z
Nghiên cứu triết học
CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU
TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
VỀ VẤN ĐỀ MƯU CẦU HẠNH
PHÚC CÁ NHÂN VÀ Ý NGHĨA
CỦA NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI TA
HIỆN NAY
CÁC QUAN ĐI
ỂM KHÁC NHAU TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VỀ VẤN
ĐỀ MƯU CẦU HẠNH PHÚC CÁ NHÂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI
XÃ HỘI TA HIỆN NAY
NGUYỄN TẤN HÙNG (*)
Hạnh phúc và mưu cầu hạnh phúc cá nhân là vấn đề luôn được quan tâm
trong lịch sử triết học. Bài viết điểm qua các quan niệm trong lịch sử triết học
tất cả mọi tôn giáo trong lịch sử. Tuy nhiên, suy cho cùng, đây chỉ là điều
mong ước chủ quan của con người, trái với quy luật khách quan và tính khả thi
của nó không có gì chứng thực được. Nhà thiên văn học Mỹ nổi tiếng Carl
Sagan đã có câu nói chí lý: “Thà rằng sự thật nghiệt ngã còn hơn điều tưởng
tượng để an ủi”.
Đối lập với chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, phái Charvaka (còn gọi là Lokayata)
- một trào lưu triết học duy vật vô thần ở Ấn Độ cổ đại - lại bác bỏ ảo tưởng ở
kiếp sau, phản đối phương pháp tu luyện khổ hạnh. Họ khẳng định: quan niệm
cho rằng những khoái lạc gắn với những sự vật cảm tính là không tránh khỏi đi
liền với những đau khổ là những lý lẽ ngu ngốc. Nó cũng giống như bảo rằng
chúng ta hãy ném bỏ những hạt thóc đi vì chúng gắn liền với cái vỏ trấu và bụi
đất; không có thiên đường, không có sự giải thoát, không có linh hồn ở thế giới
khác; không có nghiệp báo; không ai có thể thoát khỏi cái chết. Khi đã có cuộc
sống thì bạn hãy sống một cách vui vẻ.
Quan điểm này, về cơ bản là đúng, nhưng còn mang tính chất thô thiển nên bị
các khuynh hướng tôn giáo chống đối mãnh liệt và bị coi là một thứ chủ nghĩa
khoái lạc.
Ở Trung Hoa, Việt Nam và một số nước khác, trong suốt thời kỳ phong kiến,
tuy không biết đến biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa khổ hạnh hay chủ nghĩa
khoái lạc, nhưng lối sống của xã hội cũng chịu ảnh hưởng của hai khuynh
hướng đối lập nhau. Trước hết là khuynh hướng nhập thế của Nho gia, chủ
trương người trí thức phải học hành đến nơi đến chốn và đem tài năng của
mình ra giúp đời, giúp nước. Hạnh phúc lớn nhất của người quân tử là được
cống hiến cho xã hội, lập được công danh. Khổng Tử đã từng phân biệt quan
niệm về hạnh phúc của người quân tử với quan niệm của kẻ tiểu nhân. Ông
nói: “Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến chỗ ở; quân tử quan tâm đến
phép tắc, tiểu nhân quan tâm đến ân huệ”(1).
Ngược lại, những người theo phái Đạo gia (do Lão Tử sáng lập, Trang Tử phát
triển) đã coi hạnh phúc cá nhân là ở cuộc sống vô vi, nhàn hạ, hòa hợp với tự
nhiên. Sống hạnh phúc là sống thanh đạm, biết đủ, biết dừng, không tham lam,
loại trừ được những tác động từ thế giới bên ngoài và tìm thấy sự yên bình bên
trong tâm hồn.
Đối lập với các khuynh hướng khắc kỷ nêu trên, chủ nghĩa khoái lạc cũng phát
triển mạnh trong suốt lịch sử triết học phương Tây, từ cổ đại đến hiện đại.
Phái Xirenait (Cyrenaics) do Arixtíp (Aristippus, khoảng 430-350 TCN.), một
môn đồ của Xôcrát, sáng lập, là một thứ chủ nghĩa khoái lạc tầm thường, vị kỷ,
đưa ra một học thuyết mà theo đó, sự thỏa mãn những dục vọng trực tiếp của
cá nhân, không cần quan tâm đến người khác, được coi là mục đích tối cao.
Những khoái cảm xác thịt, theo phái này, còn đáng giá hơn những niềm vui trí
tuệ hư ảo và phức tạp. Thực tế lịch sử đã cho thấy sai lầm cơ bản trong quan
điểm của phái này, vì khi cá nhân con người chạy theo những khoái cảm xác
thịt tầm thường thì không thể có được hạnh phúc toàn diện, lâu dài được.
Trái với chủ nghĩa khoái lạc vị kỷ, chủ nghĩa khoái lạc Êpiquya, gắn với
trường phái triết học do Êpiquya (Epicurus, 341 - 271 TCN.) sáng lập, là một
thứ chủ nghĩa khoái lạc lý tính. Phái Êpiquya cho rằng, khoái lạc chân chính
chỉ có thể đạt được bằng lý trí. Họ đề cao những phẩm hạnh như tính tự chủ và
sự cẩn trọng. Khoái lạc lớn nhất là ở cuộc sống bình dị và điều độ, tiêu dao với
bè bạn và cùng đàm luận triết học với họ. Họ lập luận rằng, sẽ là không tốt nếu
làm điều gì đó để có được khoái cảm nhất thời nhưng lại gây ra hậu quả xấu
cho tương lai, chẳng hạn, sự hoang dâm quá độ sẽ có hậu quả bất hạnh về sau.
Ở thế kỷ XVIII và XIX, những nhà triết học Anh, như Gierơmi Bentam
(Jeremy Bentham, 1748 - 1832), và Giôn Xtuat Minlơ (John Stuart Mill, 1806
– 1873) đã đề xuất học thuyết khoái lạc phổ quát, được gọi là chủ nghĩa vị lợi
(utilitarianism). Theo Bentam, tiêu chuẩn cuối cùng của hành vi đạo đức của
cá nhân là làm điều lợi cho xã hội theo nguyên tắc “hạnh phúc lớn nhất cho số
đông người nhất” (the greatest happiness for the greatest number). Minlơ đã
phát triển và hoàn thiện tư tưởng của Bentam. Song, khác với Bentam, Minlơ
đã phân biệt sự khác nhau về chất giữa các loại khoái cảm (pleasures). Ông
cho rằng, những khoái cảm tinh thần và đạo đức cao hơn những khoái cảm vật
chất. Cũng có sự khác nhau giữa hạnh phúc (happiness) và sự mãn nguyện
phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng
đồng mới có thể có tự do cá nhân”(4). Chính vì vậy, chủ nghĩa cộng sản đặt ra
cho mình mục đích là phát triển tự do, toàn diện và hạnh phúc trọn vẹn của cá
nhân, nhưng không phải là của một số cá nhân giàu có, mà của tất cả mọi cá
nhân, nghĩa là của toàn thể cộng đồng. Biện chứng giữa cá nhân và xã hội còn
cho ta thấy cái cá nhân và cái xã hội quy định, chế ước lẫn nhau. Cá nhân chỉ
thật sự có hạnh phúc khi được sống trong một cộng đồng mà mọi người đều có
hạnh phúc, khi được mọi người thương yêu, tôn trọng và chính mình cũng góp
phần đem lại hạnh phúc cho những người khác.
Chính C.Mác, trong lúc còn rất trẻ, đã tiếp cận được chân lý đó khi nói rằng,
nếu ta chọn một nghề mà phục vụ được nhiều cho xã hội thì nỗi khó nhọc, vất
vả trong công việc sẽ vì thế mà vơi đi. Anbe Anhxtanh (Albert Einstein), nhà
khoa học vĩ đại của thế kỷ XX, cũng khẳng định mục đích cuộc sống của mỗi
chúng ta là vì người khác, “trước hết vì những người mà hạnh phúc của riêng
ta phụ thuộc hoàn toàn vào nụ cười và sự yên ấm của họ, kế đến là vì bao
người không quen mà số phận của họ nối với ta bằng sợi dây của lòng cảm
thông”(5). Điều này giải thích tại sao những nhà hoạt động chính trị lấy việc
phấn đấu cho lợi ích của dân tộc, nhân loại làm niềm hạnh phúc của mình;
những nhà khoa học hy sinh cả cuộc đời vì sự nghiệp khoa học phục vụ nhân
loại; những người dân bình thường khác trong xã hội không ngần ngại trích
một phần thu nhập của mình để làm công việc từ thiện.
Thứ hai, con người là một chủ thể hoạt động. Do đó, sự nhàn hạ, vô vi, yên
tĩnh… không thể đem lại hạnh phúc cho con người. Chúng chỉ có ý nghĩa là
những khoái cảm mà con người tìm thấy sau một thời gian lao động mệt nhọc,
phấn đấu căng thẳng mà thôi. Anhxtanh đã tìm thấy hạnh phúc của mình ở
“thiên đường khoa học”. Ông phê phán lối sống nhàn hạ, vô vi. Ông nói: “Tôi
không bao giờ tìm kiếm sự nhàn hạ và sự sung sướng như là mục đích tự thân”
và “Không có tình cảm đồng loại, không có công việc bận rộn với thế giới
khách quan với những nỗ lực không bao giờ đạt được hoàn toàn trong lĩnh vực
nghệ thuật và khoa học thì cuộc sống đối với tôi sẽ hình như vô nghĩa”(6).
luôn bị xã hội coi khinh, pháp luật trừng trị; như vậy, trước sau cũng không thể
nào sống yên bình, hạnh phúc được.
Thứ ba, hạnh phúc cá nhân không chỉ thể hiện ở việc thỏa mãn nhu cầu, đạt
được mục đích, mà là quá trình con người không ngừng phấn đấu, từ chỗ đặt
ra mục đích, vạch kế hoạch, tìm kiếm phương tiện, đến việc phấn đấu thực
hiện và đạt được những mục đích đó. Khi con người thỏa mãn được một nhu
cầu, đạt được một mục đích nào đó thì cảm thấy hạnh phúc; tuy nhiên, nếu
dừng lại ở đó, khoái cảm hạnh phúc cũng sẽ dần mất đi. Hơn nữa, con người
cảm thấy hạnh phúc ngay trong quá trình thực hiện chứ không phải đợi đến khi
đã đạt được mục đích đó. Điều bất hạnh lớn nhất đối với con người là thiếu
mục đích, thiếu lý tưởng, không có gì để phấn đấu trong cuộc sống. Trong giai
đoạn hiện nay, kinh tế thị trường với những cám dỗ vật chất của nó đã ảnh
hưởng rất lớn đến lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,
thanh niên và một số tầng lớp khác trong xã hội ta. Người ta đã đồng nhất hạnh
phúc với việc có nhiều tiền, thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu vật chất từ ăn,
mặc, ở, đi lại đến nhu cầu tính dục. Đáng buồn hơn cả là có một bộ phận
không nhỏ học sinh, sinh viên, thanh niên của chúng ta chạy theo lối sống gấp,
cốt thỏa mãn những khoái cảm trước mắt. Các em bỏ bê việc học tập để suốt
ngày rong chơi; một số thì đắm mình trong các trò chơi điện tử hoặc thậm chí
la cà ở các vũ trường; một số khác thì tham gia vào các nhóm trộm cướp, trấn
lột và làm những việc phạm pháp khác. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu gây
ra tình trạng ngày giảm sút chất lượng học tập ở các trường phổ thông, đại học
trong cả nước. Nguyên nhân, một mặt, là tâm lý chán nản của một số học sinh,
sinh viên trước những khó khăn, vất vả của công việc học hành và, mặt khác, là
sự thiếu bản lĩnh kìm chế, làm chủ bản thân trước những cám dỗ vật chất tầm
thường. Những điều này lại có nguyên nhân sâu xa hơn, là sự suy giảm ý thức
về lý tưởng, về mục đích sống, khiến các em không có được những định hướng
đúng đắn cho chính cuộc đời mình.
Do đó, những vấn đề, như thế nào là hạnh phúc?, tại sao phải sống có đạo
đức? cần được trả lời một cách thuyết phục. Tất nhiên, theo quan điểm duy
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.29.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.3, tr.108.
(5) Albert Einstein. The world as I see it. Philosophical Library, New York,
1959, pp. 1-2.
(6) Albert Einstein. Ibid.
(7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, t.4. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.161,
240.
(8) Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sđd., tr.280.
(9) Albert Einstein. Ibid.