nghĩa không có tính chất
đối kháng, không bao hàm những lợi ích kinh tế đối lập nhau. Hình thức sở hữu
bao trùm là sở hữu toàn dân và tập thể, hợp tác tương trợ nhau trong quá trình
sản xuất, phân phối sản phẩm theo lao động, không còn chế độ bóc lột .
Kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội
chủ nghĩa, vì vậy mà có sự thống trị về chính trị
và tinh thần. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới: của dân do dân và vì dân. Pháp luật xã hội chủ
nghĩa là công cụ để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa
học trở thành động lực cho sự phát triển xã hội.
8
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến
cách mạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyền tiếp. Cho nên cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng với đầy đủ những đặc trưng của nó. Bởi vì,
cơ sở hạ tầng mang tính chất quá độ với mộ
t kết cấu kinh tế nhiều thành phần
đan xen của nhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau. Còn kiến trúc thượng tầng
có sự đối kháng về tư tưởng và có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp

cơ sở kinh tế hợp lý. Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ
khoá VII, Đảng ghi rõ “phải tập chung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội và một số công trình công nghiệp then chốt đã
được chuẩn bị vốn và công nghệ. Nâng cấp và xây dựng mới hệ thống giao
thông, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo, y tế ”. Đồng
thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ:”Tư nay tới cuối thập kỷ, phải quan tâm tới công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện
nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp ch
ế biến nông lâm thuỷ sản, công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”.
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng,
toàn dân ta. Nội dung cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
là tư tưởng về sự giải phóng con người khỏi chế độ bóc lột thoát khỏi nỗi nhục
của mình là đi làm thuê bị đánh đập, lương ít. Bởi vậy, trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dục truyền bá chủ nghĩa Mác-
Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởnh chủ đạo trong đời sống tinh thần
của xã hội là việc làm thường xuyên, liên tục của cuộc cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên lĩnh vực kiến trúc thượng tầng.
Xây dự
ng hệ thống chính trị, xã hội chủ nghĩa mang bản chất giai cấp công
nhân, do Đảng cộng sản lãnh đạo đảm bảo cho nhân dân là người chủ thực sự
của xã hội. Toàn bộ quyền lực của xã hội thuộc về nhân dân thực hiện dân chủ
xã hội chủ nghĩa đảm bảo phát huy mọi khả năng sáng tạo, tích cực chủ động
của mọi cá nhân. Trong cương lĩnh xây dựng
đất nước thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, Đảng ghi rõ : ”xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa , nhà nước của
dân, do dân và vì dân, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo ”. Như vậy, tất cả các

tế trên quy mô toàn xã hội để tong bước thống trị kinh tế đối với toàn xã hội.
Kinh tế vững mạnh, nhà nước được tăng cường. Nhà nước được tăng cường lại
11
tạo thêm phương tiện vậtchất để củng cố địa vị kinh tế xã hội của giai cấp thống
trị.
Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, chúng ta chủ chương tiến
hành đổi mới đồng bộ phải kết hợp ngay từ đầu, đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị và các mặt khác của đời sống xã hội. Trong đó, đổi m
ới kinh tế là trọng
tâm, còn đổi mới chính trị thúc đẩy đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế chính là đổi
mới ở lĩnh vực CSHT, đó là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý,
phương thức phân phối, quy trình công nghệ…nhằm làm cho nền kinh tế nước
ta phát triển hoà nhập với trình độ phát triển kinh tế thế giới.
Đổi mới kinh tế là tiề
n đề cho đổi mới chính trị, nó tạo ra nền tảng vật chất
cho ổn định về chính trị xã hội, nó làm nảy sinh nhu cầu đổi mới hệ thống chính
trị, làm cho nó năng động và trở thành động lực thực sự của sự phát triển kinh
tế.
Đổi mới chính trị phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới kinh tế, phải phù hợp
với đổi mới kinh tế.
Đổi mới chính trị chính là đổi mới ở bộ phận quan trọng của KTTT, đổi mới
chính trị thể hiện ở đổi mới tổ choc, đổi mới bộ máy, phân cấp lãnh đạo của
Đảng, dân chủ hoá trước hết từ trong Đảng.
Đổi mới chính trị, tạo điều kiện cho đổi mới kinh tế
Khi đường lối chính trị, thiết chế chính trị được đổi mớ
i phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng cho phát triển kinh tế.
Đồng thời tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và
chính trị còn đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục những mặt trái do đổi
mới kinh tế đưa đến.

1. Giáo trình triết học Mác - Lênin
2. Hỏi đáp Triết học
3. Văn kiến Đại hội Đảng VII, VIII
4. Đổi mới kinh tế ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp.
5. Và một số tạp chí khác… 14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status