Đại học đông dương và những tác động của nó đối với xã hội việt nam thời kỳ 1906 1954 - Pdf 37

1

ĐẠI HỌC ĐÔNG DƢƠNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ 1906-1954

TS. Đào Thị Diến
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Cách đây vừa tròn 10 năm, chúng ta đã có một cuộc hội thảo lớn kỷ niệm 100 năm
ngày Đại học Đông Dương (ĐHĐD) được thành lập (1906-2006). Trong dịp đó, nhiều
bài nghiên cứu đã được công bố nhằm chứng minh sự ra đời và phát triển của ĐHĐD
cùng những thành tựu mà nó đã đạt được về nhiều phương diện. Mặc dù vậy, cho đến nay
vẫn còn có một số ý kiến hoài nghi về mốc ra đời và những tác động của nó đối với xã
hội Việt Nam thời kỳ 1906-1954.
Báo cáo “Đại học Đông Dương và những tác động của nó đối với xã hội Việt Nam
thời kỳ 1906-1954”sẽ dựa trên cơ sở của những phông tài liệu (fonds d’archives) hiện
đang được bảo quản tại hai Trung tâm Lưu trữ quốc gia của Việt Nam và của Pháp1 với
những chứng cứ khoa học nhất và khách quan nhất, nhằm mục đích làm sáng tỏ hai vấn
đề nêu trên, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu có thêm tài liệu về nền giáo dục của Việt
Nam thời kỳ 1906-1954.
Báo cáo gồm 3 phần:
I. Chủ trương, chính sách về văn hóa, giáo dục của chính quyền thuộc địa ở Việt
Nam trước khi có Đại học Đông Dương 1906.
II. Sự ra đời, quá trình phát triển và những thành tựu của Đại học Đông Dương
qua các thời kỳ lịch sử.
III. Những tác động của Đại học Đông Dương đối với xã hội Việt Nam thời kỳ
1906-1954.
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam ở cửa biển Đà Nẵng. Năm
1867, sau khi đánh chiếm được toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh, cùng với việc thiết lập hệ thống
chính quyền cai trị ở Nam Kỳ, thực dân Pháp bắt đầu nhòm ngó ra Bắc Kỳ. Song, cho


xây dựng, tạo điều kiện cho việc hình thành một kết cấu kinh tế thuộc địa hiện đại với sự
hình thành và phát triển của một số thành phố và trung tâm công nghiệp có quy mô tương
đối lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Vinh – Bến Thủy, Nam Định, Quảng Yên…
Riêng đối với Hà Nội, nhằm mục đích xây dựng thành phố này thành “thủ đô của
Bắc Kỳ” và sau này nâng lên thành “thủ đô của Liên bang Đông Dương thuộc Pháp”,
chính quyền thực dân đã đầu tư xây dựng tại Hà Nội hàng loạt trụ sở của các cơ quan đại
diện cho bộ máy chính trị cao cấp, trụ sở của các cơ quan thuộc hệ thống tư pháp, hành
chính và trụ sở của các công sở thuộc các ngành... như công trình Phủ Toàn quyền Đông
Dương (Palais du Gouvernement général de l’Indochine) khởi công xây dựng năm
1900;công trình Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (Résidence supérieure au Tonkin)xây dựng từ
năm 1892;công trình Nha Thương chính Đông Dương (Service des Douanes et Régies à
Hanoï) khởi công xây dựng năm 1893; công trình Tổng Thanh tra Công chính Đông
Dương (Inspection générale des Travaux Publics de l’Indochine) khởi công xây dựng
năm 1896; công trình Sở Kiểm tra Tài chính Đông Dương (Contrôle Financier) khởi
công xây dựng năm 1896…nhằm đề cao sức mạnh của chính quyền thực dân. Ngoài ra,
một số cơ sở sản xuất cũng được xây dựng trong giai đoạn Paul Doumer giữ chức Toàn
quyền Đông Dươngnhư nhà máy điện Bờ Hồ (xây dựng năm 1899), nhà máy tầu điện Hà
2

Joseph Athanase Paul Doumer (sinh ngày 22-3-1857 tại Aurillac, Cantal – mất ngày 7-5-1932 tại Paris), giữ chức
Toàn quyền từ 13-2-1897 đến tháng 10-1902 và Tổng thống Pháp từ 1931 đến 1932.
3
Dự án xây dựng một cây cầu lớn bằng thép bắc qua sông Hồng đã được Toàn quyền Đông Dương chính thức thông
qua ngày 4-6-1897. Cầu khánh thành ngày 28-2-1902, được mang tên người khai sinh ra nó là Paul Doumer, sau
ngày Hà Nội được giải phóng cầu được đổi tên là cầu Long Biên.
[email protected]

Page 2



cổng thành. Những di tích ấy đáng lẽ phải được bảo tồn. Chúng có những đặc trưng quý
giá, chỉ như vậy thôi cũng đáng được chúng ta trân trọng. Đó là những kỷ niệm lịch sử
gắn bó với nơi đây, chúng có thể làm đẹp cho các khu xây dựng mới của Thành
phố...”4,nhưng trong nhiệm kỳ của Paul Doumer, hiếm thấycơ sở xã hội, văn hóa và khoa
học xuất hiện ở thuộc địa.Nền giáo dục ở thuộc địa thực sự chỉ có những thay đổi tích cực
kể từ khi có người kế nhiệm của Paul Doumer – Toàn quyền Paul Beau5 với cuộc cải
cách giáo dục đầu tiên (1906-1916).
4

Paul Doumer: L’Indochine française(souvenir), 1905, p. 123. Dẫntheo André Masson: Hanoï pendant la période
héroïque (1873-1888), Paris, 1929, tr. 85.
5
Jean-Baptiste-Paul Beau (sinh ngày 26-1-1857 tại Bordeaux – mất ngày 14-2-1926 tại Paris), được bổ nhiệm
làm Toàn quyền Đông Dương vào ngày 1-7-1902, chính thức nhậm chức ngày 15-10-1902. Sau khi kết thúc nhiệm
kỳ vào ngày 25-6-1908, Paul Beau trở về Pháp, tiếp tục sự nghiệp ngoại giao và trở thành đại sứ Pháp tại Thụy
Sỹ năm 1911.
[email protected]

Page 3


4

Theo tài liệu của phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Fonds du Gouvernement
général de l’Indochine) đang được bảo quản tại hai Lưu trữ quốc gia Việt Nam và Cộng
hòa Pháp, thời kỳ Paul Beau mới đến Đông Dương, giáo dục chỉ là một công việc hoàn
toàn có tính chất địa phương, trực thuộc các viên quản lý hành chính của mỗi xứ trong
toàn Liên bang Đông Dương. Không có một sự hợp tác chặt chẽ nào, không có một
hướng chỉ đạo chung thống nhất nào. Trừ Nam Kỳ là nơi chữ Hán đã bị bỏ hẳn và là nơi
các trường Pháp-bản xứ tương đối phát triển, còn ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Cao Miên, các

6

Người Pháp gọi Nam Kỳ là “Cochinchine française” (tức Nam Kỳ thuộc Pháp).
Courrier de Saigon, No 23 du 5 décembre 1874.
8
Bulletin officiel de la Cochinchine française(BOCF), 1879, tr. 85-100.
7

[email protected]

Page 4


5

thể vì coi Nam Kỳ là thuộc địa nên người Pháp đã áp dụng tại Nam Kỳ những quy chuẩn
về giáo dục của nước Pháp.
Ở Bắc Kỳ, từ năm 1886, ngay khi chính quyền thuộc địa tiến hành “bình định” xứ
này thì nền giáo dục ở đây đã có một số thay đổi đáng chú ý, kể từ khi Paul Bert9 được cử
giữ chức Tổng Trú sứ Trung – Bắc Kỳ. Vốn là một nhà giáo dục nổi tiếng của Pháp nên
ngay sau khi đặt chân tới Hà Nội, cùng với lời tuyên bố: “Người Pháp đến đây là để nâng
cao đời sống nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế và còn nâng cao đời sống tinh thần bằng
giáo dục”10, Paul Bert đã tự tay đôn đốc việc xây dựng trường sở và ra những chỉ thị cụ
thể để chỉ đạo công tác giáo dục.
Văn bản quan trọng nhất của Paul Bert về lĩnh vực giáo dục chính là Quyết định
ngày 12-3-1885 về tổ chức chương trình giáo dục bậc tiểu học với chương trình giảng
dạy bằng tiếng Pháp tại các trường tiểu học thuộc Chính quyền Bảo hộ. Mặc dù cũng
nhằm mục đích đào tạo ra một đội ngũ người bản xứ làm việc trong chính quyền thuộc
địa như các văn bản khác đã được chính quyền thuộc địa ban hành ở Nam Kỳ, song
Quyết định ngày 12-3-1885 của Paul Bert có tính thực dụng hơn. Vì không tán thành việc

liệu phông Tòa Đốc lý Hà Nội (Fonds de la Mairie de de Hanoï - MHN), hs: 5126.
[email protected]

Page 5


6

khoa H Ni (Ecole de Mộdecine de Hanoù) thnh lp nm 1902, Trng Hu b H Ni
(Ecole dAdministration de Hanoù)thnh lp nm 1905 o to tri ph, tri huyn, hun
o, giỏo th
V khoa hc, trong s rt ớt cỏc c s khoa hc ó c thnh lp thi k ny ch
cú mt t chc khoa hc xó hi duy nht thuc a, ú l Phỏi b Kho c thng trc
ti ụng Dng c thnh lp theo Ngh nh ngy 15-12-1898 ca Ton quyn ụng
Dng. Vn chu s kim soỏt v phng din khoa hc ca Vin Bia ký v Vn chng
Phỏp, v sau c chớnh thc i tờn thnh Trng Vin ụng Bỏc c Phỏp (Ecole
franỗaise dExtrờme Orient EFEO)12, t chc ny ó cú nhng t vn, can thip tớch
cc vo vic xp hng,kim kờ qun lý tt hn cỏc cụng trỡnh vn húa (bao gm c
vn húa tớn ngng) v cỏc di tớch lch s Vit Nam núi riờng, ụng Dng núi chung.
Bng chng xỏc thc l cỏc to nh v vt th ca thnh ph H Ni thuc danh mc cỏc
cụng trỡnh lch s ụng Dng ó c xp hng k t khi quyn Ton quyn ụng
Dng ký Ngh nh ngy 15-4-1905, sau khi cú s t vn ca Trng Vin ụng Bỏc c
Phỏp13.
V lnh vc vn húa, mc dự ngay t nm 1907, chớnh quyn thuc a ó nhn
thc c tỡnh trng bi thm ca ti liu lu tr qua vic Thng s Bc K yờu cu T
lnh cỏc o quan binh, Cụng s cỏc tnh, c lý H Ni v Th trng Hi Phũng tỡm
trong cỏc phũng lm vic ti cỏc cụng s hnh chớnh thuc a v bn x tp hp
tt c cỏc h s v ti liu cú th cú giỏ tr v s thit lp nn Bo h ca Phỏp Bc
K14 m khụng cú kt qu nhng vn khụng cú mt c quan chuyờn mụn v Lu tr v
Th vin no c thnh lp. V chớnh vỡ th, ti liu trờn ton ụng Dng núi chung,

đến năm 1917 với nhiệm kỳ của Toàn quyền Albert Sarraut15, tình hình đó mới được cải
thiện.
II. Sự ra đời, quá trình phát triển và những thành tựu của Đại học Đông
Dƣơng qua các thời kỳ lịch sử.
1. ĐHĐD thời kỳ1906-1917.
Có thể nói rằng, sự ra đời và phát triển của ĐHĐD gắn liền với hai cuộc cải cách
giáo dục ở Việt Nam do hai Toàn quyền Đông Dương là Paul Beau và Albert Sarraut
khởi xướng.
Năm 1906, Toàn quyền Paul Beau cho thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ
nhất theo mô hình giáo dục của Pháp (1906-1916). Cuộc cải cách này được thể hiện ở
việc ban hành và thực thi các nghị định của chính quyền thuộc địa.
Bước đột phá đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục của Toàn quyền Paul Beau là việc
ban hành Nghị định thứ nhất vào ngày 8-3-1906 về thành lập Hội đồng Hoàn thiện nền
giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionnement de l’Enseignement indigène)16 với nhiệm
vụ nghiên cứu các vấn đề cải tổ nền giáo dục cũ, cải cách các kỳ thi Hương ở Bắc và
Trung Kỳ.
Nghị định này được hoàn thiện bởi 4 nghị định ban hành cùng ngày 16-5-1906 về
cải cách nền học chính bản xứ tại Đông Dương17 trong đó có Nghị định mở cuộc thi biên
soạn sách giáo khoa cho các trường học bản xứ tại Đông Dương và thành lập tại mỗi xứ ở
Đông Dương một Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ.Theo tinh thần của Nghị
định này, mỗi xứ sẽ có một Hội đồng với các tiêu chí hoàn thiện về giáo dục riêng đặt ra
cho xứ mình.
Một nhiệm vụ quan trọng khác của Hội đồng Hoàn thiện nền giáo dục bản xứ là
“nghiên cứu những điều kiện để thành lập và hoạt động của một trường đại học gồm các
môn giảng dạy ở bậc đại học dành cho người bản xứ và người châu Á”18. Theo đề nghị
của Hội đồng, ngày 16-5-1906, Toàn quyền Beau đã ký Nghị định số 1514a về việc thành
lập ĐHĐD với mục đích “thông qua tiếng Pháp để phổ biến kiến thức khoa học và
phương pháp của người Âu tại Viễn Đông”19.
Về cơ cấu tổ chức, ĐHĐD được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Toàn quyền,
do một Hội đồng quản trị điều hành với thành phần bao gồm: Giám đốc Nha Học chính

khoa Đông Dương (Ecole de Médecine de l’Indochine); Xây dựng dân dụng (Ecole
supérieure du Génie Civil) và Văn khoa (Ecole supérieure des Lettres). Những trường
này có trụ sở tại Hà Nội hoặc Sài Gòn. Một số trường có phạm vi hoạt động ở cả hai
thành phố. Để đảm bảo tính liên thông và phối hợp giữa các trường thành viên, điều 5 của
Nghị định ghi rõ: “Mỗi sinh viên được đăng kí vào một trường cao đẳng, trừ trường hợp
đặc biệt nhưng sẽ có một số môn học chung cho hai hoặc nhiều trường”.
ĐHĐDcó cơ chế phối hợp chặt chẽ với các viện nghiên cứu và giáo dục đã hoặc sẽ
được thành lập ở Đông Dương, nhưng không làm ảnh hưởng tới quyền tự quyết của
những cơ quan đó.
Sinh viên thuộc một trong 5 xứ Đông Dương chỉ được nhận vào ĐHĐD khi có
bằng tú tài bản xứ hoặc chứng chỉ tương đương (cử nhân, ấm sinh, tôn sinh...). Ngoài ra,
ĐHĐDcòn nhận thêm người nước ngoài, là công dân của nước Pháp và được Pháp bảo
hộ.
Chương trình học do Hội đồng quản trị soạn thảo và trình Toàn quyền thông qua.
Hàng năm, Toàn quyền quy định bằng nghị định một số vị trí tham gia Phái đoàn thường
trực Đông Dương (Mission permanente Indochinoise) công tác tại Pháp. Vị trí này dành
cho những sinh viên do Hội đồng Quản trị ĐHĐDlựa chọn. Việc mở lớp học hoặc các
cuộc hội thảo đặc biệt do Phòng Thương mại hoặc Phòng Canh nông hay các hiệp hội
khoa học đặt tại Đông Dương tài trợ.
Một năm sau ngày Nghị định số 1514a được ban hành, Toàn quyền Đông Dương
đã ký một số văn bản khác để điều chỉnh cơ cấu tổ chức và hoạt động của ĐHĐD như
Nghị định ngày 8-5-1907 chuyển quyền điều hành ĐHĐD từ Hội đồng Quản trị sang
Giám đốc Nha Học chính Đông Dương với sự trợ giúp của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD
(Conseil de Perfectionnement de l’Université indochinoise)20. Thành phần của Hội đồng
Hoàn thiện ĐHĐD theo Nghị định ngày 8-5-1907 bao gồm Giám đốc các trung tâm khoa
học tại Đông Dương, đại diện của những người đứng đầu chính quyền địa phương và cơ
quan kĩ thuật có liên quan. Thành phần này sau đó được cụ thể rõ bằng Nghị định ngày
27-5-190721, gồm: Giám đốc Nha Học chính Đông Dương (Chủ tịch); Hiệu trưởng
Trường Viễn đông Bác cổ (Phó Chủ tịch); Hiệu trưởng Trường Y khoa Đông Dương; đại
diện của Toàn quyền Đông Dương; đại diện của Thống sứ Bắc Kỳ; đại diện của Biện lý,

Ngoài ra, ĐHĐD còn có thêm 3 phòng thí nghiệm thực hành về vật lý, hoá học và
khoa học tự nhiên.Theo quy định, chỉ những sinh viên ghi danh trong điều kiện quy định
tại điều 4 của Nghị định ngày 16-5-1906 mới được tham gia thực hành và ra vào thư viện.
Giám đốc Nha Học chính cũng có thể cấp thẻ học viên dự thính cho những người Âu và
Á có đủ trình độ tiếng Pháp, theo đề nghị của Hội đồng Hoàn thiện ĐHĐD.
Cùng ngày 24-9-1907, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định về việc bổ nhiệm
giảng viên ĐHĐDtrong đó quy định rõ thời gian và danh sách cụ thể các giảng viên chịu
trách nhiệm giảng dạy các môn học và các môn thực hành23.
Sau khi đã có những văn bản mang tính pháp lý của Toàn quyền Đông Dương về
việc thành lập, cơ cấu tổ chức, đội ngũ giảng viên, ngày khai giảng chính thức cùng
những môn học chính, về phần mình, ĐHĐD bắt đầu ban hành Nội quy và chương trình
học cho niên khóa đầu tiên của mình (niên khóa 1907-1908)24.
Theo Nội quy, những người châu Á có nhu cầu theo học tại các trường thuộc
ĐHĐD phải gửi đơn xin nhập học đến Ban Thư ký ĐHĐD có trụ sở đặt tại số 40 đại lộ
Gia Long25 (Hà Nội) trong đó nêu rõ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, bằng cấp, ban và các
lớp thực hành mà họ muốn theo học.
Đối tượng được quy định có đủ điều kiện nhập học gồm:
- Những người tốt nghiệp Trường Trung học Chasseloup - Laubat hoặc có bằng bổ
túc;
22

JOIF, 1907, tr. 1458.
JOIF, 1907, tr. 1459.
24
TTLTQG I, Phông Sở Lưu trữ và Thư viện Đông Dương (Fonds de la Direction des Archives et des Bibliothèques
de l’Indochine – DABI), hs : 889 và ANOM, GGI, tài liệu đã dẫn.
25
Phố Bà Triệu ngày nay.
23


Giờ

Giảng viên

Môn học

5g15 - 6g15 Ông Barbotin (kỹ sư về Nghệ Hóa công nghiệp và kỹ
thuật và Chế tạo máy, Giám đốc nghệ.
Trường dạy nghề Hà Nội)
Thứ 2

6g15 - 7g15 Ông Maybon (giảng viên Lịch sử Đông Dương và
Trường Viễn đông Bác cổ Pháp, Viễn Đông.
Giám đốc Trường Pavie)
8g45 - 9g45 Ông Prêtre (quản lý hành chính Tổ chức hành chính Đông
hạng nhất Sở Quản lý các công Dương.
việc dân sự, phụ tá Thống sứ
Bắc Kỳ)

Thứ 3

5g15 - 6g15 Ông Eberhardt (Tiến sĩ khoa Động vật học
học, Thanh tra nông nghiệp,
nguyên điều chế viên thực vật

[email protected]

Page 10



biệc lý của Tổng Kiểm sát thương mại
trưởng Đông Dương)
1-2

Ông Eberhardt (Tiến sĩ khoa Thực hành về thực vật học
học, Thanh tra nông nghiệp,
nguyên điều chế viên thực vật
Khoa Khoa học Trường Đại học
Tổng hợp Paris)

2-3

Ông Bloch (Dược sĩ quân y, Thực hành về hóa học đại
nguyên điều chế vieenhoas học cương
Trường Cao đẳng Dược Nancy)

3-4

Ông Barbotin (kỹ sư về Nghệ Thực hành về hóa công
thuật và Chế tạo máy, Giám đốc nghiệp
Trường dạy nghề Hà Nội)

4-5

Ông Gourdon (Tổng Giám đốc Giáo dục học đại cương
Sở Học chính Đông Dương)

Thứ 5

Thứ 6

chính Đông Dương)
6g15- 7g15

Ông Dumas (bác sĩ chính trong Sinh lý học và vệ sinh
quân đội thuộc địa, Trưởng
Quân y viện ở Hà Nội)
Ông Rieus (kỹ sư về Nghệ thuật Cơ khí
và Chế tạo máy, Giáo sư
Trường Giao thông Công chính)

Ngày 10-11-1907, sau khi các điều kiện chuẩn bị đã hoàn tất, lễ khánh thành
ĐHĐD đã được tổ chức tại Phủ Toàn quyền cũ (trong khu nhượng địa) ở Hà Nội, dưới sự
chủ tọa của Thống sứ Bắc Kỳ De Miribel26. Và đến cuối tháng 11-1907, ĐHĐD tổ chức
lễ khai giảng đầu tiên với sự có mặt của 94 sinh viên chính thức, 62 sinh viên dự thính và
37 sinh viên năm thứ nhất trường Y sẽ tham dự một số giờ học của môn khoa học, tổng
cộng gồm 193 sinh viên. Trong năm học đầu tiên này, một số viên chức các sở chuyên
môn tại Hà Nội tuy không theo học chính thức nhưng cũng được phép tham gia các giờ
thực hành tại các trường thuộc ĐHĐD27.
Vì nhiều lý do, con số sinh viên mới ngày càng giảm dần, từ 94 còn 68 (tháng 121907) và sau Tết Nguyên đán còn 46 và cho đến cuối năm học, số sinh viên chính thức
chỉ còn lại chưa đến một nửa số sinh viên ban đầu (41 người). Sau khi năm học đầu tiên
kết thúc, ĐHĐD đã đột ngột đóng cửa, không một lời giải thích của bất cứ một vị quan
chức nào trong bộ máy chính quyền thuộc địa và cũng không bởi bất cứ một văn bản nào
của các cấp có thẩm quyền trong hệ thống chính quyền thực dân.

26

La Première Université Indochinoise, sđd, Hanoï, 1927, tr. 7.
Có hai viên chức thuộc Sở Nông-Lâm-Thương mại Đông Dương được phép tham gia các giờ thực hành các môn
Hóa học đại cương, Hóa công nghiệp, Thực vật và Động vật tại các trường thuộc ĐHĐD: Bùi Văn Thuận, nhân viên
chính ngạch hạng 2 và Nguyễn Như Phan, phụ tá thư ký hạng 2 (TTLTQG I, GGI, hs: 2819).

Toàn bộ các trường tiểu học và trung học đều nằm trong hệ thống các trường
Pháp-Việt, chương trình giảng dạy được quy định cụ thể trong bộ “Học chính tổng quy”.
Việc miễn phí đối với các trường tiểu học công được quy định tại cuộc cải cách giáo dục
năm 1906 vẫn được giữ nguyên.
Bên cạnh các trường tiểu học và trung học nằm trong hệ thống các trường Pháp Việt còn có một số trường thuộc hệ thống trường Pháp, chủ yếu dành cho con em người
Pháp sống tại thuộc địa và một số ít con em thuộc các gia đình thượng lưu người bản xứ.
Theo quy định của bộ “Học chính tổng quy”, các trường dạy nghề có tính chất
chuyên nghiệp đã được thành lập từ giai đoạn trước nhằm đào tạo một đội ngũ công chức
người bản xứ bậc thấp, đáp ứng nhu cầu của công cuộc xây dựng và khai thác thuộc địa
của người Pháp như Trường Hậu bổ Hà Nội (Ecole d’Administration de Hanoï) thành lập
năm 1897, Trường Dạy nghề Hà Nội (Ecole professionelle de Hanoï) do Phòng Thương
mại Hà Nội lập ra vào năm 1898, Trường Công chính (Ecole des Travaux Publics) thành
lập năm 1902 và Trường Y khoa Hà Nội (Ecole de Médecine de Hanoï) năm 1902... đều
28

ANOM, GGI, hs: 48.041.
JOIF, 1908, tr. 819.
30
JOIF, 1918, tr. 607-684.
29

[email protected]

Page 13


14

nằm trong hệ thống các trường dạy nghề hai cấp thuộc giáo dục phổ thông (đệ nhất cấp
và đệ nhị cấp). Kinh phí hoạt động của các trường này do ngân sách địa phương hoặc

Đông Dương thuộc ĐHĐDcho sinh viên người Pháp và người bản xứ”31. Toàn bộ các
trường này sẽ tập trung lại thành ĐHĐD, bao gồm một số trường thành viên của ĐHĐD
đã được thành lập như Trường Cao đẳng Sư phạm (Ecole supérieure de Pédagogie) thành
lập theo Nghị định ngày 15-10-1917 và được tổ chức lại theo Nghị định ngày 24-7-1932,
Trường Khoa học thực hành (Ecole des sciences appliquées) được thành lập theo Nghị
định ngày 30-10-1922, Trường Cao đẳng Văn khoa với các giờ dạy và hội thảo dành cho
công chúng (Ecole supérieure des Lettres - cours et conférences publics) được thành lập
31

JOIF, 1917, tr. 1001.

[email protected]

Page 14


15

theo Nghị định ngày 26-7-1923, Trường Mỹ thuật Đông Dương (Ecole des Beaux-Arts de
l’Indochine) được thành lập theo Nghị định ngày 17-10-1924 (năm 1938 được tổ chức lại
thành Trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ thực hành (Ecole des Beaux-Arts et des Arts
appliquées), Trường Cao đẳng Luật Hà Nội (Ecole supérieure de Droit de Hanoï) được
thành lập theo Sắc lệnh ngày 11-11-1931 của Tổng thống Pháp32…
Về mặt tổ chức, trong thời kỳ đầu, Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương giữ
chức vụ Giám đốc Ban Chỉ đạo bậc cao đẳng, là người “trực tiếp quản lý nhân viên các
trường cao đẳng ở Đông Dương”, “chịu trách nhiệm điều hành các trường” và là người
“trực tiếp liên hệ với Toàn quyền trong việc giải quyết những biện pháp cụ thể nhằm đảm
bảo sự hoạt động tốt và phát triển bình thường của các cơ sở dưới quyền mình quản lý”.
Trực tiếp dưới quyền Tổng Giám đốc Học chính có các quân nhân ngoại hạng giữ chức
danh các Giám thị nội trú (có Tổng Giám thị và các Giám thị).

trực thuộc Toàn quyền Đông Dương. Năm 1922, dưới tác động của một cuộc cải cách hành chính, DABI bị sáp nhập
vào Sở Học chính Đông Dương (Direction de l’Instruction Publique de l’Indochine). Việc này gây rất nhiều trở ngại
cho DABI ngay cả về phương diện tài chính (kinh phí của DABI thường xuyên chậm và có thể bị cắt bị chuyển qua
Sở Học chính). Mãi đến 1929, DABI mới được trở về vị trí ban đầu (tổng hợp từ một số hồ sơ thuộc phông Sở Lưu
trữ và Thư viện Đông Dương, TTLTQG I).
[email protected]

Page 15


16

chính. Kết quả là, đến năm 1922, giáo dục bậc đại học đã được đặt dưới quyền trực tiếp
của Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương. Theo đó, ĐHĐD lại được đặt trở lại dưới
quyền chỉ đạo trực tiếp của nhân vật có chức danh cao nhất trong hệ thống giáo dục ở
Đông Dương.
Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, từ một bộ phận rất nhỏ hoạt động
dưới sự quản lý của Ban 2, Phòng 1 trực thuộc Văn phòng Ban Giám đốc Sở Học chính
Đông Dương (năm 1922), Văn phòng ĐHĐD đã được thành lập nhưng vẫn là một đơn vị
thuộc Phòng 1 của Văn phòng Ban Giám đốc (năm 1928). Mãi cho đến năm 1938, Văn
phòng ĐHĐD mới được tách ra để hoạt động với tư cách là một đơn vị độc lập. Lúc này,
Văn phòng ĐHĐD được đặt dưới quyền trực tiếp của Tổng Giám đốc Học chính. Chánh
Văn phòng có chức danh là Thư ký ĐHĐD(Secrétaire de l’Université indochinoise),
người phải đảm nhiệm cùng một lúc hai nhiệm vụ của hai chức danh: Thư ký và Tổng
Giám thị ĐHĐD. Ban đầu, chức năng và nhiệm vụ của Thư ký ĐHĐDđược quy định như
sau:
- Đảm nhiệm chức năng, nhiệm vụ của ban Thư ký các trường Cao đẳng Y và Luật
của Hà Nội;
- Quản lý các trường khác thuộc ĐHĐD…
Tuy nhiên, hoạt động chưa đầy một năm thì Văn phòng ĐHĐD đã được cải tổ lại

17

lnh ngy 25-7-1941 ca Tng thng Phỏp.Trng c t chc theo kiu mu ca
trng i hc Khoa hc ca Phỏp nhng vi hai th thc c bit ụng Dng nhm
mc ớch m bo cho sinh viờn nm c kin thc chung theo hc c chng
trỡnh ging dy ca Trng. Mt l cỏc k thi th vo u cỏc nm hc k t khi khai
ging nm hc u tiờn cho n tn nm 1944 v hai l to iu kin sinh viờn cú th
cú, ngoi bng c nhõn c quy nh phi chun b trong 2 nm ra, mt trong s cỏc
chng ch nghiờn cu d b (certificats dộtudes supộrieures prộparatoires) v cỏc mụn
hc nh toỏn i cng (mathộmatiques gộnộrales), S.P.C.N (Sciences physiques,
chimiques et naturelles) và M.P.C (mathộmatiques, physique, chimie)40. õy l mt s
kin rt cú ý ngha, nh Tng Giỏm c Hc chớnh ụng Dng ó khng nh trong bi
din vn c ti l khai ging nm hc 1942-1943: Vic thnh lp Trng Cao đẳng
Khoa học ó ỏnh du mt cỏi mc trong nn i hc v khoa hc ụng Dng41.
Trong thi gian ny, hng lot cỏc trng thnh viờn ca HD c nõng cp,
iu ú rt cú ý ngha i vi v th ca HD. Nm 1941: Trng Kiờm b Y Dc
ụng Dng c nõng cp lờn thnh Trng i hc Y khoa ụng Dng, sinh viờn
tt nghip trng ny c cp bng Bỏc s Y khoa hoc Dc s cao cp ụng Dng;
Trng Cao ng Lut c nõng lờn thnh Trng i hc Lut ụng Dng. Nm
1942: Trng Cao ng Nụng Lõm c nõng cp thnh Trng i hc, cú nhim v
o to k s nụng nghip v lõm nghip; Trng Cao ng Cụng chớnh c nõng lờn
thnh trng i hc, c phộp o to k s v phú k s cụng chớnh (Ingộnieur et
ingộnieur-adjoint indochinois des Travaux publics). Cng trong nm 1942, Trng M
thut v Trng M ngh thc hnh c tỏch thnh hai trng l Trng Cao ng M
thut thuc khi i hc v Trng M ngh thc hnh. Nm 1943, Trng Cao ng
M thut (Ecole des Beaux-Ats) c t chc li v c phộp o to bc i hc
tng ng vi trỡnh i hc Phỏp.
Ngoi ra, mt s ngnh mi nh Dõn tc hc, ụng phng hc, Kho c hc
cng c thnh lp ti Trng Cao ng Vn khoa lm cho c cu caHD ngy cng
tr nờn a ngnh, a lnh vc rừ nột hn.

số hạng mục khác để tập trung một số trường đại học và cao đẳng khác vào ĐHĐD45.
- Lần thứ hai vào năm 1917, trong khi chờ đợi công trình chính, Toàn quyền Đông
Dương đã ký Quyết định số 783 ngày 31-12-1917 cho phép tiến hành cải tạo các tòa nhà
củagia đình Debeaux ở số 47 phố Paul Bert46và số 22, 24 đại lộ Rollandes47 để bố trí một
số trường học mới thuộc ĐHĐD48.
- Lần cuối cùng, ngày 15-6-1942, Toàn quyền Decoux đã ký Nghị định số
223/Dphê chuẩn các quy định về việc quy hoạch Khu Học xá Đông Dương (Cité
Universitaire de l’Indochine)49gồm một phần nằm trong huyện Hoàn Long và một phần
nằm trong địa hạt của thành phố Hà Nội50. Theo dự tính, Khu Học xá Đông Dương sẽ
đón được khoảng 320 sinh viên và sẽ không thua kém gì khu nội trú của các trường đại
học ở Paris. Nhưng sau đó, sự kiện Nhật đảo chính Pháp đã xẩy ra. Tiếp đó là cuộc tổng
khởi nghĩa của Việt Minh đã giành được thắng lợi. Công trình xây dựng Khu Học xá
Đông Dương vì thế không thể tiếp tục được nữa và đã trở thành công trình xây dựng cuối
cùng của chính quyền thực dân trên đất Hà Nội.
3. ĐHĐD thời kỳ 1945-1954.
Sau khi bị Nhật đảo chính (ngày 9-3-1945), người Pháp tuy bị thất thế ở Đông
Dương nhưng trong tuyên bố ngày 24-3-1945, chính phủ Pháp ở chính quốc vẫn khẳng
định: “Liên hiệp Pháp sẽ tiến hành các biện pháp cần thiết để làm cho nền giáo dục bậc
tiểu học trở thành bắt buộc và có hiệu quả và để phát triển nền giáo dục trung học và đại
học”51.
Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình mới, chính quyền ở thuộc địa buộc phải có
những thay đổi trong chính sách chính trị của mình. Chức danh Toàn quyền Đông Dương
bị xóa bỏ và thay vào đó là Cao ủy Pháp ở Đông Dương (Haut Commissaire de France
44

Trường Y (Ecole de Médecine) được dự kiến xây dựng từ năm 1902 và được Toàn quyền Đông Dương phê duyệt
vào năm 1907, ban đầu định đặt ở góc đại lộ Carreau (phố Lý Thường Kiệt) và đại lộ Jauréguiberry (phố Quang
Trung) nhưng không thực hiện được sau chuyển về đại lộ Bobilot.
45
Ngày nay công trình Trường ĐHĐD do Trường Đại học Dược vàTrường Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý và sử

thay cho ông Lebris.
Về giáo dục đại học có các cố vấn: Ông Kherian (Chủ nhiệm khoa Luật);
Bonneman (Giám đốc Trường Cao đẳng Khoa học - Ecole supérieure des
Sciences);Richard (Giám đốc Trung tâm Médico Pharmacetique) và Lebris (Giáo sư
chính ngoại hạng thuộc Văn phòng Giáo dục đại học - Bureau de l’Enseignement
supérieur).
Tháng giêng năm 1948, Cao ủy Pháp đã ký một Nghị định thành lập một Hội đồng
trường ĐHĐD do Hiệu trưởng ĐHĐD làm Chủ tịch với thành phần gồm các Giám đốc
của các trường thành viên, hai giáo sư do các trường bầu ra hoặc bỏ phiếu kín, Giám đốc
Trường Viễn đông Bác cổ và các thành viên không thuộc nhân sự củaĐHĐD do Hội
đồng lựa chọn và do Hiệu trưởng ĐHĐD bổ nhiệm trong 3 năm. Hội đồng có quyền
quyết định tất cả các vấn đề về tổ chức thực hiện, tổ chức giảng dạy và về tất cả các công
việc thuộc về kỷ luật54.
Ngày 30-12-1949, theo thỏa ước về văn hóa được ký kết giữa chính phủ Pháp và
chính phủ Bảo Đại, Trường Đại học hỗn hợp Pháp-Việt đã được thành lập trên cơ sở của
ĐHĐD ở Hà Nội và vẫn do ông Bayen là Hiệu trưởng. Về mặt pháp lý, Trường Đại học
hỗn hợp Pháp-Việt được thành lập nhưng trên thực tế, nó chưa bao giờ hoạt động mà vẫn
giữ nguyên cơ cấu tổ chức của ĐHĐD với hệ thống các trường thành viên trước kia.
Đầu năm 1951, ĐHĐD có Hiệu trưởng mới. Đó là ông Champy, nguyên Hiệu
trưởng Trường Đại học Y Paris đến Hà Nội thay cho ông Bayen trở về Pháp sau nhiều
năm giữ cương vị người đứng đầu một trường đại học danh tiếng của Pháp ở Đông
Dương. Người ta hy vọng rằng, vị Hiệu trưởng mới này của ĐHĐD sẽ là người đầu tiên
làm cho Trường Đại học Hỗn hợp Pháp-Việt hoạt động theo tinh thần của những ký kết
Pháp-Việt, người sẽ làm cho Trường trở thành “một trung tâm tỏa sáng ở Đông Nam Á
và là nơi gặp gỡ của hai nền văn minh châu Âu và Viễn Đông”55. Bản thân ông Champy
52

Quyền hạn và chức năng, nhiệm vụ của Cao ủy Pháp ở Đông Dương được quy định trong Sắc lệnh ngày 17-81945 của Tổng thống Pháp Charles de Gaulle. JOFI, n° 1 (Nouvelle série), 15-11-1945, tr. 3.
53
JOFI, n° 33, 14 août 1947, tr. 1342.

métropolitaines). Trường tiếp nhận tất cả các chương trình thực hành và thi cử của
Trường Đại học Mỹ thuật Quốc gia Ở Paris. Về mặt tổ chức, Trường Cao đẳng Kiến trúc
Đà Lạt được xếp vào khối các trường thuộc ĐHĐD, Giám đốc của Trường có quan hệ
trực tiếp với Giám đốc Trường Đại học Mỹ thuật Quốc gia ở Hà Nội (Ecole Nationale
Supérieure des Beaux-Arts). Trường được tổ chức lại theo Nghị định ngày 1-6-194959.Số
lượng sinh viên theo học tại các trường thuộc ĐHĐD cũng tăng lên đáng kể, chỉ tính
riêng cơ sở Hà Nội đã có 966 người (trong năm học 1949-1950), tăng lên 1.329 người
(năm học 1950-1951), tiếp tục tăng lên 1.723 người (năm học 1951-1952) và đạt tới
2.260 người (năm học 1953-1954).
Thời gian sau đó, các trường thuộc ĐHĐD cả ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn tiếp tục
khai giảng để đón nhận sinh viên mới. Đưa tin về lễ khai giảng năm học 1952-1953 ở
Việt Nam, tạp chí của Phủ Cao ủy Pháp ở Việt Nam xuất bản tại Paris đã bình luận:
“ Một vài tuần sau các trường trung học và cấp I, các trường đại học và các
trường lớn của Việt Nam đã mở cửa trở lại.
56

Le Recteur Champy dit ce que sera la nouvelle Université Franco-Vietnamienne. AFP, janvier 1951. ANOM,
FOM, tài liệu đã dẫn.
57
JOFI, n° 21, 4 décembre 1947, tr. 923. Trong khoảng thời gian từ 1947 đến 1950, lần lượt các Trường Đại học Y
Dược, Cao đẳng Khoa học… cũng được chia thành hai trung tâm: một ở Hà Nội và một ở Sài Gòn.
58
JOFI, n° 49, 22 mai 1947, tr. 1923.
59
JOIF, n° 25, 17 juin 1948, tr. 2795; n° 39, 23 septembre 1948, tr. 3279 và n°24, 9 juin 1949, tr. 799.
[email protected]

Page 20



hòa bình cho các nước trên bán đảo Đông Dương và kể từ thời gian ấy, vai trò lịch sử của
ĐHĐD - trường đại học danh tiếng một thời của Pháp trên bán đảo này cũng chấm dứt.

60

Trường Đại học Văn khoa với các giờ dạy và hội thảo dành cho công chúng (Ecole supérieure des Lettres - cours
et conférences publics) được thành lập theo Nghị định ngày 26-7-1923 của Toàn quyền Đông Dương.
61
La rentrée universitaire au Vietnam. Vietnam (Bulletin publié par le Haut Commissariat du Vietnam en France), 6
novembre 1952. ANOM, FOM, tài liệu đã dẫn.
62
ANOM, SPCE, hs: 64.
63
Danh sách được quy định Theo Nghị định số 15-ND/GD ngày 4-2-1952 của Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục.
ANOM, SPCE, tài liệu đã dẫn.
64
Đó là các ông Herveux, Giám thị Trường A. Sarraut; Anger và Alcarae, Giáo sư Trường A. Sarraut đảm nhiệm
dạy các môn tiếng Anh, tiếng Pháp và văn học Pháp. ANOM, SPCE, tài liệu đã dẫn.
[email protected]

Page 21


22

III. ĐHĐD và những tác động đến xã hội Việt Nam.
Trong một vài nghiên cứu về ĐHĐD65và trong một công trình viết về Đại học
Quốc gia Hà Nội được công bố cách đây 10 năm nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành
lập ĐHĐD66, quá trình hình thành và phát triển cùng những vấn đề về chương trình đào
tạo cũng như những mặt hạn chế của ĐHĐD đã được các tác giả phân tích một cách khoa

Trường KHXH & NV – Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 27-4-2006).
- “Vài nét về quá trình xây dựng cơ sở vật chất của Đại học Đông Dương giai đoạn 1906-1954”, Bản tin
Đại học Quốc gia Hà Nội, số đặc biệt kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội, 5-2006, tr. 39
hoặc truy cập trang www.vnu.edu.vn
65
JOIF, 1907, tr. 769.
66
Một thế kỷ phát triển và trưởng thành (Tập thể biên soạn, GS. TSKH Vũ Minh Giang chủ biên), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2006. Sách được tái bản với tên Đại học Quốc gia Hà Nội những chặng đường phát triển,
dưới dạng song ngữ Việt-Pháp, với sự hỗ trợ kinh phí của Quỹ Giáo dục Cao học Hàn Quốc và Trung tâm Hỗ trợ
nghiên cứu Châu Á – Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2013.
67
Nghị định ngày 16-5-1906 của Toàn quyền Đông Dương, JOIF, 1906, tr. 807-810.
[email protected]

Page 22


23

rằng, ngay còn trong thời kỳ tiểu học, học sinh đã được trang bị những kiến thức cơ sở về
lịch sử đất nước, về lòng tự hào dân tộc. Vì thế, mặc dù lên các lớp trên thuộc cấp trung
học và sau này là đại học, được đào tạo trong các trường học của Pháp, chịu ảnh hưởng
của nền văn hoá Pháp, học lịch sử nước Pháp nhiều hơn lịch sử nước Nam nhưng tầng
lớp trí thức tân học ở Việt Nam lại có một nền tảng giáo dục truyền thống rất vững chắc.
Từ đó, có thể rút ra kết luận: mặc dù những nỗ lực của người Pháp về giáo dục chủ yếu
nhằm mục đích phục vụ công cuộc cai trị, tức là vì “Mẫu quốc” hơn là để “khai hóa văn
minh” cho Việt Nam nhưng lại đem lại điều mà chính quyền thực dân không mong đợi.
Đó chính là sự hình thành nên một một bộ phận trí thức yêu nước của dân tộc Việt Nam.
Chúng ta đều biết rằng, tài liệu lưu trữ là do con người sản sinh ra. Ngoài tính

[email protected]

Page 23


24

Đông Dương (Association Générale des Etudiantes de l’Université IndochinoiseA.G.E.I)69 thành lập năm 1935, hoạt động của sinh viên được hướng tới như hoạt động
của một tổ chức ái hữu với tôn chỉ, mục đích, điều lệ rõ ràng, nhằm bênh vực quyền lợi
vật chất, tinh thần của sinh viên một nước thuộc địa. Tổng Hội sinh viên có một địa điểm
hoạt động ở Hà Nội được gọi là “Nhà Sinh viên” (Maison des Etudiants) gồm một thư
viện và một phòng giải trí70. Năm 1936, tổ chức này đã bầu ra một Ban Trị sự gồm Phan
Huy Quát (sinh viên Trường Y, Hội trưởng), Nguyễn Hữu Thiệu (sinh viên trường Mỹ
thuật, Phó Hội trưởng), Nguyễn Lương (sinh viên Trường Luật), Phạm Gia Huỳnh (sinh
viên Trường Dược), Nguyễn Văn Vinh (sinh viên Trường Y, Tổng Thư ký), Nguyễn Gia
Đức (sinh viên Trường Mỹ thuật) và Nguyễn Văn Trác (sinh viên Trường Luật) 71. Ngoài
ra, Ban Trị sự còn có các cố vấn: Vũ Văn Hiền (sinh viên năm thứ 4 Trường Luật),
Hoàng Cơ Thụy (sinh viên năm thứ 3 Trường Luật), Đặng Huy Lộc (sinh viên năm thứ 5
Trường Y), Nguyễn Văn Sanh (sinh viên năm thứ 3 Trường Y) và Trần Kim Quan (sinh
viên năm thứ 4 Trường Dược).
Đoàn kết chặt chẽ trong tổ chức của mình, ngoài việc tham gia các hoạt động
tuyên truyền cách mạng (tham gia việc tổ chức lễ Giỗ tổ Hùng Vương tại Khu Học xá,
tham gia “Tuần lễ đoàn kết thanh niên” được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 24 đến 27-91953, tham gia vào Đại hội Thanh niên Học sinh do Nha Học chính và Nha Thanh niên
Bắc Việt tổ chức tại Hà Nội ngày 8-11-1953)…sinh viên ĐHĐDcòn có nhiều hình thức
hoạt động phong phú như:
1. Tổ chức các buổi học văn hóa.
Một trong những hoạt động của Hội Sinh viên Việt Nam trong những năm 19501951 là tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa không lấy tiền học phí nhằm mục đích “giúp
các học sinh không đủ điều kiện theo học các trường tư hay các lớp riêng có thể tiếp tục
học tập, trau dồi kiến thức và gây thêm tình thân thiện giữa sinh viên và học sinh”72.
Cùng với người sáng lập ra phong trào xóa nạn mù chữ như cụ Nguyễn Văn Tố (Hội

thức chia rẽ học sinh và sinh viên mà còn chứng tỏ năng lực của sinh viên và học sinh,
chứng tỏ thanh niên không phải là những người bồng bột, không thể xây dựng được một
công cuộc gì bền vững như xã hội đã quan niệm73.
2. Đấu tranh chống phân biệt bằng cấp.
Bên cạnh các hoạt động văn hóa, sinh viên các trường thuộcĐHĐD còn có các
hình thức đấu tranh khác nhằm chống chế độ phân biệt về bằng cấp của chính quyền thực
dân. Theo “Thư từ nước Pháp” (Lettres de France) ngày 19-3-1952, Bộ Giáo dục Quốc
gia Pháp ở Paris đã ra một Thông tư về chủ trương của Vụ Giáo dục Đại học (Direction
de l’Enseignement supérieur), trong đó thừa nhận sự giống nhau về chất lượng của bằng
trung học phổ thông của Việt Nam và Pháp, nhưng từ chối sự bình đẳng hiển nhiên này
đối với các bằng đại học của các trường đại học ở Hà Nội74.
Đây là một sự từ chối vô lý bởi vì giáo dục đại học ở Viễn đông được xây dựng
theo mô hình của Pháp, với sự hợp tác của hàng ngũ giáo viên người Pháp và Việt. Như
vậy, đáng lẽ ra nó cũng phải được bình đẳng như các trường đại học ở Paris, Lille,
Monpellier hay ở Lyon. Chính vì vậy, sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ở Hà Nội
đã phản đối chính sách phân biệt vô lý của chính quyền thực dân, đòi các văn bằng do các
trường đại học ở Hà Nội phải có giá trị ngang với các văn bằng do các trường đại học ở
Pháp cấp. Cuối cùng, cuộc đấu tranh của sinh viên ĐHĐD đã nhận được sự ủng hộ của
những người làm công tác giáo dục của Việt Nam thời kỳ đó. Trong cuộc họp ngày 1112-1952 tại Hội đồng Liên hiệp Pháp, đại diện của Việt Nam là ông Bùi Thế Phúc đã
thuyết trình vấn đề bình đẳng về bằng cấp giữa hai hệ đào tạo của hai nước Pháp-Việt.
Khẳng định rằng Thông tư của Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp là hòa toàn trái với
thỏa ước về văn hóa đã được ký kết ngày 30-12-1949 giữa hai chính phủ Pháp-Việt, ông
Bùi Thế Phúc yêu cầu bãi bỏ Thông tư bất hợp lý này và đòi chính phủ Pháp phải thực
hiện những điều đã ký kết. Kết quả là từ cuối năm 1952 đến cuối năm 1953, Tổng thống
Pháp đã lần lượt ký các Sắc lệnh do Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp trình lên, công nhận các
bằng do các trường đại học ở Hà Nội cấp có giá trị ngang với các bằng do các trường đại
học ở Pháp cấp.
3. Đấu tranh chống miệt thị sinh viên, chống thái độ thực dân của giáo viên người
Pháp.
73


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status