Mục lục
Trang
Mở đầu
3
Chơng 1: Bản chất khoa học và cách mạng của phép biện
chứng duy vật
6
1.1. Phép biện chứng duy vật và khái lợc lịch sử phát triển phép
biện chứng duy vật
6
1.2. Nội dung, bản chất cách mạng và khoa học của phép biện
chứng duy vật
16
Chơng 2: Vận dụng phơng pháp luận khoa học của phép
biện chứng duy vật vào nhận thức sự nghiệp
đổi mới ở nớc ta hiện nay
29
2.1. Phơng pháp luận khoa học của phép biện chứng duy vật 29
2.2. Yêu cầu và sự vận dụng phơng pháp luận khoa học của
phép biện chứng duy vật vào nhận thức sự nghiệp đổi mới ở
nớc ta hiện nay
39
Kết luận
62
Danh mục tài liệu tham khảo
64
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ph. Ăng ghen định nghĩa - phép biện chứng duy vật là một môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của
nghĩa đặc biệt quan trọng, từ đó để tránh những sai lầm của lối t duy siêu hình ,
chủ quan duy ý chí, áp đặt, duy tâm.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Về bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật, phơng
pháp luận khoa học trong hoạt động nhận thức cũng nh hoạt động thực tiễn đến
nay đã có một đề tài nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau: Lê Hữu Tầng:
"Phép biện chứng với t cách là phơng pháp luận của nhận thức khoa học" [19],
"Lịch sử phép biện chứng" [20]; Vũ Kiều Phơng: " Sự phê phán của chủ nghĩa
Mác đối với phép biện chứng duy tâm của Hêghen trong Bản thảo kinh tế triết
học năm 1844" [18]; Nguyễn Trọng Chuẩn: " Mối quan hệ biện chứng giữa đổi
mới chính sách kinh tế và đối với chính sách xã hội" [2]; Lơng Văn Khoan:
"Nâng cao hiệu quả nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ
Chí Minh trong quá trình đổi mới" [10]. Ngoài gia còn nhiều đề tài khác đề cập
đến phép biện chứng duy vật trên các nội dung và khía cạnh khác nhau. Song
cho đến nay cha có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp, một cách hệ thống về việc
"vận dụng phơng pháp luận khoa học của phép biện chứng duy vật trong nhận
thức sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay Vì vậy tôi đã chọn làm đề tài luận
văn tốt nghiệp của mình .
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Làm rõ giá trị ý nghĩa khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy
vật, phơng pháp luận khoa học từ đó vận dụng nâng cao nhận thức trong sự
nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Luận giải bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy vật
4
phân tích phép biện chứng duy vật với t cách là một khoa học vào trong nhận
thức sự nghiệp đổi mới ở nớc ta.
Đề xuất một số giải pháp vận dụng phép biện chứng duy vật vào nhận
thức sự nghiệp đổi mới ở nớc ta hiện nay.
triển không ngừng. Trong tác phẩm chống Đuy rinh Ph.Ăngghen đã chỉ ra:
phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến" và "Phép biện chứng là
môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự
nhiên, xã hội loài ngời và của t duy.
Nh vậy, phép biện chứng duy vật là một khoa học, đối tợng nghiên cứu
của nó là những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của thế giới
cả tự nhiên, xã hội và t duy. Theo quan điểm C.Mác và Ph. Ăngghen phép biện
chứng duy vật lấy hiện thực khách quan, thế giới vật chất làm cơ sở cho học
thuyết biện chứng của mình. Với quan điểm thực tiễn đúng đắn dựa vào sự phát
triển của khoa học tự nhiên các Ông đã chứng minh rằng mọi sự vật hiện tợng
của thế giới đều có sự liên hệ, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau và thông qua
sự tác động, đấu tranh với nhau giải quyết mâu thuẫn nội tại để tạo nên sự phát
triển không ngừng.
Cũng nh C. Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đánh giá cao phép biện chứng
duy tâm của Hê ghen trong triết học cổ điển Đức nghiên cứu phép biện chứng
của Hê ghen với t cách là tiền đề trực tiếp của phép biện chứng duy vật
V.I.Lênin đã nêu lên những nguyên lý hết sức phong phú về phép biện chứng
duy vật; Ông đã làm sáng tỏ Bản chất, những quy luật, những phạm trù của nó
6
và vạch ra những mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau của các quy luật phạm trù đó.
Lênin là ngời đầu tiên khái quát phép biện chứng thành 16 yếu tố. Trong đó các
quy luật và phạm trù gắn bó hữu cơ với nhau. Đồng thời chỉ ra phép biện chứng
là một chỉnh thể không thể tách rời bởi những nguyên lý, quy luật và phạm trù.
Trong chỉnh thể đó Lênin đã tìm ra "hạt nhân" của nó chính là quy luật về sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Phép biện chứng duy vật với t cách là phơng pháp luận chung nhất của
nhận thức khoa học và thực tiễn. Nó là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy
vật với phơng pháp biện chứng. Thật vật, mỗi nguyên lý của phép biện chứng
duy vật đều đợc xây dựng trên lập trờng duy vật, thừa nhận vật chất là cái có tr-
ớc sản sinh ra ý thức và quy định ý thức. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách
vận động và biến đổi của thế giới vật chất cũng giống nh sự chuyển động của
một con sông mà đã xây dựng trong "Học thuyết về dòng chảy", khẳng định
"mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều chảy đi". Với t tởng biện chứng đó, Hêraclít đã
xây dựng đợc một số phạm trù của phép biện chứng nh phạm trù lôgôs (bao
gồm lôgôs chủ quan và lôgôs khách quan) để luận bàn về những quy luật khách
quan của thế giới vật chất và coi đó là nội dung cơ bản của phép biện chứng.
Sau Hêraclít, phép biện chứng cổ đại tiếp tục đợc phát triển, hoàn thiện
với nhiều nội dung phong phú với các đại diện tiêu biểu Xôrcrát, Platôn và
Arixtốt. ở Xôrcrát, phép biện chứng đợc coi nh là "một nghệ thuật phát hiện ra
chân lý bằng cách tranh luận những ý kiến trái ngợc nhau'. T tởng này đã đợc
phát triển hơn trong học thuyết biện chứng của Platôn khi ông cho rằng, "phép
biện chứng là nghệ thuật tìm ra các khái niệm đúng dới hình thức hỏi - đáp".
Arixtốt đã đa ra nhiều t tởng về phạm trù, quy luật và đã xây dựng các hình thức
cơ bản của t duy biện chứng. Ph. Ăngghen khẳng định "những nhà triết học cổ
Hy Lạp đều là những nhà biện chứng bẩm sinh, tự phát. Và Arixtốt - Hêghen
thời cổ đại - đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của t duy biện chứng
8
[14, tr. 34].
Nhìn chung, các nhà biện chứng cổ đại đã cố gắng vẽ lên một bức tranh
chung và chân thực về thế giới vật chất; mô tả thế giới vật chất trong trạng thái
liên hệ, vận động và phát triển không ngừng; đã khẳng định sự vận động phát
triển đó là do những nguyên nhân bên trong của các sự vật, hiện tợng. Tuy chỉ
là những phác thảo ban đầu; nhng các nhà biện chứng cổ đại đã nêu lên đợc
những nội dung cơ bản và những t tởng chủ yếu của phép biện chứng. Đó là
những t tởng về liên hệ, vận động, chuyển hoá; t tởng về các mặt đối lập và ở
một chừng mực nhất định đã khẳng định sự phát triển của thế giới vật chất tuân
theo những quy luật khách quan. Những t tởng biện chứng đó ty còn sơ khai nh-
ng đã phản ánh tơng đối đúng bản chất sự tồn tại của thế giới khách quan.
Đặc trng cơ bản của phép biện chứng trong giai đoạn này là tính tự phát
ngây thơ. Là tự phát, vì các nhà triết học thời cổ đại nghiên cứu sự vận động,
kỷ XIX trong triết học cổ điển Đức, ngời khởi đầu là I.Cantơ (1724- 1804), qua
Phictơ 1726 - 1814), Sêlinh (1775 - 1854) và phát triển đến đỉnh cao trong triết học
Ph. Hê ghen (1770 - 1831). Ph. Ăng ghen khẳng định đây là "Hình thức thứ hai
của phép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất với các nhà khoa học tự nhiên
Đức, là triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hê ghen". [14, tr 492].
Các nhà triết học cổ điển Đức đã khôi phục lại và đa phép biện chứng
tiến xa so với phép biện chứng Hy Lạp cổ đại, tạo nên bớc nhảy vọt về chất
trong lịch sử phép biện chứng. Các nhà kinh điển của triết học cổ điển Đức đã
có ý thức xây dựng và áp dụng phép biện chứng vào nghiên cứu các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Qua đó, họ đã xây dựng đợc hệ thống phạm trù,
quy luật chung nhất của nhận thức tinh thần, và trên một ý nghĩa nào đó, là của
cả hiện thực vật chất.
Với sự ra đời của nền triết học cổ điển Đức, lần đầu tiên phép biện chứng đã
đợc thể hiện với t cách là lôgíc biện chứng, khắc phục một số hạn chế của lôgíc hình
10
thức. V.I.Lênin cho rằng, phép biện chứng cổ điển Đức đã tạo ra bớc qua độ chuyển
biến từ thế giới quan và lập trờng từ chủ nghĩa duy vật siêu hình sang thế giới quan
khoa học duy vật biện chứng mà C.Mác và Ph. Ăng ghen là đại diện. Cũng chính
nhờ có hệ thống phạm trù, quy luật đó mà C.Mác và Ph.Ăng ghen đã cải tạo và phát
triển thành những phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật.
Với cách nhìn biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức đã coi toàn bộ
giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần nh là một quá trình luôn luôn vận động, phát
triển và chuyển hoá lẫn nhau, không có cái gì là nhất thành bất biến, là tuyệt đối
cả. Các học thuyết biện chứng đó đều cố gắng tìm ra mối liên hệ nọi tại của sự
vận động, phát triển của bản chất các sự vật, hiện tợng, chỉ ra nguồn gốc của sự
vận động, phát triển là do quá trình giải quyết các mâu thuẫn bên trong của bản
thân sự vật, hiện tợng, trong đó, phát triển nằm ngay trong những biến đổi về chất
trong đó cái mới thay thế cái cũ, cái nọ chuyển hoá thành cái kia, cái phổ biến
thành cái cá biệt và cái cá biệt thành cái phổ biến.
Trong hệ thống triết học của Hêghen, phép biện chứng duy tâm khách quan
chuyển hoá từ các trừu tợng đến cái cụ thể, của hiện tợng từ trạng thái chất này
sang trạng thái chất khác đợc thực hiện nhờ sự phát hiện và giải quyết mâu
thuẫn. Phát triển đợc coi là tự phát triển của "ý niệm tuyệt đối", diễu hành tịnh
tiến, từ tồn tại đến bản chất, từ bản chất đến khái niệm, trong đó khái niệm vừa
là chủ thể, vừa là khách thể, đồng thời là "ý niệm tuyệt đối".
Đó là biện chứng của "ý niệm tuyệt đối", của tinh thần phi vật chất, chứ
không phải là biện chứng của hiện thực khách quan. Xét về bản chất, đó là biện
cứng của khái niệm, của t duy thuần tuý, phản ánh một lực lợng thần bí ở đâu
đó bên ngoài thế giới vật chất. Toàn bộ những nguyên lý, quy luật và phạm trù
mà các nhà biện chứng cổ điển Đức đa ra, không xuất phát từ sự vận động, phát
triển nội tại của thế giới vật chất, không xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội,
mà chỉ đợc luận giải trong các thuận ngữ lôgíc, do đó, những t tởng liên hệ, vận
12
động và chuyển hoá mà các nhà triết học cổ điển Đức đa ra thì là những khái
niệm trừu tợng, trống rỗng và suy cho cùng thi họ cũng không hiểu thực chất
của những khái niệm, phạm trù của phép biện chứng khách quan. Theo
V.I.Lênin những kết luận của các nhà biện chứng cổ điển Đức chỉ là những
phỏng đoán tài tình về "biện chứng của sự vật trong biện chứng của khái niệm"
[13, 209]. Các nhà triết học cổ điển Đức đã hoàn thành cuộc cách mạng về ph-
ơng pháp, nhng cuộc cách mạng đó lại ở tận trên trời, trong không trung, chứ
không phải là dới trần gian, trong cuộc sống hiện thực của loài ngời, và do vậy,
phép biện chứng của họ cũng "không tránh khỏi tính chất gò ép, giả tạo, h cấu
và bị xuyên tạc" [16, 41].
Theo V.I.Lênin, cống hiến lớn nhất của các nhà triết học cổ điển Đức,
đặc biệt là Ph.Hêghen "đã trở lại phép biện chứng, coi nó nh một phơng pháp
xem xét đối lập với phơng pháp siêu hình thế kỷ XVII, XVIII". Nếu nh phép
biện chứng cổ đại chủ yếu đợc đúc rút từ kinh nghiệm cuộc sống hàng ngày,
còn phép biện chứng trong các thời đại lịch sử tiếp theo về căn bản đã bị phơng
pháp siêu hình thay thế và chỉ đợc phát triển không đều trong một số học thuyết
triết học riêng biệt, thì phép biện chứng cổ điển Đức đã trở thành một hệ thống
có trớc, sản sinh ra ý thức và quy định ý thức cả về nội dung lẫn phơng thức thể
hiện. ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con ngời, là
hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Mỗi luận điểm của phép biện chứng
duy vật không phải đợc rút ra từ khái niệm thuần tuý, từ "ý niệm tuyệt đối" phi
vật chất, cũng không phải là điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu, mà nó là
kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu, mà nó đợc rút ra trong giới tự nhiên và
trong lịch sử xã hội loài ngời. Vì thế nó đã khắc phục đợc những hạn chế của
phép biện chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện
chứng duy tâm khách quan thời cận đại để trở thành một khoa học, mới về chất
so với các t tởng, học thuyết biện chứng trớc đây trong lịch sử. Sự thống nhất
14
giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng đã làm cho phép biện chứng duy
vật không chỉ dừng lại ở phơng pháp giải thích thế giới mà đã trở thành một ph-
ơng pháp cải tạo thế giới, thực sự là công cụ thế giới quan, phơng pháp luận
chung nhất, đúng đắn và khoa học của giai cấp vô sản trong quá trình đấu tranh
cách mạng, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Khác với các t tởng và phép biện chứng trớc đây, sự ra đời của phép biện
chứng duy vật gắn liền với những thành tựu phát triển rực rỡ của khoa học tự
nhiên trong thế kỷ XIX, XX. Đặc biệt ba phát minh khoa học có "tính chất vạch
thời đại" trong giai đoạn này là học thuyết về tế bào của M.Sơoan và T.Slâyđen;
định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lợng của Maye và học thuyết tiến hoá
của Đácuyn đã phản ánh "bản chất đích thực" về thế giới, là cơ sở vững chắc để
các nhà kinh điển triết học Mác khái quá và xây dựng phép biện chứng duy vật
của mình. Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đầu đợc luận
giải trên cơ sở khoa học và đợc chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển của tự nhiên
học trớc đó. Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã hoàn toàn khắc phục đợc
tính chất tự phát của phép biện chứng cổ đại, vợt qua đợc phép biện chứng duy
tâm của triết học cổ điển Đức và đã đầy lùi đợc phơng pháp siêu hình của thế kỷ
XVII, XVIII, đa phép biện chứng từ tự phát đến chỗ tự giác. Đến giai đoạn sau,
khi cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, nhất là
duy vật không phải đợc rút ra từ khái niệm thuần túy, từ "ý niệm tuyệt đối" phi
vật chất, cũng không phải là điểm xuất phát từ quá trình nghiên cứu, mà nó là
kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu, mà nó đợc rút ra trong giới tự nhiên và
trong lịch sử xã hội loài ngời. Vì thế nó đã khắc phục đợc những hạn chế của
phép biện chứng tự phát, ngây thơ thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện
chứng duy tâm khách quan thời cận đại để trở thành một khoa học, mới về chất
so với các t tởng, học thuyết biện chứng trớc đây trong lịch sử. Sự thống nhất
giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng đã làm cho phép biện chứng duy
16
vật không chỉ dừng lại ở phơng pháp giải thích thế giới mà đã trở thành một ph-
ơng pháp cải tạo thế giới, thực sự là công cụ thế giới quan, phơng pháp luận
chung nhất, đúng đắn và khoa học của giai cấp vô sản trong quá trình đấu tranh
cách mạng, cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Khác với các t tởng và phép biện chứng trớc đây, sự ra đời của phép biện
chứng duy vật gắn liền với những thành tựu phát triển rực rỡ của khoa học tự
nhiên trong thế kỷ XIX, XX. Đặc biệt ba phát minh khoa học có "tính chất vạch
thời gian" trong giai đoạn này là học thuyết về tế bào của M.Sơoan và
T.Slâyđen; định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lợng của Maye và học thuyết
tiến hóa của Đácuyn đã phản ánh "bản chất đích thực" về thế giới, là cơ sở vững
chắc để các nhà kinh điển triết học Mác khái quát và xây dựng phép biện chứng
duy vật của mình. Mỗi nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép biện chứng đều
đợc luận giải trên cơ sở khoa học và đợc chuẩn bị bằng toàn bộ sự phát triển của
tự nhiên học trớc đó. Chính vì vậy, phép biện chứng duy vật đã hoàn toàn khắc
phục đợc tínhchất tự phát của phép biện chứng cổ đại, vợt qua mọi phép biện
chứng duy tâm của triết học cổ điển Đức và đã đẩy lùi đợc phơng pháp siêu
hình của thế kỷ XVII, XVIII, đa phép biện chứng từ tự phát đến chỗ tự giác.
Đến giai đoạn sau, khi cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên tiếp tục diễn ra
mạnh mẽ, nhất là trong ngành vật lý học, V.I.Lênin tiếp tục công việc mà C.
Mác và Ph.Ăng ghen đã làm và khái quát về mặt triết học các thành tựu mới của
khoa học tự nhiên để bổ sung, phát triển và hoàn thiện phép biện chứng duy vật.
luật nội tại của thế giới, do đó phép biện chứng duy vật trở thành khoa học nó
giữ vai trò phơng pháp luận cho hoạt động cách mạng cải tạo thế giới của con
ngời cho theo đúng quy luật khách quan của thế giới. Tính khoa học và tính
cách mạng của phép biện chứng duy vật đã đợc các giai cấp, các tầng lớp, các
lực lợng tiến bộ của loài ngời chứng minh bằng thực tiễn cách mạng.
Thứ t, phép biện chứng duy vật luôn gắn bó với sự phát triển của khoa
18
học. Khoa học tự nhiên là một trong những tiền xuất hiện học thuyết cách mạng
của chủ nghĩa Mác nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng. Sự gắn bó
của phép biện chứng duy vật với sự phát triển của khoa học đã làm cho phép
biện chứng luôn đợc làm giàu thêm, đợc mài sắc hơn. Đồng thời phép biện
chứng duy vật ngày càng phát huy vai trò phơng pháp luận phổ biến của nó đối
với sự phát triển khoa học. Ngày nay, những thành tựu mới của khoa học hiện
đang làm thế giới thay đổi từng ngày, từng giờ, điều đó đặt ra cho những ngời
mác - xít phải thờng xuyên phát triển làm giàu hơn phép biện chứng duy vật
bằng những thành tựu khoa học hiện nay.
Thứ năm, phép biện chứng duy vật luôn đơc bổ sung bằng sự tổng kết
thực tiễn.
Tự nhiên đơc coi nh một chỉnh thể thống nhất, trong đó có các sự vật
hiện tợng phụ thuộc lẫn nhau, chế ớc lẫn nhau, tất cả đều liên hệ và tác động lẫn
nhau. Nội dung thế giới quan này đặt ra yêu cầu, muốn hiểu đợc bản chất của sự
vật, hiện tợng thì trong nhận thức cũng nh trong hoạt động thực tiễn phải quán
triệt quan điểm "toàn diệnphải xem xét tất cả các yếu tố , các khâu trung gian
gián tiếp, các quá trình và tất cả các mối quan hệ đều diễn ra trên cơ sở thực
tiễn, trong lịch sử cụ thể của vấn đề.
Tự nhiên ở trong trạng thái vận động không ngừng phát triển cái mới,
trong đó luôn luôn có những sự vật, hiện tợng đang đợc phát triển thì đồng thời,
lại có những sự vật, hiện tợng khác phát triển tất cả đều vận động và biến hoá.
Vì vậy nguyên lý thế giới quan yêu cầu về mặt phơng pháp luận là, muốn nắm
bắt đúng sự vận động, biến đổi và phát triển của sự vật hiện tợng, thay đổi vận
tạo hiện thực, đòi hỏi phải đợc vận dụng một cách sáng tạo trong những hoàn
cảnh lịch sử cụ thể. Ph.Ăngghen coi phơng pháp của t duy biện chứng nh nghệ
thuật vận dụng các khái niệm mà thực chất của nghệ thuật đó là phân tích cụ thể
mỗi tình hình cụ thể.
20
Nắm vững những nguyên tắc phơng pháp luận của phép biện chứng duy
vật không chỉ là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà
còn là một điều kiện kiên quyết cho sự sáng tạo của chính đảng cách mạng.
Các nguyên lý, các quy luật, các cặp phạm trù của phép biện chứng duy
vật đem lại cho con ngời giá trị định hớng trong nhận thức và cải tạo hiện thực.
Giá trị đợc thể hiện ở các khía cạnh khác nhau.
Nhờ có phép biện chứng duy vật, khi tiến hành nghiên cứu và hoạt động
thực tiễn, con ngời có thể dự đoán đợc những hình thái và xu hớng vận động cơ
bản của đối tợng, có thể xác định đợc những nét khái quát, những mốc, những
bớc ngoặt cơ bản mà hoạt động nhận thức cũng nh hoạt động thực tiễn phải trải
qua.
Phép biện chứng duy vật giúp con ngời trong khi tiến hành hoạt động nhận
thức và cải tạo hiện thực tránh đợc tình trạng mò mẫm, lầm lạc không có lý luận.
Phơng pháp luận dẫn đờng, giá trị định hớng của phép biện chứng duy vật còn đợc
thể hiện ở việc lựa chọn các hình thức, phơng thức tiến hành, đồng thời có khả
năng đa ra những dự kiến, những tình huống cũng nh các phơng pháp tơng ứng
cho việc giải quyết các vấn đề đợc quan tâm.
Phép duy vật biện chứng giúp chúng ta phát triển những vấn đề mới nảy
sinh trong quá trình nghiên cứu và lý giải đợc một cách khoa học những hình t-
ợng mới trong thực tiễn cuộc sống. Bởi vì, thế giới là vô cùng, vô tận và do đó
càng đi sâu vào nghiên cứu các đối tợng khác nhau của thế giới, càng cần phải
có thế giới quan triết học, khoa học, trong đó phép biện chứng duy vật giữ vị trí
hàng đầu.
Ngày nay hơn bao giờ hết phép biện chứng duy vật vẫn là phơng pháp luận
của việc xây dựng các lý thuyết khoa học và tìm kiếm các thành tựu khoa học
biện chứng duy vật nói riêng thể hiện ở chỗ, phép biện chứng duy vật đã xây
22
dựng nên thế giới khoa học của giai cấp vô sản, đợc thể hiện trong việc soạn
ra chơng trình khoa học cho công cuộc xây dựng xã hội cộng sản; chuyển
chủ nghĩa duy vật vào nhận thức xã hội và lịch sử của nó; là sự thống nhất
sáng tạo giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng, nhờ đó, dẫn tới sự ra
đời hệ thống chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Là thế giới khoa học và phơng pháp luận chung nhất của giai cấp vô
sản, tính khoa học của phép biện chứng duy vật thể hiện ở khả năng khái
quát sáng tạo những hiện tợng mới nảy sinh trong quá trình cải tạo tự nhiên,
cải tạo xã hội, "Ăng ghen nói: học thuyết của chúng tôi (Ăng ghen nói về
mình và về ngời bạn nổi tiếng của mình) không phải là một giáo điều mà là
một kim chỉ nam cho hành động. Luận điểm kinh điển ấy nhấn mạnh một
cách đặc biệt rõ rệt và nổi bật một phơng diện của chủ nghĩa Mác và ngời ta
rất thờng hay quên không nhìn tới. Quên không nhìn tới phơng diện ấy sẽ
làm cho chủ nghĩa Mác trở thành phiến diện, cứng đờ sẽ trút bỏ phần tinh túy
của nó, sẽ phá hủy cơ sở lý luận cơ bản của nó, tức là phá hủy sự liên hệ giữa
chủ nghĩa Mác với những nhiệm vụ thực tiễn của thời đại, những nhiệm vụ có
thể biến đổi ở mỗi bớc ngoặt mới của lich sử và do vậy, chủ nghĩa Mác -
Lênin luôn có khả năng phát triển. Phép biện chứng duy vật đã đem lại cho
chủ nghĩa Mác - Lênin sức sống mãnh liệt đó.
Phép biện chứng duy vật không chỉ khái quát những thành tựu của các
khoa học cụ thể, mà còn kết tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển t t-
ởng triết học của nhân loại, nó trình bày có hệ thống, chặt chẽ tính biện
chứng của thế giới thông qua những nguyên lý, quy luật và phạm trù chung
nhất của tự nhiên xã hội và t duy, rút ra những quan điểm, nguyên tắc xuất
phát để chỉ đạo việc đề ra phơng pháp cho hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn của con ngời.
Bản chất cách mạng là quá trình xóa bỏ cái cũ đã lạc hậu lỗi thời và
xây dựng cái mới, tiến bộ hơn. Do vậy, cách mạng không phải là quá trình
Tóm lại, phép biện chứng duy vật đã khái quát những thành tựu của khoa
học tự nhiên và phát hiện ra nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và phát triển của
sự vật, hiện tợng. Nó khẳng định rằng, mọi sự vật, hiện tợng mọi quá trình diễn
ra trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau,
trong mối liên hệ tác động qua lại và quy định lẫn nhau. Phép biện chứng duy
vật không chỉ có khả năng nghiên cứu cái riêng mà còn có khả năng phát hiện
và chỉ ra cái chung của sự vật, hiện tợng, chỉ ra bản chất của chúng, để từ đó
khám phá ra những quy luật vận động phát triển của chúng.
Phép siêu hình cho rằng sự phát triển chỉ là tăng hay giảm đơn thuần về
số lợng mà thôi, nó không thừa nhận sự phát triển về chất lợng , trái lại phép
biện chứng khẳng định rằng, phát triển là một quá trình từ thấp đến cao, từ cha
hoàn thiện đến hoàn thiện, không diễn ra theo con đờng thẳng tắp mà theo con
đờng xoáy ốc, theo quy luật phủ định của phủ định, quay về chỗ cũ nhng cao
hơn, V.I.Lênin chỉ ra "quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan.
Quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của ''Sự tự vận động có tất , mọi cái
đang tồn tại, chỉ có cái mới cho ta chìa khoá của những "Bớc nhảy vọt. Giai
đoạn của tính tiệm tiến: của sự chuyển hoá thành mặt đối lập của sự tiêu diệt
cái cũ và "sự nảy sinh cái mới [13,379].
Phép biện chứng duy vật ra đời là bớc nhảy mới về chất trong lĩnh vực
nhận thức, nó khắc phục đợc những hạn chế của những t tởng biện chứng thời cổ
đại, đẩy lùi phơng pháp t duy siêu hình, cải tạo phép biện chứng duy tâm trong
triết học cổ điển Đức và trở thành phơng pháp luận chung nhất của nhận thức khoa
học và cách mạng. Ngày nay khi nền văn minh nhân loại càng vơn tới đỉnh cao thì
phép biện chứng duy vật càng thực sự cần thiết.
Bản chất khoa học của phép biện chứng duy vật thể hiện ở chỗ, phép biện
chứng duy vật đã xây dựng nên thế giới quan khoa học của giai cấp vô sản, đợc
thể hiện trong việc vạch ra chơng trình khoa học cho công cuộc xây dựng xã hội
cộng sản,chuyển chủ nghĩa duy biện chứng vào nhận thức, xã hội vào lịch sử, là
25
sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, tạo ra hệ thống