Lý luận của C.Mác –Ph. Ăngghen về chuyên chính vô sản trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa của nó đối với cách mạng Việt Nam - Pdf 23

Luận văn
Lý luận của C.Mác –Ph. Ăngghen về chuyên
chính vô sản trong tác phẩm "Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản" và ý nghĩa của nó
đối với cách mạng Việt Nam
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cách đây đúng 163 năm, tháng 2 năm 1848, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” –
do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo – ra đời là một sự kiện trọng đại trong lịch sử.
Với việc công bố tác phẩm được thừa nhận là một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tạo
lý luận của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, là “ khúc ca tuyệt tác của chủ nghĩa
Mác”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem lại cho giai cấp vô sản cách mạng toàn thế giới
và chính đảng của nó một Cương lĩnh “ có đầy đủ chi tiết, vừa về mặt lý luận, vừa về
mặt thực tiễn”[1;127]
Với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa đã hoàn
thành về có bản quá trình chuyển biến từ không tưởng thành khoa học.Từ đó, phong
trào cách mạng vô sản có lý luận tiền phong và cương lĩnh cách mạng soi đường,
chuyển từ tự phát sang tự giác. Đúng như C. Mác và Ph. Ăng-ghen khẳng định
trong Tuyên ngôn: "Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều
là tất yếu như nhau"[1;127]
Trải qua bao biến cố và thăng trầm lịch sử, mặc dù các thế lực thù địch, phản
động, chủ nghĩa cơ hội và xét lại luôn cấu kết với nhau tìm mọi cách chống phá, phủ
nhận, nhưng tính đúng đắn và khoa học của các nguyên lý cơ bản trong “Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản” vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Khi bàn về giá tri của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Lê nin viết: “Cuốn sách nhỏ
ấy, có giá trị bằng hàng bộ sách; tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy
toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh”.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản xuất hiện đánh dấu mốc ra đời của chủ nghĩa
cộng sản khoa học. Tuyên ngôn là tiếng chuông thức tỉnh giai cấp vô sản, quần chúng
cần lao bị đọa đầy đau khổ vùng dậy đấu tranh để giành quyền sống, quyền được làm

thiếu sót. Vì vậy, em mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô để bài tiểu luận hoàn
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
3
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
chỉnh hơn. Qua đây, cho em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô trong
khoa đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Bàn về tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói chung được rất nhiều nhà
nghiên cứu đề cập đến, rất nhiều cuốn sách, bài báo, tạp chí,… Chẳng hạn như: GS.
Viện sĩ. Nguyễn Duy Quý: “Những tư tưởng Chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác và
Ăng ghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”- Tạp chí Phát triển nhân lực (số 1-
2008); Tạ Ngọc Tấn: “Từ tư tưởng giải phóng con người trong Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản đến mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” – Tạp chí Cộng
sản số 784(2 – 2008); GS. Nguyến Đức Bình: “Sống mãi tư tưởng vĩ đại của Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” – Tạp chí Lý luận Chính trị (1- 2008); Ths. Trần Thị Kim
Cúc: Góp phần nghiên cứu giá trị và sức sống trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
– Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008…
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận của các nhà kinh điển về vấn đề chuyên
chính vô sản trong tác phẩm. Từ đó, đề tài đi sâu vào phân tích quá trình vận dụng của
cách mạng Việt Nam qua từng giai đoạn của lịch sử.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài xin được trình bày sơ lược về tiểu sử, sự nghiệp của
Mác – Ăngghen và làm rõ vấn đề chuyên chính vô sản trong tác phẩm “Tuyên ngôn
Đảng Cộng sản”. Từ đó chỉ ra nghiên cứu tác phẩm có ý nghĩa gì với cách mạng Việt
Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Lý luận của C.Mác và Ăngghen về chuyên chính vô sản
trong tác phẩm “Tuyên ngôn Đảng cộng sản” và ý nghĩa của nó đối với cách mạng
Việt Nam hiện nay.
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1

Các Mác sinh ngày mồng 5 tháng 5 năm 1818 ở Tơ-ri-vơ thuộc nước Phổ. Cha
của Mác là luật sư. Sau khi tốt nghiệp trung học, Mác vào học đại học tổng hợp ở
Bon, rồi sau đó học ở trường đại học tổng hợp Béc-lanh. Mác học luật, lịch sử và triết
học. Tháng 10 năm 1842, Mác trở thành chủ bút của Báo Rê-na-ri của giai cấp tư sản
cấp tiến ở Đức hồi ấy. Trong các bài báo, Mác đã phê phán các chính phủ đương thời
ở Đức, Anh, Pháp và bênh vực quyền lợi của nông dân, phát biểu những tư tưởng triết
học của mình.Thời kỳ này, Mác đang chuyển từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa
duy vật, từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường cộng sản.
Tháng 6-1843, Mác kết hôn với Gienni Phôn Vextơphalen, người bạn gái hồi nhỏ
của mình. Tháng 10-1843, Mác đến ở Pa-ri, thủ đô nước Pháp, tiếp tục viết báo.
Tháng 9-1844, Mác gặp Ăng-ghen ở Pa-ri. Tình bạn vĩ đại và cuộc đấu tranh chung
của hai người cho sự nghiệp của giai cấp công nhân bắt đầu từ đấy. Mác và Ăng-ghen
tích cực tham gia sinh hoạt với các nhóm cách mạng ở Pa-ri, hai ông đấu tranh quyết
liệt chống mọi thứ học thuyết của chủ nghĩa xã hội tư sản và tiểu tư sản và đã sáng lập
ra lý luận và sách lược của chủ nghĩa xã hội vô sản cách mạng, hay là chủ nghĩa cộng
sản. Năm 1845, Mác bị trục xuất khỏi Pa-ri vì bị coi là một nhà cách mạng nguy
hiểm. Mác sang ở Bruy-xen, thủ đô nước Bỉ.
Mùa xuân 1847, Mác và Ăng-ghen gia nhập Liên minh những người cộng sản.
Đó là tổ chức đầu tiên mang tính chất quốc tế của phong trào công nhân, gồm nhiều
nhà lãnh đạo của các hội công nhân ở Đức, Anh, Pháp, Bỉ, Hung-ga-ri, Ba-lan, v.v…
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
6
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
Theo yêu cầu của Đại hội lần thứ hai của Liên minh họp tháng 11-1847 ở Luân-
đôn, thủ đô nước Anh, Mác và Ăng-ghen thảo bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,
xuất bản tháng 2 năm 1848. Tuyên ngôn của Đảng cộng sản là văn kiện đầu tiên có
tính chất cương lĩnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Năm 1848, Mác bị trục xuất khỏi nước Bỉ và về ở Pa-ri, rồi về ở Đức, xuất bản tờ
Báo Rê-na-ni mới. Bị truy tố trước tòa án, Mác lại bị trục xuất và sang ở Pa-ri. Tháng
6-1849, Mác lại bị trục xuất khỏi Pa-ri và sang ở Luân-đôn cho đến khi mất. Ở Luân-

Và khi đọc điếu văn trước mộ Mác, Ăng-ghen nói: "Con người ấy mất đi, thật không
sao có thể lường cho hết tổn thất đối với giai cấp vô sản chiến đấu của châu Âu và
châu Mỹ, tổn thất đối với khoa học lịch sử. Không bao lâu, chúng ta sẽ cảm thấy nỗi
trống trải sau cái chết của bậc vĩ nhân ấy".
Ca ngợi tình bạn vĩ đại, mối quan hệ khăng khít, bền lâu giữa Mác với Ăng-ghen,
Lê-nin viết: "Chuyện cổ kể lại những tấm gương rất cảm động về tình bạn. Nhưng
giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của mình đã do hai nhà bác học và
chiến sĩ ấy sáng tạo ra, những quan hệ cá nhân giữa hai người đã vượt tất cả những
chuyện cổ cảm động nhất của người xưa nói về tình bạn" (Mác - Ăng-ghen, chủ nghĩa
Mác). Từ lúc còn trẻ, hai người đã có sự thống nhất chặt chẽ về tư tưởng và tình cảm,
thường cùng làm việc với nhau mỗi khi ở gần nhau. Sau khi cuộc cách mạng 1848 ở
Đức bị thất bại, Ăng-ghen phải đến làm việc ở Mansextơ, một thành phố công nghiệp
của Anh lấy tiền giúp đỡ gia đình Mác. Còn Mác thì ở Luân-đôn. Trong ngót hai
mươi năm trời xa nhau, mỗi ngày hai người đều viết cho nhau những ý nghĩ của mình
về những sự biến chính trị và khoa học đương thời, cùng nhau trao đổi công việc. Mác
rất tự hào về Ăng-ghen, về đạo đức và tài trí của Ăng-ghen.
Một mối tình sâu sắc đã gắn bó Mác với Gienni. Hai người biết nhau từ lúc còn
nhỏ, cùng lớn lên bên nhau. Lúc đính hôn, Mác mới 17 tuổi. Sau bảy năm đợi chờ, hai
người lấy nhau và từ đấy không bao giờ rời nhau trong cuộc đời xông pha bão táp,
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
8
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
trong những năm tháng lưu vong, nghèo túng. Đức dịu hiền và lòng trung thành của
Gienni đã an ủi cuộc đời sóng gió của Mác. Bà rất yêu mến phong trào công nhân.
Cho đến lúc chết, bà vẫn tin theo chủ nghĩa cộng sản.
Mác là một người cha hiền từ, dịu dàng và rộng lượng. Các con rất yêu quý
Mác. Mác có ba người con gái và hai con trai. Cái chết non của con gái đầu lòng và
hai con trai làm cho Mác đau buồn ghê gớm và mất sức đi nhiều.
Mộ của Mác, cũng là mộ gia đình Mác, ở trên một ngọn đồi phía bắc thành phố
Luân-đôn. Mác vĩnh viễn yên nghỉ ở đấy. Mác đã cống hiến cả đời mình cho sự

Tháng 6/1838 Ph. Ăngghen đến làm việc văn phòng thương mại ở thành phố
cảng Barmen. Cuối năm 1839 ông bắt đầu nghiên cứu các tác phẩm của Hê – ghen.
Tháng 9/1841 P. Ăngghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh ở đây ông
được huấn luyện quân sự, mà trong những năm sau ông rất cần đến nó, nhưng ông
vẫn lui tới trường Đại học Tổng hợp Becrlin nghe các bài giảng triết học, tham gia hội
thảo về tôn giáo. Mùa xuân 1842 Ph.Ăngghen bắt đầu cộng tác với tờ Rheinishe
Zuiting(Nhật báo tỉnh Ranh). Trong những bài báo in 1842, trên tờ báo Ph.Ăngghen
đã lên tiếng phản kháng chế độ kiểm duyệt của Chính phủ Vương quốc Phổ, trật tự
phong kiến ở Đức. Ngày 8/10/1842 ông đã mãn hạn phục vụ trong quân đội. Từ
Becrlin ông trở về Barmen, một tháng sau, ông đã sang Anh thực tập buôn bán. Trên
đường sang Anh, Ph.Ăngghen đã thăm trụ sở tờ báo Rheinishe Zuiting ở Kioln và ông
đã gặp C. Mác, tổng biên tập tờ báo. Ông đã ở lại Anh 2 năm. Tháng 2 năm 1845
cuốn sách “Gia đình và thần thánh” của C. Mác và Ph. Ăngghen ra đời đã phê phán
mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và phương pháp của nó. Hai ông cùng hợp sức viết công
trình nổi tiếng “Hệ tư tưởng Đức” (1845 – 1846), tiếp đó năm 1848 Đại hội II Liên
đoàn những người Cộng sản đã ủy nhiệm C. Mác và Ph. Ăngghen cùng viết “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản”.
Trong thời gian sống ở Pari, Ph. Ăngghen quan tâm nhiều đến hoạt động của
BCH Trung ương Liên đoàn những người Cộng sản và trở thành Ủy viên của Ban
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
10
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
lãnh đạo, là một trong những người lãnh đạo câu lạc bộ công nhân Đức (3/1848) do
BCH Trung ương LĐ những người Cộng sản lập ra.
Tháng 4/1848, ông cùng với C. Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức.
Tháng 10/1848 ông đã đi Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng không
được phép cứ trú chính trị, ông đã đến Pari sau đó sang Thụy Sĩ tham gia Đại hội các
Liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Ủy ban Trung ương của tổ chức này.
Tháng 1/1849, ông trở vể Đức và tiếp tục hoạt động cách mạng. Khi cuộc đấu tranh
bùng nổ ở Tây và Nam nước Đức (5/1849), Ph. Ăngghen đã vạch ra một kế hoạch

chủ nghĩa ở nhiều nước đã trở thành quan hệ sản xuất thống trị, làm cho mâu thuẫn nội tại
trong phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa tăng lên không ngừng.
C.Mác là người sớm tìm đến với chủ nghĩa duy vật, từ khi đến Pháp năm 1843 trở đi,
ở C.Mác đã hình thành những quan điểm có tính hệ thống về chủ nghĩa xã hội khoa học.
Ông đã sống và tắm mình trong phong trào công nhân những năm 30 và 40 của thế kỉ
XIX. Bắt đầu từ giữa thế kỉ XIX trở đi, chủ nghĩa tư bản châu Âu đã có những bước tiến
đáng kể sau khi tiến công dinh lũy của chế độ phong kiến. Xã hội tư bản lúc ấy là xã hội tư
bản đang lên ở nước Anh, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành cơ bản. Tiếp đó là ở
Pháp và một số nước khác, cuộc cách mạng công nghiệp đã tác động mạnh mẽ đến tốc độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ sở kinh tế - xã hội đó làm nảy sinh một cách rõ rệt
nhất hai giai cấp đối kháng: tư sản và vô sản.
Dù là một xã hội đang lên và giai cấp tư sản có vai trò to lớn trong việc xóa bỏ
chế độ phong kiến, nhưng trong lòng xã hội đó đã chứa chất những mâu thuẫn lớn
giữa hai giai cấp nói trên. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đã nổ ra ngay
từ khi mới ra đời và dâng cao vào những năm 30 - 40 của thế kỉ XIX, tiêu biểu là
những cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyông (Pháp) năm 1837, cuộc
nổi dậy của công nhân dệt Xilêdi (Đức) năm 1844, phong trào Hiến chương ở Anh
kéo dài 10 năm (1838-1848). Tư tưởng của nhà dân chủ cách mạng C.Mác có điều
kiện thuận lợi khi gặp được “cốt vật chất” của phong trào công nhân. Bản thân C.Mác
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
12
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
lại được sinh ra và lớn lên ở Đức, khi đó là một quốc gia sôi động cách mạng với
những bộ óc kiệt xuất của những nhà triết học. Tổ chức phong trào công nhân Đức là
Liên đoàn bí mật những người dân chủ và cộng hòa được thành lập năm 1834, sau đó
một số người bị trục xuất sang Pari đã lập ra Liên đoàn những người chính nghĩa năm
1836.
Ngay khi đến Pháp năm 1843, Mác đã hoạt động trong lĩnh vực tư tưởng và dần trở
thành nhà cách mạng thật sự khi chủ trương “phê phán chế độ tư bản bằng vũ khí” và phát
hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản.

Liên đoàn dưới dạng một bản tuyên ngôn và coi đó như một tuyên ngôn chung của
Liên đoàn.
Những đại hội cải tổ Liên đoàn đã diễn ra theo tinh thần cách mạng của C.Mác
và Ph.Ăngghen. Đại hội lần thứ nhất diễn ra vào mùa hè năm 1847. Cuối tháng 11 đầu
tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai đã diễn ra, Đại hội thảo luận và thông qua
Điều lệ gồm 10 chương, 50 điều. C.Mác và Ph.Ăngghen được đại hội giao cho nhiệm
vụ soạn thảo tuyên ngôn - một văn kiện cương lĩnh. Hai ông đã hoàn thành nhiệm vụ
được giao trong hơn một tháng, gửi đi Luân Đôn để in trước mấy tuần diễn ra cuộc
cách mạng Tháng Hai năm 1848.
Như vậy, xuất phát từ nhu cầu của lịch sử, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã ra
đời, đây là kết quả trí tuệ của C.Mác và Ph.Ăngghen với phong trào công nhân quốc
tế những năm 30 và 40 của thế kỉ XIX; là cái mốc mở ra thời kì mới của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế và vẫn còn giá trị lý luận - thực tiễn rất lớn đối với
hôm nay và mai sau.
1.1.3 Những tư tưởng cơ bản của tác phẩm.“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Một là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định hai nguyên lý của chủ
nghĩa Mác: Phương thức sản xuất và trao đổi kinh tế cùng với cơ cấu xã hội của
phương thức đó quyết định sự sự hợp thành nền tảng của xã hội; Lịch sử phát triển
của xã hội có giai cấp là lịch sử của đấu tranh giai cấp.
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
14
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
Hai là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng định giai cấp vô sản chỉ có thể
tự giải phóng khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, nếu đồng thời và vĩnh viễn giải phóng
toàn bộ xã hội khỏi tình trạng bị áp bức bóc lột, phân chia giai cấp và đấu tranh giai
cấp.
Ba là, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” công khai trình bày trước toàn bộ thế
giới về chiến lược, sách lược của Đảng Cộng sản và đập tan những hư truyền về
“bóng ma cộng sản” mà các thế lực chính trị phản động đang loan truyền ở châu Âu
lúc bấy giờ.

xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1872, C.Mác và Ph.Ăngghen
viết: “Mặc đầu hoàn cảnh đã thay đổi nhiều trong mười lăm năm qua, nhưng cho đến
nay, xét về đại thể, những nguyên lý tổng quát trình bày trong Tuyên ngôn này vẫn
còn hoàn toàn đúng. Ở đôi chỗ, có một vài chi tiết cần phải xem lại. Chính ngay
Tuyên ngôn cũng đã giải thích rõ rằng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng
những nguyên lý đó cũng phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy,
không nên quá câu nệ những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II Và cũng
hiển nhiên là những nhận định về thái độ của người cộng sản đối với các đảng đối lập
(chương IV) nếu cho đến nay vẫn còn đúng trên những nét cơ bản thì trong chi tiết,
những nhận định ấy đã cũ rồi, vì tình hình chính trị đã hoàn toàn thay đổi và sự tiến
triển lịch sử đã làm tiêu tan phần lớn những đảng được kể ra trong đó.”[3;8,9]
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Nga xuất bản năm 1882 C.Mác và Ph.Ăngghen
đã chỉ ra, nếu Tuyên ngôn được xuất bản bằng tiếng Nga vào đầu những năm 60 giỏi
lắm chỉ là một của lạ về văn chương mà thôi, thì tình hình ngày nay không còn như
thế nữa. Bởi lẽ, “Trong cuộc cách mạng 1848-1849, bọn vua chúa ở châu Âu cũng hệt
như giai cấp tư sản châu Âu, đều coi sự can thiệp của nước Nga là phương tiện duy
nhất để cứu thoát chúng thoát khỏi tay giai cấp vô sản vừa mới bắt đầu giác ngộ về
lực lượng của mình. Chúng tôn Nga Hoàng làm trùm phe phản động châu Âu. Hiện
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
16
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
nay Nga Hoàng, ở Ga-tsi-na, đã là tù binh của cách mạng, và nước Nga đang đi tiên
phong trong phong trào cách mạng châu Âu”[3;11,12]. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản” ngày nay ở Nga có nhiệm vụ tuyên bố diệt vong không tránh khỏi và sắp xảy ra
của chế độ sở hữu tư sản.
Sau khi phân tích những thay đổi cơ bản của xã hội Nga, C.Mác và Ph.Ăngghen
tiên đoán tài tình rằng “nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản ở
phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ ruộng đất
công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một sự tiến triển cộng sản chủ

phần lớn các nước Tây Âu đã liên hợp lại để lập ra Hiệp hội lao động quốc tế, một hội
mà tên tuổi vẻ vang được ghi nhớ mãi mãi. Thật ra bản thân Quốc tế chỉ sống có Chín
năm. Nhưng sự đoàn kết bất diệt do Quốc tế đã xây dựng được giữa những người vô
sản tất cả các nước vẫn tồn tại và càng mạnh hơn bao giờ hết. Bởi vì ngày hôm nay,
khi tôi viết những dòng này, giai cấp vô sản châu Âu và châu Mỹ đang điểm lại lực
lượng chiến đấu của mình, lực lượng lần đầu tiên được huy động thành một đạo quân
duy nhất, dưới cùng một ngọn cờ và nhằm cùng một mục đích trước mắt là đòi pháp
luật quy định ngày làm việc bình thường là tám giờ, yêu sách đã được tuyên bố từ
1866 tại Đại hội của Quốc tế ở Giơ-ne-vơ và sau này lại được tuyên bố lần nữa tại Đại
hội công nhân ở Pa ri năm 1889. Cảnh tượng ngày hôm nay sẽ chỉ cho bọn tư bản và
bọn địa chủ tất cả các nước thấy rằng những người vô sản tất cả các nước đã thật sự
đoàn kết với nhau.”[3;31,32]
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ba Lan xuất bản năm 1892, Ph.Ăngghen chỉ ra
ảnh hưởng to lớn và rộng rãi của Tuyên ngôn trong công nhân châu Âu và sự in mới
của Tuyên ngôn bằng tiếng Ba lan là bằng chứng chứng tỏ yêu cầu ngày càng tăng sự
phổ biến về Tuyên ngôn trong công nhân công nghiệp Ba lan. Ph.Ăngghen cũng chỉ
rõ: “Chỉ có thể có được sự hợp tác quốc tế thành thực giữa các dân tộc châu Âu khi
nào mỗi dân tộc đó là người chủ tuyệt đối trong nhà mình Chỉ có giai cấp vô sản Ba
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
18
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
Lan trẻ tuổi mới có thể giành được nền độc lập đó, và nắm trong tay họ, nền độc lập
đó sẽ được bảo vệ chắc chắn.”[3;34,35]
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Ý xuất bản năm 1893, Ph.Ăngghen viết: “nếu
cách mạng 1848 không phải là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì ít ra nó cũng
dọn đường, chuẩn bị địa bàn cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chế độ tư sản đã làm
cho đại công nghiệp phát triển ở tất cả các nước thì đồng thời cũng tạo ra ở khắp nơi,
trong bốn mươi lăm năm gần đây, một giai cấp vô sản đông đảo, đoàn kết chặt chẽ và
mạnh; do đó nó đã sinh ra, như Tuyên ngôn đã nói, những người đào huyệt chôn nó
Tuyên ngôn hoàn toàn thừa nhận vai trò cách mạng mà chủ nghĩa tư bản đã đóng

nền chuyên chính tư sản thực hiện những tiến bộ xã hội. “Chưa đầy một thế kỷ, giai
cấp tư sản thống trị đã tạo ra được một lực lượng sản xuất nhiều và đồ sộ hơn lực
lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”. Đại diện cho lực lượng sản
xuất mới, giai cấp tư sản đã đập tan xiềng xích của chế độ phong kiến, thay vào đó là
chế độ tự do cạnh tranh thích hợp với sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản. Là
một giai cấp tư hữu bóc lột, nên vai trò của giai cấp tư sản bị hạn chế ngay từ đầu, đấu
tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản nổ ra ngay từ khi chủ nghĩa tư bản mới ra
đời. Giai cấp tư sản không những đã rèn vũ khí để giết mình, mà còn tạo ra những
người sử dụng vũ khí ấy để đánh đổ chính bản thân giai cấp tư sản: “Những vũ khí mà
giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào
chính ngay giai cấp tư sản. Nhưng giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí
sẽ giết mình; nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện
đại, những người vô sản”[3;54].
Giai cấp vô sản hiên đại là người có sứ mệnh đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản
và và sáng tạo ra một xã hội mới tốt đẹp hơn. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô
sản do vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản trong lịch sử quy định. Giai cấp vô
sản hoàn toàn có khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử thế giới của mình, do họ là giai
cấp tiên tiến gắn liền với nền đại công nghiệp, lớn lên cùng nền đại công nghiệp; là
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
20
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại biểu cho xu hướng tiến lên của đại công
nghiêp. Họ là giai cấp thực sự cách mạng, dưới chủ nghĩa tư bản những người vô sản
bị tước hết mọi tư liệu sản xuất nên họ chẳng có gì là của riêng mình để bảo vệ cả.
Muốn giải phóng, họ phải phá huỷ hết thảy những gì từ trước đến nay vẫn bảo đảm và
bảo vệ chế độ tư hữu.
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, trước hết là phải thanh toán xong
giai cấp tư sản trong nước mình, đánh đổ toàn bộ sự thống trị của giai cấp tư sản cả về
kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân, sau
đó tiến lên hoàn thành sự nghiệp giải phóng thế giới khỏi ách áp bức bóc lột giai cấp.

Về sở hữu: hai ông cho rằng, tư bản vận động được là nhờ sự hoạt động chung
của xã hội. Do đó việc biến tư bản thành sở hữu chung chỉ có nghĩa là thay đổi tính
chất giai cấp của nó - giải phóng lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá cao. Hai
ông tuyên bố xoá bỏ mọi chế độ tư hữu và thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất.
Về vấn đề tự do cá nhân, hai ông tuyên bố phải xoá bỏ cá tính tư sản, tính độc lập
tư sản và tự do tư sản, thứ tự do buôn bán và bóc lột sức lao động của người khác.
Về vấn đề gia đình, hai ông khẳng định những người cộng sản chủ trương xoá bỏ
gia đình tư sản, bởi lẽ quan hệ gia đình tư sản dựa trên tư bản, lợi nhuận cá nhân nhà
tư sản, người phụ nữ bị coi như là một công cụ sản xuất, cha mẹ bóc lột con cái, cộng
thê, mãi dâm chính thức và không chính thức. Chưa thỏa mãn với việc phá hoại hạnh
phúc của những người vô sản, họ còn lấy việc cắm sừng lẫn nhau làm thú vui đặc biệt.
Về vấn đề giáo dục: Người cộng sản không bịa ra tác động của xã hội đối với
giáo dục, vì nó là cái vốn sẵn có, mà chỉ thay đổi tính chất của sự tác động ấy và kéo
giáo dục ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản mà thôi.
Về vấn đề dân tộc, tổ quốc và quốc tế: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” khẳng
định dưới chủ nghĩa tư bản giai cấp vô sản và nhân dân lao động không có tổ quốc,
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
22
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
bởi mọi quyền đại diện tổ quốc, dân tộc và tất cả các lợi ích khác đều do giai cấp tư
sản nắm giữ. Chính thế, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự mình thành giai
cấp dân tộc, phải tự mình thành dân tộc nhưng không phải theo kiểu như giai cấp tư
sản hiểu. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” cũng khẳng định: “Khi mà sự đối kháng
giữa các giai cấp trong nội bộ dân tộc không còn nữa thì sự thù địch giữa các dân tộc
cũng đồng thời mất theo”. Không có độc lập, thống nhất cho từng dân tộc thì không
thể thực hiện được sự liên hợp quốc tế của giai cấp vô sản.
Về vấn đề tôn giáo, triết học và những quan điểm ý thức tư tưởng nói chung,
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” quan niệm đó là công cụ thống trị về tinh thần của
các giai cấp bóc lột thống trị, dưới chủ nghĩa tư bản nó nói lên thời kỳ thống trị của

ông viết năm 1882 “Nếu cách mạng Nga báo hiệu một cuộc cách mạng vô sản ở
phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ ruộng đất
công cộng ở Nga hiện nay sẽ có thể là khởi điểm của một sự tiến triển cộng sản chủ
nghĩa”.
Về vấn đề chính quyền nhà nước “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” coi nó là vấn
đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, hai ông
chưa dùng đến thuật ngữ chuyên chính vô sản, nhưng tư tưởng về chuyên chính vô
sản đã được diễn đạt một cách rõ ràng qua các thuật ngữ “Giai cấp vô sản nắm chính
quyền”, “giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị”. Sau này, trong thư gửi
Vây-ơ-đờ-mây-e ngày 5/3/1852 C.Mác đã sử dụng khái niệm “chuyên chính vô sản” -
một trong những nguyên lý cơ bản nhất của chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Chương 3: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Trong chương này, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tập trung phân tích, phê
phán những trào lưu xã hội chủ nghĩa phi vô sản nhằm bảo đảm thắng lợi cho việc
truyền bá học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học vào phong trào công nhân. Tinh
thần, thái độ, phương pháp phân tích, phê phán của hai ông đối với các trào lưu văn
học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa phi mac-xít luôn là cơ sở khoa học giúp
Lê Đức Phương Lớp GDCT K29A1
24
Tác phẩm kinh điển Mác - Lênin I
chúng ta phân biệt ranh giới giữa chủ nghĩa cộng sản khoa học với các trào lưu xã hội
chủ nghĩa phản động, phản bội, cải lương, xét lại, không tưởng hiện nay.
Hai ông vạch rõ tính chất phản động kéo lùi lịch sử, chống lại phong trào cộng
sản của các trào lưu xã hội chủ nghĩa phong kiến và tiểu tư sản:
Chủ nghĩa xã hội phong kiến là thứ văn học của bọn quý tộc phong kiến bị gạt
khỏi địa vị thống trị bởi giai cấp tư sản. Bọn này một mặt giơ cái bị ăn mày lên làm cớ
để lôi kéo nhân dân, mặt khác lại “không bỏ qua cơ hội để lượm lấy những quả táo
bằng vàng và đem lòng trung thành, tình yêu và danh dự mà đổi lấy việc buôn bán
len, củ cải đường và rượi mạnh.”[3;83]
Chủ nghĩa xã hội của Cơ đốc giáo là thứ chủ nghĩa xã hội đi sát với chủ nghĩa xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status