Mối quan hệ giữa hạnh phúc với đạo đức trong triết học phương tây trước mác và ý nghĩa của nó đối với giáo dục đạo đức ở việt nam hiện nay - Pdf 16

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ thời đại nào vấn đề hạnh phúc luôn chiếm vị trí trung tâm
trong đời sống xã hội. Tất cả các tôn giáo đều có mục đích cuối cùng là mưu
cầu hạnh phúc cho con người ở “Thiên đường” hay “Niết bàn” cực lạc. Các
quan điểm thế tục thì mưu cầu hạnh phúc cho con người ở thế giới hiện thực.
Quyền mưu cầu hạnh phúc được ghi trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ,
trong Tuyên ngôn nhân quyền của Cách mạng Pháp. Độc lập, Tự do, Hạnh
phúc là mục đích của chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, như Hồ Chí Minh
đã từng nói, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc
lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [28, tr 56]. Như vậy đủ thấy hạnh phúc là mục
đích cao nhất của con người. Tuy nhiên, thế nào là hạnh phúc thì trong lịch sử
triết học phương Đông vấn đề này ít được bàn đến. Trái lại, trong lịch sử triết
học phương Tây, các tác giả từ thời cổ đại đến cận đại đều ít nhiều đều bàn
đến phạm trù “hạnh phúc” và chỉ ra mối quan hệ giữa hạnh phúc và đạo đức.
Đối với các nhà triết học phương Tây, đạo đức luôn luôn đi liền với hạnh
phúc, hạnh phúc là một phạm trù của Đạo đức học. Theo Arixtôt (Aristotle),
mục đích trực tiếp của con người không phải là cái hay, cái đẹp mà chính là
hạnh phúc. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của một
con người Hạnh phúc đồng nghĩa với đạo đức.
Quan niệm về hạnh phúc của con người có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong đời sống tinh thần nói chung và đời sống đạo đức nói riêng. Nó là một
trong những nền tảng giúp con người xây dựng những lý tưởng, mục tiêu, thái
độ sống. Nó cũng là hạt nhân, là thước đo, định hướng để con người thiết lập
các khái niệm thiện, ác, phẩm giá và hàng loạt các khái niệm nhân bản khác.
1
Ở Việt Nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc gìn giữ và
phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như xây dựng hệ giá trị đạo
đức mới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải được giải quyết. Quan niệm
nhân nghĩa của Nho giáo cho rằng hành vi đạo đức (việc nghĩa) đòi hỏi phải
hy sinh lợi ích cá nhân vì hạnh phúc của người khác; “nghĩa” và “lợi” hoàn

đại và được tranh luận trong suốt lịch sử phát triển của triết học. Tìm hiểu vấn
đề này là việc làm cần thiết để có được quan niệm đúng đắn và hệ thống, bởi
lẽ, đây là vấn đề có ý nghĩa lớn trong việc xác định lẽ sống cho mỗi người,
nhất là đối với việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
Với mục đích làm rõ một cách có hệ thống mối quan hệ giữa hạnh phúc
và đạo đức, góp phần định hướng về giá trị đạo đức cho bản thân mình và cho
xã hội nên tôi chọn đề tài Luận văn của mình “Mối quan hệ giữa hạnh phúc
với đạo đức trong triết học phương Tây trước Mác và ý nghĩa của nó đối
với giáo dục đạo đức ở Việt Nam hiện nay”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề đạo đức và quan niệm về hạnh phúc là một trong những vấn đề
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là vấn đề đạo đức trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Có thể nói rằng, cùng với sự chuyển
đổi cơ chế kinh tế, chúng ta đã và đang phải đối diện với một loạt biến đổi
diễn ra trong lĩnh vực đạo đức. Vì vậy, từ khi nước ta bước vào thời kỳ đổi
mới, vấn đề đạo đức được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau, nhưng dưới tính chất là những chủ đề nghiên cứu riêng biệt, các phạm
trù riêng lẽ, chưa trở thành hệ thống lý luận về vấn đề trên.
3
Nghiên cứu Phạm trù hạnh phúc và phạm trù đạo đức có một số công
trình, tác phẩm tiêu biểu như:
Đạo đức học, tập 1, 2, của G. Bandzeladze, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1985;
Đạo đức học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên
nghiệp, Hà Nội 1991; Giáo trình Đạo đức học của Khoa Triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, (2000), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Cơ
chế, chuẩn mực đạo đức xã hội và những hành vi đạo đức cá nhân của Đỗ
Huy, Tạp chí triết học 2002; Đạo đức mới - Đạo đức cách mạng từ các cách
tiếp cận khác nhau của Trịnh Duy Huy, Tạp chí Triết học, 2006 ; Một số biểu
hiện sung đột giá trị trong lĩnh vực đạo đức của đời sống xã hội của Nguyễn

đạo đức mới chỉ được nghiên cứu ở khía cạnh tôn giáo.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những thành tựu đã đạt được của những
người đi trước, Luận văn tiếp tục tìm hiểu, làm rõ vấn đề này, góp phần vào
việc giáo dục, định hướng đạo đức cho người Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Nghiên cứu các quan niệm trong lịch sử triết học phương Tây trước
Mác về mối quan hệ giữa hạnh phúc với đạo đức để từ đó làm rõ tính tất yếu,
nêu ra những định hướng và đề ra những giải pháp nhằm góp phần vào việc
giáo dục quan niệm về hạnh phúc phù hợp với giá trị đạo đức trong điều kiện
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn
tập trung vào thực hiện các nhiệm sau:
5
1) Làm rõ các khái niệm “đạo đức”, “hạnh phúc”. Phân tích các quan
niệm của các nhà triết học phương Tây trước Mác về hạnh phúc và mối quan
hệ giữa hạnh phúc với đạo đức để chứng minh rằng đạo đức là con đường tất
yếu để đi đến hạnh phúc.
2) Kế thừa có phê phán những nội dung về mối quan hệ giữa hạnh phúc
với đạo đức trong lịch sử triết học phương Tây trước Mác dưới ánh sáng của
triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nêu ra những định hướng và
giải pháp trong việc giáo dục quan niệm về hạnh phúc phù hợp với giá trị đạo
đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện cho việc nghiên cứu của luận văn, người thực hiện dựa trên
cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và đường lối xây dựng phát triển con
người Việt Nam của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cơ sở xem xét,
đánh giá để rút ra những kết luận về nội dung nghiên cứu.
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Vận dụng các

và đạo đức ttrong lịch sử triết học phương Tây trước Mác cũng như những
quan niệm cơ bản về đạo đức trong lịch sử triết học phương Tây trước Mác.
Từ vấn đề lý luận trong lịch sử triết học, luận văn đã rút ra những vấn đề
có ý nghĩa giáo dục định hướng trong xây dựng và phát triển con người Việt
Nam hiện nay.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu tư tưởng
triết học trước Mác về hạnh phúc và đạo đức, là một bộ phận rất quan trọng
trong Lịch sử triết học. Nghiên cứu và nắm vững mối quan hệ này sẽ góp
phần làm tăng thêm tính thuyết phục cho việc giảng dạy về đạo đức.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có nội dung chính gồm 2 chương (5 tiết).
8
NỘI DUNG
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ HẠNH PHÚC VÀ MỐI QUAN HỆ
GIỮA HẠNH PHÚC VỚI ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ
TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY TRƯỚC MÁC
Trước khi đi sâu nghiên cứu các quan điểm cụ thể của các nhà triết học
phương Tây trước Mác về hạnh phúc và mối quan hệ giữa hạnh phúc với đạo
đức, chúng ta cần làm rõ khái niệm “đạo đức”, khái niệm “hạnh phúc” và mối
quan hệ giữa hai khái niệm này trong triết học nói chung cũng như trong đạo
đức học nói riêng.
1.1. Khái niệm về đạo đức, hạnh phúc và mối quan hệ giữa hạnh
phúc với đạo đức
1.1.1. Khái niệm đạo đức
Thuật ngữ “đạo đức” trong ngôn ngữ phương Tây (thí dụ, ethics hay
morality trong tiếng Anh) xuất phát từ “ethos” trong tiếng Hy lạp và “mores”
trong tiếng Latinh đều có nghĩa là “tập tục”. Gắn với sự ra đời của Triết học

chà đạp lên hạnh phúc của người khác.
Tuy nhiên, thế nào là thiện, ác, danh dự, nghĩa vụ, lương tâm, hạnh
phúc, ngoài yếu tố khách quan, còn phụ thuộc vào sự đánh giá chủ quan
nữa. Do vậy, đạo đức ngoài tính khách quan, còn mang tính chất lịch sử, giai
cấp, dân tộc.
Tính lịch sử của đạo đức thể hiện ở chỗ: trong các học thuyết về đạo đức,
có học thuyết chỉ có giá trị thúc đẩy tiến bộ xã hội ở một thời điểm nhất định
10
nào đó, nhưng cũng có những học thuyết đạo đức có thể có giá trị lâu dài đối
với sự phát triển xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp đều
có đạo đức riêng, phản ánh những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí
giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế mà trong đó, người ta tiến
hành sản xuất và trao đổi.
Tuy nhiên, thông qua tính lịch sử và tính giai cấp của đạo đức, người ta
tìm thấy những giá trị đạo đức tương đối bền vững có tính phổ biến cho một
dân tộc, thậm chí cho cả nhân loại trong mọi thời kỳ lịch sử.
Giá trị đạo đức bao gồm những quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo
đức phù hợp với quy luật khách quan của tồn tại xã hội, có ý nghĩa thiết thực
đối với sự tồn tại, phát triển và hạnh phúc của cộng đồng xã hội, được toàn
thể cộng đồng đánh giá, chấp nhận và tự giác tuân theo.
Giá trị đạo đức cũng không phải là những cái vĩnh viễn, bất di bất dịch,
tuy nhiên nó có tính lâu dài hơn so với những quan niệm đạo đức thông
thường.
Vì vậy, đạo đức là biểu hiện mối quan hệ giữa người với người trong xã
hội, thể hiện từ ý thức đạo đức tới hành vi đạo đức. Theo nghĩa hẹp, đạo đức
thể hiện mặt hành vi, thái độ, cách ứng xử, từ nhận thức tới hành động của
con người. Theo nghĩa rộng, đạo đức bao hàm cả những yếu tố thuộc về quan
hệ xã hội, nền tảng kinh tế, hoàn cảnh, điều kiện lịch sử để dẫn tới sự chi phối
nhận thức và hành động của con người trong đời sống xã hội.

Đạo đức cũng thể hiện chức năng điều chỉnh hành vi. Muốn cho sự phát
triển của xã hội và con người trong xã hội đó đúng hướng và ngày càng tốt
đẹp, tất yếu phải có hệ thống các nguyên tắc, quy tắc chuẩn mực để điều
12
chỉnh hành vi con người. Thông qua các quan hệ trung gian, trực tiếp hoặc
gián tiếp như pháp luật, văn học, nghệ thuật, truyền thống, tôn giáo mà đạo
đức chuyển hóa thành các yêu cầu chuẩn mực để định hướng hành vi. Phương
thức điều chỉnh hành vi của đạo đức không phải bằng sự áp đặt, bắt buộc, mà
bằng ý thức tự giác của chủ thể để điều chỉnh hành vi đạo đức.
Chức năng định hướng giá trị của đạo đức xuất phát từ chức năng giáo dục
và chức năng điều chỉnh hành vi. Định hướng giá trị trên cơ sở lựa chọn các giá
trị đạo đức phù hợp để tự giác nhận thức và hành động đúng. Định hướng giá trị
phải trên cơ sở giá trị học, nghĩa là phải xác định được nội hàm của hệ thống
phạm trù, khái niệm các giá trị đạo đức như thiện, ác, đúng, sai, cao thượng, thấp
hèn, lương tâm, vô lương tâm, hạnh phúc, bất hạnh để từ đó lựa chọn giá trị tối
ưu nhất trong các thang bậc giá trị. Định hướng giá trị bao hàm 2 quá trình: nhận
thức đúng và hành động đúng. Chỉ nhận thức đúng mà không hành động hoặc
hành động không đúng thì yếu tố định hướng giá trị không có kết quả.
Chức năng nhận thức, dù không phải là đặc trưng cơ bản nhất của giá trị
đạo đức, nhưng cũng không thể xem nhẹ chức năng này. Chức năng nhận
thức biểu hiện ở chủ thể nhận thức đó nắm bắt tính quy luật của các quan hệ
đạo đức như thế nào? Phân biệt được yếu tố giá trị và phản giá trị, xác lập
được mối quan hệ nhận thức giữa chân lý và sai lầm, thấy được vai trò, tác
động của các quan hệ đạo đức đối với con người. Có thể nói, nhận thức quy
luật của đạo đức trong đời sống xã hội là yêu cầu có ý nghĩa quyết định của
chức năng nhận thức.
Các chức năng trên có mối quan hệ thống nhất, không tách rời. Trong
đó, chức năng giáo dục là mục đích, các chức năng khác có vai trò là điều
kiện, phương pháp, cách thức để chủ thể đạo đức có thể xác lập các yếu tố
hiện thực và phù hợp, có kết quả cho quá trình giáo dục đạo đức con người.

chỉnh. Do vậy, tính tự giác, yếu tố nhân văn để điều chỉnh hành vi đạo đức là
một đặc trưng nổi bật của đạo đức. Đối với pháp luật, thông qua bộ máy
cưỡng chế của Nhà nước và các văn bản pháp luật, để bắt con người thực hiện
các nghĩa vụ của công dân trong xã hội. Phương pháp điều chỉnh đó bắt buộc
tất cả mọi người phải thực thi pháp luật, dù pháp luật đó đúng hay sai, phù
hợp hay không phù hợp với lợi ích của mình. Đạo đức điều chỉnh hành vi con
người từ tối thiểu đến tối đa, còn pháp luật điều chỉnh hành vi tối thiểu, đúng
như yêu cầu của pháp luật. Trong mối quan hệ tương ứng, hệ thống pháp luật
tiến bộ sẽ là điều kiện để hình thành và phát triển các quan hệ đạo đức tốt đẹp.
Ngược lại, hệ thống pháp luật đi ngược lại lợi ích con người cũng là yếu tố
làm cho các giá trị đạo đức tốt đẹp bị tha hóa, không có điều kiện để tồn tại và
phát triển.
Mối quan hệ giữa đạo đức và tôn giáo
Đạo đức và tôn giáo đều có nguồn gốc hình thành từ trong đời sống xã
hội, từ sự ước mong thoát khỏi đời sống khổ đau, vì một cuộc sống tương lai
tốt đẹp. Hướng tới hạnh phúc và những điều tốt đẹp trong đời sống con người
là ước mơ chung, mong muốn chung để con người ngày càng tự do, đều thể
hiện trong lý thuyết đạo đức và tôn giáo.
Ngược lại, dù là những mong muốn tốt đẹp, nhưng tôn giáo hướng tới
hạnh phúc siêu thoát ở thế giới thiên đường. Hạnh phúc thật sự của đời người
chỉ có thể đạt được giá trị tuyệt đối ở thế giới vĩnh hằng, Niết bàn của phật
giáo, thiên đường của Kitô giáo Con đường và phương pháp để đạt được
hạnh phúc phải thông qua sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thuần túy (không
hoạt động thực tiễn, không đấu tranh giai cấp ), nghĩa là bằng sự tu dưỡng
rèn luyện trong tâm tưởng, trong ý thức để đạt đến giá trị đạo đức tôn giáo.
Cho nên, phương pháp rèn luyện của tôn giáo mang tính chất duy tâm, siêu
hình. Rõ ràng, rất khó để chuyển hóa từ ước mơ đến hiện thực trong lý thuyết
15
đạo đức của tôn giáo. Vì vậy, dù có những yếu tố giống nhau như mục đích
của cuộc sống, khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác, nhưng đạo

nhân, do được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần và do không bị
chi phối bở sự lo âu, sợ hãi, phiền muộn, hối hận, đau khổ.
- Hạnh phúc có tính khách quan ở sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất
và tinh thần nhất định, thí dụ một người nghèo đói, bệnh tật, thất bại trong
tình yêu, hôn nhân thì không thể có hạnh phúc được.
- Tuy nhiên, hạnh phúc cũng có mặt chủ quan, thể hiện ở sự cảm nhận
chủ quan của mỗi người. Có người mặc dù sống trong sự đầy đủ nhưng vẫn
cảm thấy bất hạnh và đi tìm sự giải thoát bằng cách tự tử hoặc sự quên lãng
trong ma túy. Yếu tố chủ quan nhiều khi giữ vai trò quyết định cuối cùng
trong việc cảm nhận hạnh phúc. Do nhận thức và cảm nhận không đúng nên ở
nhiều người, hạnh phúc hay bất hạnh mà họ cảm nhận được chỉ là ảo tưởng,
không có tính thực tại. Ví dụ, những khoái cảm vật chất như ăn uống, tình
dục, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con xinh, .v.v., mà người đời thường cho là
những yếu tố của hạnh phúc thì đối với Phật giáo chỉ là những cái ảo, cái giả.
Trái lại. đối với Phật giáo, hạnh phúc chân chính chỉ có ở Niết bàn cực lạc, cái
mà đối với người vô thần thì không có tính thực tại vì không có gì làm bằng
chứng cả về sự tồn tại của nó.
Như vậy, sự khác nhau trong quan niệm về hạnh phúc thường thể hiện ở
quan niệm về vai trò của các yếu tố vật chất và tinh thần trong hạnh phúc.
Những người theo chủ nghĩa khoái lạc thô thiển đi tìm hạnh phúc ở sự thỏa
mãn những nhu cầu xác thịt như ăn uống, tình dục. Những người theo chủ
nghĩa khổ hạnh thì coi khinh những nhu cầu đó. Những người theo chủ nghĩa
vị kỷ cho rằng hạnh phúc là sự thỏa mãn những nhu cầu cá nhân. Trái lại
17
những người theo chủ nghĩa vị tha đi tìm hạnh phúc trong quan hệ với người
khác, với cộng đồng. Những tín đồ tôn giáo đi tìm hạnh phúc ở kiếp sau, thế
giới bên kia. Những người vô thần mưu cầu hạnh phúc trong cuộc sống thực
tại.
Về con đường và phương tiện mưu cầu hạnh phúc cũng thể hiện sự đối
lập giữa các quan điểm. Có người coi sự giàu có, tiền bạc là phương tiện

cho việc xây dựng một phương thức sản xuất mới nhằm đạt đến hạnh phúc
toàn diện cho con người.
Trong lĩnh vực chính trị, mục đích cao nhất của con người cộng sản là sự
phát triển tự do, toàn diện và hạnh phúc của mọi cá nhân trong một cộng đồng
xã hội giàu mạnh, văn minh, hài hòa. Độc lập, tự do, hạnh phúc những là mục
tiêu của cách mạng trong thuyết “Tam dân” của Tôn Trung Sơn và được Chủ
tịch Hồ Chí Minh áp dụng vào cách mạng Việt Nam.
Nhưng, như Hồ Chí Minh đã vạch ra, hạnh phúc mới là mục đích
cao nhất và cuối cùng. Giành độc lập dân tộc để nhân dân được tự do, nhân
dân được tự do là để nhân dân được hạnh phúc. Nếu một nước có độc lập mà
dân không được hưởng tự do hạnh phúc thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì cả
[28, tr 54].
Hạnh phúc ngoài lĩnh vực kinh tế và chính trị còn được thể hiện trong
lĩnh vực đạo đức. Trong đạo đức học Mác-Lênin, hạnh phúc được coi là một
phạm trù cơ bản, ngoài phạm trù trung tâm là thiện – ác và bên cạnh các
phạm trù cơ bản khác như lương tâm, nghĩa vụ, vinh dự. Hạnh phúc có một
vị trí quan trọng trong đạo đức, vì hạnh phúc là mục đích của đạo đức. Vì sao
19
chúng ta phải sống có đạo đức? Đây là một câu hỏi mà nếu không được trả lời
một cách thỏa đáng thì việc giáo dục đạo đức sẽ không có tác dụng.
Trong một giáo trình triết học ở Mỹ, GS. TS. T.Z. Lavine viết:
Có phải đôi khi bạn hỏi, tại sao tôi phải có đạo đức? Bạn có nhận
thấy rằng trong số những người mà bạn biết thì những người đúng đắn và
lương thiện phải gánh chịu đủ loại đau khổ, phải sống cuộc đời thất bại và
tuyệt vọng; còn những kẻ ích kỷ, lừa đảo thì thường phát đạt và hạnh phúc?
Vậy thì tại sao lại không sống cuộc đời của kẻ ăn chơi trong đó cái tốt nhất là
lạc thú, cuộc đời chìm ngập trong khoái lạc, trong ăn uống, tình dục, thuốc
phiện, ngủ và tất cả những kích thích của cơ thể. Tuy nhiên nếu cuộc sống
khoái lạc không thể biện minh như là điều tốt nhất, vậy thì cái gì là điều tốt
nhất đáng phải sống, đáng phải tranh đấu? [45, p.2].

hóa từ tư duy chủ quan, nhưng không phải vì tư duy chủ quan mà không phản
ánh đúng quy luật khách quan của đời sống xã hội.
Hạnh phúc cũng biểu hiện mối liên hệ giữa tính phổ biến và tính cá biệt,
giữa cái chung và cái riêng. Nó vừa là phạm trù định hướng giá trị chung cho
các phạm trù khác, vừa là phạm trù thể hiện tính phong phú, đa dạng, với
nhiều quan niệm khác nhau, và thực tiễn đạo đức của phạm trù hạnh phúc
cũng rất khác nhau. Tuy nhiên, không phải vì tính đa dạng, phong phú đó mà
phạm trù hạnh phúc không có tính phổ biến, thể hiện giá trị có ý nghĩa khái
quát, bao trùm. Dù lịch sử luôn luôn vận động, biến đổi, trải qua các giai đoạn
khác nhau, với những tiền đề kinh tế - xã hội khác nhau, các quan hệ về chính
trị, văn hóa khác nhau, nhưng những giá trị căn bản nhất của hạnh phúc vẫn
21
được kế thừa, phát triển và trở thành định hướng giá trị chung cho nhân loại,
cho các dân tộc trên thế giới.
Phạm trù hạnh phúc cũng như phạm trù đạo đức khác, chịu sự chi phối
của các mối quan hệ trong đời sống xã hội như quan hệ giai cấp, quan hệ dân
tộc, các yếu tố về chính trị và pháp luật Trong xã hội có giai cấp, hạnh phúc
bao giờ cũng mang tính giai cấp, luôn chịu sự tác động của các nhân tố như
đường lối chính trị, hệ thống pháp luật của các giai cấp khác nhau trong xã
hội, nhất là hệ tư tưởng chính trị của giai cấp thống trị.
Do đó, quan niệm về hạnh phúc mang tính tương đối, cả trong nhận thức
và thực tiễn hạnh phúc. Tùy thuộc vào mỗi cá nhân, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc
trong những hoàn cảnh và điều kiện kinh tế - xã hội mang tính lịch sử cụ thể
để xác lập nội dung của hạnh phúc phù hợp.
Tóm lại, hạnh phúc được xét ở hai phương diện. Với tư cách là một
phạm trù triết học, hạnh phúc có quan hệ thống nhất và khác nhau với phạm
trù đạo đức. Với tư cách là một phạm trù của đạo đức học, hạnh phúc đóng
vai trò là phạm trù cơ bản, là mục đích của đạo đức, chi phối các phạm trù
khác của đạo đức, như thiện, ác, vinh dự, nghĩa vụ, lương tâm. Đồng thời,
phạm trù hạnh phúc cùng phạm trù đạo đức đều có tính nhân loại, tính dân tộc

dịch là trường phái “Khuyển nho”. Đây là một quan niệm cực đoan về mối
quan hệ giữa hạnh phúc và đạo đức, nó ra đời trong giai đoạn đầu của xã hội
văn minh, coi cuộc sống nguyên thủy là đạo đức nhất, cuộc sống văn minh là
trái với đạo đức. Ở phương Đông cũng có quan điểm tương tự như vậy ở phái
Đạo gia.
Những nguyên tắc căn bản triết học Cynic có thể tóm tắt như sau:
23
• Mục đích của cuộc đời là hạnh phúc, đó là sống trong sự hòa hợp với
Tự nhiên.
• Hạnh phúc phụ thuộc vào khả năng tự mãn nguyện và làm chủ tinh
thần.
• Sự tự mãn nguyện chỉ có thể có được bằng cuộc sống có đạo đức.
• Con đường đi đến đạo đức là giải phóng cá nhân khỏi mọi ảnh hưởng,
như sự giàu có, danh vọng hay quyền lực, vì những thứ này không có giá trị
trong Tự nhiên.
• Đau khổ bị gây ra bởi những sự phán xét sai lầm về những giá trị, tạo
ra những tình cảm tiêu cực và tính cách xấu xa [47].
Quan niệm này về sau không còn được chấp nhận hoàn toàn nhưng lại
được cải biên để có nhiều yếu tố hợp lý hơn trong chủ nghĩa khắc kỷ.
- Quan niệm của chủ nghĩa khoái lạc
Phái Xirenait (Cyrenaics) do Arixtippôt (Aristippus, khoảng 430-350
TCN), một môn đồ của Xôcrat sáng lập, là một thứ chủ nghĩa khoái lạc tầm
thường, vị kỷ, đưa ra một học thuyết theo đó sự thỏa mãn những dục vọng
trực tiếp của cá nhân, không cần quan tâm đến người khác, được coi là mục
đích tối cao. Sự khoái cảm xác thịt theo phái này còn đáng giá hơn những
niềm vui trí tuệ hư ảo và phức tạp.
Arixtippôt cho rằng khoái lạc là động lực căn bản của cuộc sống và
khoái lạc luôn luôn là tốt bất kể nguồn gốc nào. Arixtippôt phủ nhận khả
năng có sự khác nhau về chất giữa các loại khoái lạc. Ông khẳng định rằng
khoái lạc cảm tính là mãnh liệt hơn khoái lạc tinh thần hay khoái lạc tình

25

Trích đoạn Vận dụng các quan điểm triết học trước Mác trong việc giáo dục quan Nhóm giải pháp về kinh tế Nhóm giải pháp về giáo dục đào tạo Nhóm giải pháp về chính sách xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status