VỀ VẤN ĐỀ “TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ”
NGUYỄN XUÂN TẾ
Tiến sĩ Khoa học chính trị, ĐH Luật TP. Hồ Chí
Minh
1. Bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
Từ mấy thập kỷ cuối thế kỷ vừa qua, sự phát triển
như vũ bão của lực lượng sản xuất đã phá vỡ mọi
hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con
người về mọi mặt giữa các quốc gia.
Điều này đã khiến các nền kinh tế của các quốc gia
gắn bó hữu cơ và tùy thuộc vào nhau. Tính thẩm thấu
lẫn nhau của các nền kinh tế đẩy quốc tế hóa kinh tế
lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hóa nền kinh tế
thế giới. Phân công lao động quốc tế dẫn đến phương
châm kinh doanh lấy thế giới làm nhà máy của mình,
lấy các quốc gia khác làm phân xưởng của mình đặng
lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức lao động và thị
trường của các nước, thúc đẩy quốc tế hóa sản xuất
phát triển nhanh chóng
Căn cứ vào xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh
mẽ, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của tất cả
các dân tộc trên thế giới, năm 1997, Quỹ Tiền tệ
Quốc tế IMF đã đưa ra nhận xét: “Sự tham gia mạnh
mẽ hơn của các nước đang phát triển là một trong
những nét nổi bật của quá trình mở rộng thương mại
và trao đổi vốn trên thế giới trong mười năm qua”.
Thật vậy, nhịp độ hội nhập của nền kinh tế thế giới
thực tế đã tăng nhanh đáng kể trong những thập kỷ
gần đây cùng với những bước phát triển sâu rộng của
thương mại trên khắp toàn cầu trong mọi lĩnh vực, có
nghĩa là không chỉ trao đổi hàng hóa mà cả trao đổi
Thêm vào đó là sự tác động trực tiếp rất mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Ở
Nhật Bản, nguyên Thủ tướng Obuchi đề ra mục tiêu
của phát triển công nghệ thông tin là đến năm 2005
tạo ra một xã hội trong đó mọi người có thể sử dụng
các dịch vụ Internet và thu thập, xử lý và gửi thông
tin một cách tự do tùy ý. Một dẫn chứng nữa là sự
tăng lên nhanh chóng của việc sử dụng điện thoại di
động ở Nhật bản, đặc biệt là sự bùng nổ dữ dội của
loại điện thoại di động i-mode do NTT DoCoMo
cung cấp. Đây có thể là một điềm báo trước cho sự
kết thúc của một kỷ nguyên, trong đó máy tính cá
nhân là một nền móng thống trị duy nhất đối với
những người sử dụng công nghệ thông tin.
Cũng cần phải chú ý là sự phát triển của các công
nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông
tin…) đã làm thay đổi chất lực lượng sản xuất của
loài người, đã đưa loài người từ văn minh công
nghiệp lên văn minh tin học, đã tạo thành kinh tế tri
thức, hình thành mạng tính toàn cầu. Chính sự phát
triển của công nghệ thông tin hiện đại đã rút ngắn đến
mức cao các khoảng cách, thậm chí còn rỡ bỏ các
hàng rào ngăn cách về không gian và thời gian giữa
các vùng trên thế giới. Các thị trường và sản phẩm
mang tính toàn cầu hơn. Những sản phẩm của Nike
và Virgin được toàn thế giới biết đến.
Những thành tựu phát triển như mạng Internet đã làm
cho thế giới trở thành “một ngôi làng toàn cầu” trong
tương lai gần.
Kết quả thật sự là hàng hóa và dịch vụ có thể được
(WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Các tổ
chức này có vai trò ngày càng to lớn đối với quá trình
toàn cầu hóa. Sự ra đời của chúng là kết quả của quá
trình toàn cầu hóa kinh tế, do nhu cầu của toàn cầu
hóa kinh tế, nhưng đến lượt mình, chúng lại trở thành
nhân tố thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế cả bề rộng lẫn
chiều sâu.
WTO là một thể chế kinh tế toàn cầu chi phối hơn
90% tổng kim ngạch thương mại thế giới. Chức năng
chủ yếu của WTO là điều hành và thực thi các hiệp
định thương mại đa phương và hiệp định giữa một số
bên cấu thành WTO; hoạt động với tính chất một
diễn đàn cho các cuộc thương lượng mậu dịch đa
phương tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp
thương mại, giám sát các chính sách thương mại quốc
gia, và hợp tác với các thiết chế quốc tế khác liên
quan tới hoạch định chính sách toàn cầu. Nhưng
trong thực tế hoạt động của mình, WTO không dừng
ở phạm vi thương mại mà đã can thiệp sâu vào nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội, vượt qua mọi biên giới
quốc gia, áp đặt lên toàn thế giới những luật lệ có lợi
cho sự thống trị của chủ nghĩa tư bản.
Cũng trên phương hướng ấy, IMF và WB cũng can
thiệp sâu vào các nước thông qua các luật lệ của mình
về tín dụng, tài chính, đầu tư. Điều đó thể hiện rất rõ
qua việc IMF và WB tham gia giải quyết khủng
hoảng tài chính, tiền tệ ở Thái Lan, Inđônêxia, Hàn
Quốc, Liên bang Nga, Braxin… trong thời gian vừa
qua.
Có thể nói IMF, WB và WTO là những tổ chức đặt
và các nước đang phát triển.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thúy Anh đã cung cấp cho
chúng ta những số liệu cụ thể (Tạp chí Cộng sản số 6
tháng 3 năm 2000) để chứng rõ về phía các nước
đang phát triển, sau một thời gian tham gia hội nhập
vào nền kinh tế thế giới, tình hình kinh tế và vị thế
của một số nước (đặc biệt là những nước có nền kinh
tế mới nổi) được cải thiện đáng kể. Các nước đang
phát triển đã thu hút và sử dụng một lượng khá lớn
vốn nước ngoài và cùng với nguồn vốn đó, vốn trong
nước cũng được huy động. Nhiều nước đã có đầu tư
ra nước ngoài, đầu tư vào các nước phát triển. Theo
báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD năm 1996
(trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu
Á) các nước đang phát triển tiếp nhận 129 tỉ USD
FDI và đầu tư ra nước ngoài 51 tỉ. Đến năm 1999
FDI vào các nước này tăng lên mức kỷ lục: 198 tỉ
USD trong đó 97 tỉ vào Mỹ Latinh (Braxin chiếm 31
tỉ), châu Á: 91 tỉ (Trung Quốc chiếm 40 tỉ). Các nước
đang phát triển nắm giữ 11 công ty xuyên quốc gia
của thế giới, trong đó lớn nhất là Petroleos
(Vênêxuêla), có tổng trị giá tài sản 47,1 tỉ USD. Cơ
cấu kinh tế đã có nhiều biến đổi theo hướng giảm tỷ
trọng các ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ. Trong lĩnh vực xuất khẩu (chỗ dựa
của tăng trưởng kinh tế ở các nước này), cơ cấu hàng
xuất khẩu được cải thiện, chất lượng hàng hóa được
nâng cao hướng tới các tiêu chuẩn quốc tế, tỷ trọng
thành phẩm trong xuất khẩu đã tăng từ 5,65 (1980)
lên 77,7% năm 1994. Cơ sở hạ tầng về kinh tế được
1996. Chỉ riêng Malaixia đã tiếp nhận một lượng FDI
còn nhiều hơn tổng khối lượng của cả khu vực châu
Phi gộp lại. Mặt khác, ngay trong phạm vi châu Phi,
sự phân chia giữa các nước cũng hết sức khác biệt. Ví
dụ, Nigiêria đã thu hút tới 44% tổng lượng FDI rót
vào toàn châu lục. Một cách khái quát hơn, những
nước kém phát triển nhất không tham gia vào trào lưu
chung của các luồng FDI gia tăng và tỷ trọng của
nhóm nước này trong tổng lượng lưu thông vốn toàn
cầu là dưới 1%.
Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, tình hình cũng
không sáng sủa hơn bao nhiêu. Riêng 12 nước:
Achentina, Braxin, Chilê, Mêhicô, Trung Quốc,
Hồng Công, Malaixia, Hàn Quốc, Xingapo, Đài
Loan, Thái Lan, Inđônêxia trong khối các nước đang
phát triển đã chiếm tới 70% lượng hàng xuất khẩu
của cả khối. Vẫn nhóm nước và lãnh thổ này đã tiếp
nhận 80% lượng vốn đầu tư và hơn 90% lượng vốn
kinh doanh chứng khoán rót vào các nước đang phát
triển.
Tỷ trọng của châu Phi trong kim ngạch trao đổi hàng
hóa và dịch vụ toàn cầu không ngừng giảm sút từ 5%
vào năm 1950 xuống còn 2% vào năm 1998 (WTO
1999). Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu tính theo GDP
cũng giảm xuống. Hơn nữa, xuất khẩu luôn tập trung
vào các sản phẩm sơ đẳng, còn quan hệ mậu dịch thì
ngày càng đi xuống. Vấn đề chủ yếu mà các nền kinh
tế châu Phi phải đương đầu chính là cơ cấu sản xuất
công nghiệp và mức độ chuyên môn hóa của họ.
Một thực tế nữa buộc ta phải thừa nhận là trào lưu
nước có nền kinh tế phát triển cao có thể sử dụng
nhiều cơ chế phúc lợi khác nhau để đối phó với thất
nghiệp, tỷ lệ xí nghiệp phá sản cao trong thời kỳ kinh
tế suy thoái) hầu hết các nước đang phát triển do thực
lực tư bản trong nước và kết cấu của nó còn thấp
kém, chưa thật thích hợp với cơ chế thị trường, lại
dựa nhiều vào vốn nước ngoài nên “chu kỳ kinh
doanh” đôi khi có nghĩa là nạn đói, sự thiếu thốn các
nhu cầu thiết yếu về lương thực, sự mất ổn định về an
ninh, chính trị, xã hội, thậm chí dẫn tới hỗn loạn, đảo
chính, nội chiến. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu Á năm 1997 đã làm cho hơn 1000
tỉ USD sức mua của các nước châu Á bị tàn phá, các
khoản tiền tiết kiệm được tung ra để chống đỡ với
những chấn động về tài chính đã kéo lùi tốc độ tăng
trưởng của các nước này xuống dưới số 0. Riêng ở
Inđônêxia, một năm sau cuộc khủng hoảng, số người
nghèo tăng từ 30 triệu lên trên 80 triệu người.
Với tương quan như phân tích ở trên về tiềm lực kinh
tế, các nước kinh tế phát triển do có nhiều lợi thế
đang muốn thúc đẩy nhanh quá trình tự do hóa
thương mại; ngược lại các nước đang phát triển
không muốn tốc độ tự do hóa thương mại diễn ra quá
nhanh vì nó vượt quá sự phát triển của nền kinh tế
trong nước, do đó sẽ mang lại cho nền kinh tế sự mất
mát nhiều hơn. Bởi vậy các nước này đang cố gắng
duy trì chế độ bảo hộ để bảo vệ sản xuất trong nước
và chủ quyền kinh tế. Ở vào thế bất lợi hơn khi tham
gia vào toàn cầu hóa kinh tế, các nước đang phát triển
không thể tránh khỏi các chính sách mang tính áp đặt,
thuộc Third World Network (Mạng lưới thế giới thứ
ba), Naomi Kleir, người Canada, nữ tác giả cuốn “No
logo” được xem như thánh kinh của những người
chống toàn cầu hóa cùng nhiều người khác nữa.
Mùa thu năm 1989, khi Bộ trưởng các nước từ khắp
thế giới họp hội nghị của WTO ở Seattle, 50.000
người chống toàn cầu hóa đã kéo đến đấy. Tổ chức
đứng ra phối hợp hành động là “Diễn đàn quốc tế về
toàn cầu hóa” có trụ sở ở California. Chiến thuật của
họ khá mới mẻ và có hiệu quả: không có biểu tình
đông người mà phân tán thành từng toán nhỏ chặn
đường ở các ngã tư, trước cửa các khách sạn có đại
biểu đang trú tại đấy, lối vào hội trường nơi diễn ra
hội nghị, khiến cho nhiều đại biểu không đến được
hội nghị.
Phong trào đã mang lại một số kết quả. Theo
Business Week, 52% người Mỹ được hỏi đã tuyên bố
ủng hộ những hoạt động chống đối ở Seattle. Một số
tập đoàn đã phải cải tiến các điều kiện lao động. Và
mưu đồ của nguyên Tổng thống Mỹ Bill Clinton mở
rộng vùng tự do mậu dịch đến châu Mỹ Latinh đã vấp
phải sự khước từ mãnh liệt. Các chính phủ châu Âu
đã chống lại việc xem văn hóa phụ thuộc duy nhất
vào quy luật thị trường.
Với động cơ có thể rất khác nhau, các nhóm trong
phong trào ít nhất cũng nhất trí một điều: các công ty
đa quốc gia và tài chính đang xây dựng một trật tự
mới, trong đó một thiểu số giàu có lên trong khi đại
đa số nghèo đi. Họ tố cáo những mặt tiêu cực của
toàn cầu hóa: những thụt lùi về xã hội, thất nghiệp
đảo lộn chương trình nghị sự như các cuộc biểu tình
trước đây đã làm bên Hội nghị của WTO tại Seattle,
nhưng “Diễn đàn xã hội” lần đầu tiên này lại tỏ ra có
hiệu quả hơn nhiều. Nó được đánh giá như mốc khai
sinh của một phong trào quốc tế mới chống lại những
bất công do quá trình toàn cầu hóa gây ra.
Số lượng người tham gia Diễn đàn này đã vượt quá
mức dự đoán của những người tổ chức. Theo dự kiến,
sẽ có 2.500 người đến dự Diễn đàn, nhưng trên thực
tế đã có tới hơn 10.000 đại biểu từ 120 nước tham dự
cùng hơn 1000 nhà báo. Tuy Diễn đàn xã hội thế giới
Pooctô Alêgri không đưa ra một bản tuyên ngôn quan
trọng nào, nhưng đây sẽ là bước khởi đầu của một
giai đoạn mới trong việc khẳng định vai trò của các
tổ chức xã hội thế giới trong cuộc đấu tranh chống
mặt trái của quá trình toàn cầu hóa. Mục tiêu đầu tiên
của Diễn đàn xã hội thế giới về cơ bản đã thành công:
đó là nâng cao nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về
toàn cầu hóa cũng như phát triển mạng lưới hoạt
động chống lại mặt tiêu cực của quá trình này. Diễn
đàn đã nhận được sự hậu thuẫn tích cực của khoảng
500 nghị sĩ đại diện cho hơn 100 quốc gia từ cả năm
châu lục có mặt tại Diễn đàn về quyết định thành lập
một mạng lưới nghị viện quốc tế ủng hộ đối với các
phong trào xã hội và quần chúng phản đối toàn cầu
hóa.