Hệ thống thương mại thế giới WTO và những thách thức của nó đối với Việt Nam - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) kế thừa Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) bắt đầu hoạt
động từ 1/1/1995 nhằm tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của hệ thống
thương mại đa biên, đảm bảo cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ dần các
rào cản trong thương mại quốc tế. Từ đó cho đến nay, WTO đã không ngừng
mở rộng cả về quy mô lẫn phạm vi hoạt động của mình, đã thực sự khẳng định
được vai trò quan trọng của mình trong quá trình tự do hoá thương mại quốc tế.
Cùng với hệ thống các quy tắc, nguyên tắc, các Hiệp định của mình, WTO
đã tạo ra một hành lang pháp lý để từ đó các nước có thể đẩy nhanh tiến hành
tiến trình toàn cầu hoá, tự do thương mại, đồng thời tiếp nhận những cơ hội
thuận lợi để phát triển nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hoạt động của WTO
cùng với hệ thông các nguyên tắc và hiệp định của mình không phải lúc nào
cũng có lợi và đảm bảo được sự công bằng cho các nước thành viên, đặc biệt là
đối với các nước đang phát triển.
Để có thể tìm hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng của WTO đến sự phát triển
nền kinh tế của các nước đang phát triển, em đã lựa chọn đề tài: “Hệ thống
thương mại thế giới WTO và những thách thức của nó đối với Việt Nam”
làm khoá luận tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu, kết luận, và phụ lục, nội dung
của khoá luận được chia làm ba chương:
Chương 1: Tổng quan về Tổ chức thương mại thế giới WTO.
Chưong 2: Tác động của WTO đến các nước đang phát triển.
Chương 3: Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam, những cơ hội và thách
thức.
Với những kiến thức đã được trang bị trong 4 năm qua tại Khoa Kinh tế
Đại học Quốc Gia - Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng
dẫn, em đã hoàn thành được bài khoá luận này. Tuy nhiên, do tính phức tạp của
vấn đề nghiên cứu và do trình độ có hạn của người viết khoá luận này không
tránh được nhiều thiếu sót. Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy
cô giáo để bài khoá luận này được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !

chức thương mại thế giới (ITO) đã không thực hiện được. Tuy nhiên kết quả của
cuộc đàm phán cũng đem lại sự thành công nhất định; đã có 45000 nhượng bộ
về thuế quan, ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trị giá 10 tỉ USD, tức là
gần 1/5 tổng thương mại trên thế giới. 23 nước này đều cùng nhất trí chấp nhận
ủng hộ một số quy định trong hiến chương của ITO. Các quy định này sẽ được
thực hiện hết sức nhanh chóng một cách tạm thời để có thể bảo vệ được thành
quả của những cam kết thuế quan đã được đàm phán. Kết hợp của những qui
định thương mại và cam kết thuế quan được biết đến dưới tên gọi Hiệp định
chung về thuế quan và thương mại (GATT). Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực
kể từ ngày 11/1/1948. 23 nước tham gia trở thành những thành viên sáng lập
GATT, hay còn gọi là "các bên tham gia hiệp định". Mặc dù GATT chỉ mang
tính tạm thời nhưng đây vẫn là công cụ duy nhất mang tính đa biên điều tiết
thương mại thế giới kể từ năm 1948 cho đến khi WTO được thành lập vào năm
1995 và trong suốt thời gian đó các văn bản pháp lý của GATT vẫn được duy trì
gần giống năm 1948. Có thêm một số hiệp định mới được đưa vào dưới dạng
hiệp định "nhiều bên" và các nỗ lực cắt giảm thế quan vẫn được tiếp tục. Tất cả
những bước tiến lớn của thương mại quốc tế đã diễn ra thông qua các cuộc đàm
phán thương mại đa biên được biết đến dưới cái tên "vòng đàm phán thương
mại".
Bảng 1: Các vòng đàm phán của GATT
Năm Địa điểm Chủ đề đàm phán Số nước
1947 Geneva Thuế quan 23
1949 Annecy Thuế quan 13
1951 Torquay Thuế quan 38
1956 Geneva Thuế quan 26
1960-1961 Geneva (vòng Dillon) Thuế quan 26
1964-1967 Geneva (vòng Kenedy) Thuế quan và các biện pháp
chống bán phá giá
62
1973-1979 Geneva ( Vòng Tokyo) Thuế quan và các biện pháp

đa biên, nhưng đây là một bước khởi đầu mới.
Các "hệ thống qui tắc" của vòng Tokyo:
• Trợ cấp và các biện pháp đối kháng - diễn giải điều 6.16 và 23 hiệp định
GATT.
• Các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại - còn được gọi là: Hiệp định về
tiêu chuẩn.
• Các thủ tục cấp phép nhập khẩu.
• Mua sắm chính phủ.
• Định giá hải quan - diễn giải điều 7.
• Chống phá giá - diễn giải điều 6, thay cho qui định vòng Kenedy.
• Thoả thuận về sữa quốc tế.
• Thương mại máy bay dân dụng.
Một số hệ thống qui tắc sau vòng đàm phán Uuguay đã được điều
chỉnh lại và được cam kết mang tính chất đa biên buộc các nước thành viên phải
cùng nhau thực hiện. Chỉ có 4 hiệp định: mua sắm chính phủ, máy bay dân dụng
cho đến hiện nay vẫn mang tính nhiều bên. Vào năm 1997, hai hiệp định về thịt
bò và sữa đã được huỷ bỏ.
Cho đến hết vòng đàm phán Tokyo, GATT hoạt động mang tính tạm thời
và có phạm vi hoạt động hạn chế. Tuy nhiên, GATT đã đem lại những thành
công rất lớn trong việc đảm bảo tự do hoá phần lớn thương mại quốc tế. Chỉ tính
đến việc cắt giảm thuế quan đã khiến cho tốc độ tăng trưởng trung bình của
thương mại thế giới lên mức trung bình trong suốt thập niên 50-60.
Chính tốc độ tự do hoá mậu dịch đã giúp cho tốc độ tăng trưởng của
thương mại luôn luôn vượt qua tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ
GATT tồn tại. Bên cạnh đó, ngày càng nhiều nước đệ đơn tham gia xin gia nhập
đã cho thấy hệ thống thương mại đa biên đã được công nhận như một công cụ
để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế, thương mại của cả thế giới nói chung
và của từng quốc gia nói riêng.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đã xuất hiện những vấn đề
mới nảy sinh. Vòng Tokyo đã cố gắng giải quyết một số vấn đề đó nhưng kết

Thứ tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT cũng gây
ra nhiều lo ngại. GATT chỉ là một hiệp định, việc tham gia không mang tính
chất bắt buộc do vậy các nước có thể tuân theo và cũng có thể không. Bên cạnh
đó, thương mại quốc tế trong những năm 80 trở đi đòi hỏi phải có một tổ chức
cố định, có nền tảng pháp lý vững chắc để có thể đảm bảo thực thi các quy định,
các nguyên tắc chung của thương mại quốc tế. Về hệ thống các quy chế giải
quyết tranh chấp, GATT cũng chưa có cơ chế chặt chẽ, chưa có thời gian biểu
nhất định do vậy các cuộc tranh chấp thường bị kéo dài, dễ đi vào ách tắc.
Đây là những nhân tố khiến cho các thành viên của GATT tin rằng phải có
những nỗ lực mới nhằm củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên.
Những nỗ lực đó đã dẫn đến kết quả có vòng đàm phán Uruguay, tuyên bố
Marrakesh và việc tổ chức thương mại thế giới WTO ra đời.
1.1.2. Vòng đàm phán Uruguay và sự ra đời của WTO
1.1.2.1. Vòng đàm phán Uruguay
Vòng đàm phán Uruguay là vòng đàm phán lớn nhất cả về thời gian và các
lĩnh vực thương mại. Vòng này kéo dài 7 năm rưỡi, gần bằng 2 lần thời gian dự
định ban đầu. Đến cuối vòng đàm phán số nước tham dự đă lên tới 125 nước;
đây thực sự là vòng đàm phán thương mại lớn nhất từ trước tới nay và có lẽ đây
cũng là cuộc đàm phán thuộc loại lớn nhất trong lịch sử.
Một số thời điểm chủ chốt của vòng Uruguay:
• Tháng 9/86 Punta del Este: bắt đầu.
• Tháng 12/88 Montreal: rà soát giữa kỳ của các bộ trưởng.
• Tháng 4/89 Geneva: Rà soát giữa kỳ hoàn thành.
• Tháng 12/90 Brussels: bế mạc hội nghị bộ trưởng trong bế tắc.
• Tháng 12/91 Genneva: Dự thảo đầu tiên của "Hiệp định cuối cùng"
được hoàn thành.
• Tháng 11/92 Washington: Mỹ và EC đạt được mức bột phá mang tên
"Blair House" trong lĩnh vực nông nghiệp.
• Tháng 7/93 Tokyo: Nhóm Quad đạt được bước đột phá về mở cửa thị
trường tại hội nghị thượng đỉnh G7.

năm 1990, nhưng do bất đồng quan điểm giữa các bên về cách thức tiến hành
cải cách hệ thống thương mại hàng nông sản nên đã phải kéo dài. Đây là thời kỳ
vòng Uruguay đang đi vào giai đoạn khó khăn nhất. Cho dù viễn cảnh chính trị
đen tối, một khối lượng công việc kỹ thuật đáng kể đã được thực hiện và dẫn
đến kết quả là có một dự thảo hiệp định pháp lý cuối cùng, dự thảo này được gọi
là “Dự thảo luật cuối cùng”. Dự thảo này được đệ trình tại Geneva vào năm
1991. Dự thảo đã hoàn tất được tất cả các mục tiêu đề ra tại Punta del Este,
ngoại trừ danh mục cam kết cắt giảm thuế quan và mở cửa thị trường dịch vụ
của các nước. Dự thảo này đã trở thành cơ sở để có được sự thống nhất cuối
cùng.
Trong vòng hai năm tiếp theo, các cuộc đàm phán đã đứng giữa hai ngả,
một bên là thất bại cận kề, một bên là thành công với tới được. Một vài thời hạn
cuối cùng được đưa ra và bị vượt quá. Tại vòng đàm phán đã nảy sinh những bất
đồng quan điểm bên cạnh vấn đề nông nghiệp; đó là dịch vụ, mở cửa thị trường,
các qui tắc chống bán phá giá và đề xuất về việc thành lập một tổ chức thương
mại mới. Tại đây, bất đồng quan điểm của Mỹ và EU chính là nguyên nhân
quan trọng nhất khiến cho vòng đàm phán chưa thể kết thúc thành công được.
Tháng 11 năm 1992, Mỹ và EU đã thống nhất được phần lớn sự khác biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp, cả hai đã đưa ra được một thỏa thuận mang tên
“Thỏa thuận Blair House”. Đến tháng 7 năm 1993, nhóm Quad ( Mỹ, EU, Nhật,
Canada ) tuyên bố đã đạt được những thỏa thuận đáng kể trong đàm phán thuế
quan và các vấn đề liên quan đến mở cửa thị trường. Đến 15 tháng 12 năm 1993
thì tất cả mọi vấn đề đều được giải quyết và đàm phán về mở cửa thị trường cho
hàng hóa và dịch vụ được kết thúc. Ngày 15/4/1994, thỏa thuận đã được bộ
trưởng của phần lớn 125 nước tham gia hội nghị ký kết tại Marrakesh, Marốc.
Cuối cùng, vào tháng 1/1995 hội nghị bộ trưởng tại Geneva đã thống nhất
thành lập một tổ chức thương mại mới, tổ chức thương mại thế giới - World
Trade Organization - viết tắt là WTO chính thức được thành lập; các hiệp định
được kí kết tại vòng đàm phàn Uruguay bắt đầu có hiệu lực.
Nhìn chung tại một số thời điểm, vòng Uruguay có vẻ như đã thất bại, tuy

• Các điều khoản của GATT
• Các hệ thống qui định của vòng đàm phán Tokyo
• Chống phá giá
• Trợ cấp
• Tài sản trí tuệ
• Các biện pháp đầu tư
• Giải quyết tranh chấp
• Hệ thống GATT
• Dịch vụ.
1.2.2. Sự khác nhau giữa WTO và GATT
WTO là một tổ chức thương mại được thành lập trên cơ sở kế thừa GATT.
GATT sau WTO đã được sửa đổi, bổ sung và là một trong những hiệp định của
WTO. Sau đây là những khác biệt chủ chốt :
• GATT chỉ mang tính chất tạm thời. Hiệp định chung về thương mại và
thuế quan chưa bao giờ được quốc hội các nước phê chuẩn; nó không có qui
định nào về việc thành lập một tổ chức nhất định.
WTO và các hiệp định của nó mang tính thường trực lâu dài. WTO là một
tổ chức quốc tế được thành lập bởi sự nhất trí của các quốc gia thành viên. WTO
có nền tảng pháp lý vững chức bởi vì các nước thành viên đã thông qua các
hiệp định và chính các hiệp định đã mô tả phương thức hoạt động của tổ chức.
Các quốc gia thành viên phải thực hiện đúng theo các qui định, nguyên tắc của
WTO và các hiệp định của nó.
• GATT chỉ có "các bên tham gia ký kết", điều này cho thấy rõ ràng là
GATT chỉ mang tính chất một hiệp định. WTO có các nước thành viên và WTO
là một tổ chức quốc tế.
• Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT chỉ giải quyết các
vấn đề liên quan đến thương mại hàng hoá. Trong khi đó WTO là tổ chức kế
thừa và phát triển GATT, hiệp định GATT tồn tại cùng với các hiệp định khác
của WTO như hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS); hiệp định về
quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS). WTO đã đưa 3 hiệp

thành viên khác đang vi phạm qui tắc thương mại, họ sẽ sử dụng hệ thống
thương mại đa biên để giải quyết tranh chấp thay cho việc thực hiện các hành
động đơn phương.
Trước đây GATT có thủ tục để giải quyết tranh chấp nhưng nó chưa đưa ra
được thời gian biểu cụ thể, các qui định dễ bị cản trở và nhiều vụ vẫn không giải
quyết được sau một thời gian dài. WTO đã đưa ra một quy trình giải quyết tranh
chấp với thời gian và thủ tục được xác định rõ ràng hơn. Khoảng thời gian để
giải quyết một vụ tranh chấp dài hơn trước kia. Thời hạn cuối cùng cho mỗi giai
đoạn giải quyết tranh chấp rất linh hoạt. Hiệp định nhấn mạnh việc giải quyết
nhanh chóng là cần thiết. Các thủ tục và thời gian biểu phải được tuân theo
trong quá trình giải quyết.
WTO cũng không cho phép các nước thất bại trong vụ tranh chấp ngăn cản
việc thi hành quyết nghị. Theo thủ tục của GATT các quyết định chỉ có thể được
thông qua theo các thoả hiệp. Điều đó có nghĩa là chỉ cần một sự phản đối nào
đó cũng có thể ngăn việc thi hành quyết nghị. Nhưng hiện nay các quyết nghị
được thông qua một cách tự động, trừ khi có một thoả hiệp để từ chối một quyết
nghị. Bất kỳ một nước nào muốn ngăn cản một quyết nghị cũng cần phải thuyết
phục các thành viên khác (kể cả đối thủ) đồng ý với quan điểm của mình.
Tóm lại, hệ thống giải quyết tranh chấp được coi là một trong những thành
tựu lớn nhất của WTO.
1.2. Mục tiêu, chức năng và nguyên tắc hoạt động của WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là cơ quan quốc tế duy nhất giải quyết
các qui định về thương mại giữa các quốc gia với nhau. Nội dung chính của
WTO là các hiệp định được hầu hết các nước có nền thương mại cùng nhau
tham gia đàm phán và ký kết. Các văn bản này qui định các cơ sở pháp lý làm
nền tảng cho thương mại quốc tế. Các tài liệu đó về cơ bản mang tính ràng buộc
các chính phủ phải duy trì một chế độ thương mại trong một khuôn khổ đã được
các bên thống nhất. Mặc dù các thoả thuận đạt được là do các chính phủ đàm
phán và ký kết nhưng mục đích lại nhằm giúp các nhà sản xuất kinh doanh hàng
hoá và dịch vụ trong nước; các nhà hoạt động xuất nhập khẩu có thể tiến hành

nào của WTO khi thấy lợi ích của nước mình đang bị xâm hại trong hoạt động
kinh tế ở một thị trường nào đó vì có thành viên khác đang thực hiện chính sách
trái với các qui tắc của WTO thì có quyền khởi tố lên cơ quan giải quyết mâu
thuẫn mậu dịch của WTO và yêu cầu nước đó ngừng các hoạt động kinh tế xâm
hại đến lợi ích của mình. Bất cứ thành viên nào cũng phải chấp nhận khi bị các
thành viên khác khởi tố lên WTO vì đây là một trong những nghĩa vụ của mọi
thành viên, không nước nào có thể tránh khỏi.
Chức năng thứ tư của WTO: Phát triển nền kinh tế thị trường. Để nền kinh
tế thị trường hoạt động và nâng cao được hiệu quả, WTO xúc tiến việc giảm nhẹ
qui chế. Phần lớn các nước trước kia theo cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá
tập trung hiện nay đều đang chuyển sang nền kinh tế thị trường đã và đang làm
thủ tục để xin gia nhập WTO. Qua các cuộc đàm phán cần thiết để gia nhập
WTO, các nước này có thể tìm hiểu được về hệ thống kinh tế thị trường và đồng
thời xắp xếp lại những chế độ và qui tắc để có thể quản lý nền kinh tế theo cơ
chế thị trường.
1.2.3. Các nguyên tắc của WTO
Các hiệp định của WTO mang tính chất lâu dài và phức tạp vì đó là những
văn bản pháp lý bao trùm nhiều lĩnh vực hoạt động rộng lớn. Các hiệp định này
giải quyết các vấn đề liên quan đến: nông nghiệp, hàng dệt may, ngân hàng, bưu
chính viễn thông, mua sắm chính phủ, tiêu chuẩn công nghiệp, các qui định về
vệ sinh dịch tễ, sở hữu trí tuệ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên có một số
các nguyên tắc hết sức cơ bản và đơn giản xuyên suốt tất cả các hiệp định. Các
nguyên tắc đó chính là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. Sau đây là chi
tiết các nguyên tắc đó.
Nguyên tắc thứ nhất: Thương mại không phân biệt đối xử. Nguyên tắc này
được áp dụng bằng hai loại đãi ngộ song song, đó là đãi ngộ tối huệ quốc và đối
xử quốc gia.
Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): Đối xử mọi người bình đẳng như
nhau. Theo qui định của các hiệp định WTO, nguyên tắc này được áp dụng như
sau: Mỗi thành viên đối xử với mọi thành viên khác bình đẳng với nhau như là

phán để giảm thuế quan, dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Để
thực hiện nguyên tắc tự do thương mại này, WTO đảm nhận chức năng là diễn
đàn đàm phán thương mại đa phương để các nước có thể liên tục thảo luận về
vấn đề tự do hoá thương mại.
Nguyên tắc thứ ba: WTO tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình
đẳng. WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc đẩy cạnh tranh tự do,
công bằng và không bị bóp méo. Các quy định về phân biệt đối xử được xây
dựng nhằm đảm bảo các điều kiện công bằng trong thương mại. Các điều khoản
về chống phá giá, trợ cấp cũng nhằm mục đích tương tự. Tất cả các hiệp định
của WTO như Nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương
mại đều nhằm mục đích tạo ra được một môi trường cạnh tranh ngày càng bình
đẳng hơn giữa các nước.
Nguyên tắc thứ tư: Tính tiên liệu được thông qua ràng buộc thuế. Các cam
kết không tăng thuế cũng quan trọng như việc cắt giảm thuế vì cam kết như vậy
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các cơ hội trong
tương lai.
Trong WTO, khi các nước thoả thuận mở cửa thị trường cho các hàng hoá
và dịch vụ nước ngoài, họ phải tiến hành ràng buộc các cam kết thuế. Đối với
thương mại hàng hoá, các ràng buộc này được thể hiện dưới hình thức thuế trần.
Một nước có thể thay đổi mức thuế ràng buộc, tuy nhiên điều này chỉ có
thể thực hiên được sau khi nước đó đã đàm phán với các nước bạn hàng và có
nghĩa là phải bồi thường cho khối lượng thương mại đã bị mất. Qua vòng đàm
phán Uruguay, một khối lượng thương mại lớn được hưởng cam kết về ràng
buộc thuế. Tính riêng trong lĩnh vực hàng nông sản 100% sản phẩm đã được
ràng buộc thuế. Kết quả là WTO đã tạo được sự đảm bảo cao hơn cho các doanh
nghiệp và các nhà đầu tư.
Nguyên tắc thứ năm: Các thoả thuận thương mại khu vực. WTO thừa nhận
các thoả thuận thương mại khu vực nhằm mục tiêu đẩy mạnh tự do hoá thương
mại. Các liên kết như vậy là một ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ Tối huệ quốc
theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, nhằm bảo đảm các thoả thuận này tạo thuận

trạng bi đát về kinh tế. Năm 1999, Châu Phi đã đạt mức tăng trưởng 3,6% là
mức cao nhất từ hơn một thập kỷ qua
2
. Một số nước đang phát triển có tốc độ
phát triển cao đã trở thành một trong những động lực thúc đẩy nền kinh tế thế
giới. Đây là những con số tổng quan về những thành công của hoạt động của tổ
2
Nguyễn Ho ng Giáp - Các nà ước đang phát triển trong quan hệ kinh tế quốc tế ở thập niên bản lề giữa hai
thế kỷ. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 261, tháng 2/2000.
chức thương mại thế giới đối với các nước đang phát triển, làm rõ thêm những
ảnh hưởng tích cực của WTO đến các mặt của nền kinh tế:
Thứ nhất, tất cả các hàng hoá và dịch vụ của các nước đang phát triển là
thành viên của WTO đều được đối xử theo các nguyên tắc, quy định của WTO;
được đối xử bình đẳng, không phân biệt đối với hàng hoá và dịch vụ của các
nước phát triển. Các loại hàng hoá và dịch vụ này khi được xuất khẩu sang bất
kỳ một thị trường của một nước thành viên nào kể cả Mỹ hay EU đều được
hưởng mọi quyền lợi mà chính phủ nước đó dành cho hàng hoá và dịch vụ nước
mình.
Thứ hai, các rào cản thuế và phi thuế quan đều buộc phải cắt giảm, các biện
pháp hạn chế định lượng đều bị cấm sử dụng được áp dụng cho mọi thành viên
của WTO không loại trừ một thành viên nào của WTO. Do đó cơ hội xuất khẩu
của các nước đang phát triển gia tăng rõ rệt, thị trường tiêu thụ hàng hoá và dịch
vụ được mở rộng. Các nước đang phát triển đã và sẽ tập trung chuyên môn hoá
các mặt hàng mà mình có lợi thế, nhằm thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài.
Thứ ba, sản xuất trong nước được chú trọng và thu hút được nhiều lao
động, tạo được nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân, đặc biệt là trong
những ngành nghề sản xuất phục vụ xuất khẩu làm tăng nhanh sự tăng trưởng
của nền kinh tế và xã hội của nước đó.
Thứ tư, là thành viên của WTO, có nghĩa là các nước đã tạo dựng được một

các nước đang phát triển và sau thời gian làm việc cho các hãng, công ty kinh
nghiệm, tay nghề và trình độ của người lao động được nâng lên, có khả năng
tiếp cận với nền công nghiệp tiên tiến, khi trở về tổ quốc, họ sẽ trở thành nguồn
nhân lực quan trọng cho phát triển đất nước.
2.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, những lợi ích không nhỏ, nhận được
từ WTO, các nước đang phát triển phải đối mặt với những ảnh hưởng tiêu cực
của nó:
Thứ nhất, trong tổ chức thương mại thế giới, theo các nguyên tắc của nó,
mọi thành viên đều được đối xử như nhau, đều được hưởng mọi đãi ngộ MFN
và NT, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của các nước đều được giảm
dần... chính vì vậy, thị trường tiêu thụ được mở rộng, các nước đều tập trung sản
xuất theo định hướng xuất khẩu. Các nước đang phát triển cũng không là ngoại
lệ. Các nước này đều chú trọng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu mà mình có lợi
thế so sánh và mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất là nguyên liệu thô và các mặt
hàng công nghiệp có giá trị thấp. Tuy nhiên trên thực tế, các nước đang phát
triển cũng bị buộc phải sản xuất ra các mặt hàng có giá trị và lợi nhuận thấp đó.
Các nước phát triển sử dụng đòn bẩy thuế quan buộc các nước đang phát triển
phải tập trung khai thác và xuất khẩu hai loại hàng hoá có mức thuế thấp như
nguyên liệu thô và hàng hoá bán thành phẩm, còn mặt hàng công nghiệp có giá
trị cao thì chịu thuế cao hơn và vấn đề tìm kiếm thị trường cũng gặp nhiều khó
khăn hơn, điều này ảnh hưởng rất lớn đến nền công nghiệp nội địa của các nước
đang phát triển. Do các nước đang phát triển chỉ sản xuất được các hàng công
nghiệp có giá trị thấp, không chú trọng được vào đầu tư và phát triển các ngành
công nghiệp giá trị cao và phải nhập khẩu các mặt hàng này từ các nước phát
triển. Công nghiệp nội địa của các nước đang phát triển do đó không có cơ hội
để phát triển. Mặt khác, trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, vai trò của các
ngành công nghiệp dịch vụ và lao động kỹ năng ngày càng tăng lên và cùng với
nó là sự giảm dần tầm quan trọng của các hàng hoá sơ chế và lao động không kỹ
năng. Bên cạnh đó, sự tiến bộ trong khoa học công nghệ cũng không chỉ làm

bị thúc ép, buộc phải từ bỏ ngày càng nhiều các chính sách hiện hữu đang bảo
vệ và phát triển nền kinh tế nội địa của mình cho hàng hoá và dịch vụ của nước
ngoài tự do tràn vào, gây ra các tác động xấu:
Phải mở cửa nền kinh tế khi đất nước chưa đủ tiềm lực và sự chuẩn bị đối
phó trước những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp
trong nước chưa đủ mạnh và chưa chuẩn bị sẵn sàng để cạnh tranh với các tập
đoàn lớn, có thể các công ty, tập đoàn đó sẽ thế chân họ trên thị trường trong
nước.
Hàng hoá hoặc dịch vụ nước ngoài có thể tràn ngập thị trường, thế chỗ
hàng hóa và dịch vụ nội địa do chúng có sức cạnh tranh cao hơn, như giá rẻ hơn,
chất lượng tốt hơn. Do vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngày càng chiếm được
nhiều thị phần của khu vực nội địa.
Tình trạng chảy máu chất xám tại các nước đang phát triển gia tăng, do các
chính sách đãi ngộ cao của các nước phát triển, nhằm thu hút lao động có trình
độ cao sang làm việc cho họ. Nguồn nhân lực tại các nước đang phát triển bị
thiệt hại nặng nề, đặc biệt là nguồn nhân lực có kĩ năng cao.
Quá trình tự do hoá thương mại đã kéo theo nhiều vấn đề, ảnh hưởng xấu
đến nền văn hoá, lối sống tại các nước đang phát triển, du nhập nhiều sách báo,
văn hoá phẩm không lành mạnh, làm cho nhận thức của người dân bị sai lệch,
do ảnh hưởng của lối sống nước ngoài; tình trạng xung đột bạo lực ngày một gia
tăng...Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, do tình trạng khai thác bừa bãi, các
chất độc hại của các khu công nghiệp thải ra môi trường không kiểm soát được.
Trong xã hội, tình trạng bất bình đẳng ngày càng trầm trọng, người giàu càng
giàu thêm, người nghèo càng nghèo đi, sự bất bình đẳng vốn đã ngấm ngầm
trong xã hội về giai cấp, sắc tộc, màu da... hiện nay càng trở nên rõ rệt và sâu
sắc hơn bao giờ hết.
2.2. Những cơ hội và thách thức đặt ra đối với các nền kinh tế đang phát
triển trong qúa trình thực hiện một số hiệp định của WTO
2.2.1. Hiệp định về tự do hàng nông sản
2.2.1.1. Nội dung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status