Quan niệm của john stuart mill về bầu cử trong tác phẩm “chính thể đại diện” và ý nghĩa của nó đối với việt nam hiện nay (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐINH THỊ QUỲNH ANH

QUAN NIỆM VỀ BẦU CỬ CỦA JOHN STUART MILL
TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH THỂ ĐẠI DIỆN” VÀ
Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành triết học
Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Hạnh


2.3. Những giá trị và hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.
Mill trong “Chính thể đại diện” .........................................................................68


2.3.1. Những giá trị chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill...............68
2.3.2. Những hạn chế chủ yếu trong quan niệm về bầu cử của J.S.Mill ............73
2.4. Ý nghĩa quan niệm về bầu cử của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện”
đối với Việt Nam hiện nay ...................................................................................76
2.4.1. Ý nghĩa lý luận ..........................................................................................76
2.4.2. Ý nghĩa thực tiễn.......................................................................................80
KẾT LUẬN ..............................................................................................................87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................90


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử tư tưởng chính trị - pháp lý nhân loại nói chung và lịch sử tư
tưởng về nhà nước nói riêng, vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước được coi là vấn đề
quan trọng và phức tạp nhất. Theo V.I. Lê Nin: “đó là vấn đề rất cơ bản, rất mấu
chốt trong toàn bộ chính trị, đến nỗi không những thời đại giông tố và cách mạng
như thời đại chúng ta, mà cả trong các thời đại yên tĩnh nhất”1.
Lịch sử đã chứng minh sự tồn tại của rất nhiều học thuyết, lý thuyết hay quan
niệm khác nhau về vấn đề nhà nước và tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước phải
đứng trên nhiều góc nhìn, phản ánh nhiều mặt của vấn đề. Các lý thuyết do con
người sáng tạo nên và để phục vụ cho lợi ích con người. Những giá trị thực tiễn và
lý luận mà các mô hình nhà nước dân chủ trên thế giới đem lại là một nguồn tài liệu
quý giá cho Việt Nam nghiên cứu và học tập trong sự nghiệp xây dựng nhà nước
pháp quyền và kiện toàn hệ thống chính trị.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một vấn đề cơ bản nhất của Hiến
pháp ở bất kỳ quốc gia nào. Quyền lực thuộc về nhân dân phải có các hình thức và

sử tư tưởng nhân loại để lấy đó như bài học, kinh nghiệm quý báu cho sự phát triển
của Việt Nam nói chung và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam hiện nay nói riêng.
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức”. Đó là tuyên bố trịnh trọng trong Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Điều 6 Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định “Nhân
dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện
thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà
nước”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4 năm
2006) đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước là “Phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” [47-tr.40]. Một trong những phương
hướng quan trọng để thực hiện nhiệm vụ chiến lược này là “Tiếp tục đổi mới tổ
chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất
2


lượng đại biểu Quốc hội…phát huy tốt vai trò của đại biểu và đoàn đại biểu Quốc
hội”[47, tr.126]. Như vậy, có thể thấy được định hướng của Đảng về đổi mới chế độ
bầu cử được thể hiện khá rõ ràng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần XII đã
chỉ rõ cần phải “Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân các cấp, bảo đảm cơ cấu và tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng đại biểu,
tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách một cách hợp lý” và “Đổi mới bầu
cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ,... để lựa chọn những
người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu”.
Như vậy, xét về cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn, định hướng chính trị của

các quá trình thực hiện quản lý xã hội của các nhà nước dân chủ.
Nghiên cứu sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, J.S.Mill đã để lại một kho tàng các
tác phẩm tiêu biểu như “Bàn về tự do” (On Liberty, năm 1859), “Chính thể đại
diện”

(Representative

government,

năm

1861),

“Chủ

nghĩa

công

lợi”

(Utilitarianism, năm 1863),v.v. Trong các tác phẩm này, tác giả luận văn lựa chọn
“Chính thể đại diện” – được coi là tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây,
tác giả luận văn muốn làm rõ những giá trị của các quan điểm của J. S. Mill về bầu
cử mà theo ông đó là phương thức để thiết lập chính thể lý tưởng. Về cá nhân tác
giả luận văn, hướng nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị xã hội phương Tây một
cách hệ thống qua các tác phẩm nổi tiếng là hướng nghiên cứu yêu thích, lâu dài của
từ lâu.
2. Tình hình nghiên cứu
“Chính thể đại diện” ra đời cách đây hơn một thế kỷ rưỡi và được xếp vào

hiện ở quan điểm về vai trò của quần chúng nhân dân.
Luận văn cao học Triết học của Nguyễn Thị Thùy Linh (Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 10, năm 2010) với tên đề tài
“Quan niệm về Chính thể của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện”. Tác giả đi sâu
phân tích nội dung tư tưởng của J.S.Mill về chính thể trong “Chính thể đại diện”,
phân tích những giá trị và hạn chế của quan niệm đó. Đây là một trong những công
trình nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống đầu tiên tư tưởng của J.S.Mill trong “Chính
thể đại diện” tuy nhiên quan niệm về bầu cử chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn.
5


Như vậy, nghiên cứu tư tưởng của J.S.Mill về bầu cử vẫn còn là một hướng
nghiên cứu mới mẻ, đầy khó khăn nhưng không kém phần hấp dẫn mà chúng tôi tin
chắc rằng sẽ góp phần làm phong phú thêm tư tưởng chính trị của ông.
J.S.Mill không xa lạ với giới học giả thế giới, đặc biệt là các học giả phương
Tây. Các đề tài nghiên cứu về J.S.Mill tập trung phân tích tư tưởng chính trị của
ông, đặt nó trong mối quan hệ với dòng chảy tư tưởng triết học chính trị phương
Tây thời kỳ cổ đại, cận đại và hiện đại để đánh giá những giá trị, điểm tiến bộ và
hạn chế trong hệ thống tư tưởng của ông.
J.S. Mill (1806-1873) là nhà tư tưởng nổi tiếng người Anh ở thế kỷ XIX và
có ảnh hưởng sâu rộng đối với triết học chính trị phương Tây cận - hiện đại. Do
vậy, các học giả ở nhiều quốc gia đã nghiên cứu về nội dung tư tưởng chính trị của
ông với những công trình có giá trị nhất định. Trong đó, phải kể đến những tác
phẩm sau:
"Great political thinkers" (Tạm dịch: Những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại)
của William Thomas (Oxford University Press, New York, 1992) là công trình
nghiên cứu tư tưởng chính trị về 4 nhà tư tưởng gồm Niccolo Machiavelli, Thomas
Hobbes, J. S. Mill và Karl Marx. Trong công trình này, William Thomas nghiên cứu
về J. S. Mill theo từng luận điểm: tuổi thơ, nền giáo dục sớm, kinh tế chính trị học.
J. S. Mill được đánh giá như một nhân vật quan trọng của lịch sử tư tưởng thế kỷ

diện”, từ đó rút ra ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
hiện nay.
Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ cơ bản:
- Phân tích những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm về bầu cử của J.S.
Mill trong “Chính thể đại diện”.
- Phân tích những quan niệm cơ bản về bầu cử của J.S. Mill, chỉ ra một số
giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và rút ra ý nghĩa đối với việc đổi mới bầu cử ở Việt
Nam hiện nay.

7


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy quan niệm về bầu cử của J.S. Mill làm đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung vào những quan niệm cơ bản
về bầu cử của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện”. Luận văn cũng bước đầu phân tích
ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chủ trương của
Đảng Cộng Sản Việt Nam về xây dựng và đổi mới bộ máy Nhà Nước.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phương pháp khác
như: phương pháp phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử, hệ thống – cấu trúc, đồng
thời sử dụng phương pháp tiếp cận từ góc độ chính trị - pháp lý.
6. Đóng góp của luận văn
- Đóng góp về mặt lý luận: Luận văn đã phân tích một cách tương đối hệ
thống và đầy đủ những điều kiện, tiền đề hình thành quan niệm bầu cử của J.S.Mill;
những nội dung cơ bản trong quan niệm về bầu cử của Mill trong “Chính thể đại
diện” và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc đổi mới bầu cử ở Việt Nam hiện nay. Do

xưởng, nhà buôn giàu lên nhanh chóng và có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ nhờ công
nghiệp len dạ và đặc biệt là buôn bán những người nô lệ.
Qua quá trình phát triển của thủ công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực len
dạ đã thúc đẩy và giúp cho sự phát triển của nghề nuôi cừu, do đó ở nông thôn Anh
giai đoạn này, một số quý tộc nhỏ và vừa đã chuyển hướng kinh doanh theo hướng
tư bản chủ nghĩa và tầng lớp quý tộc mới đã hình thành, đồng thời ngày càng có
thế lực về kinh tế. Đời sống quần chúng nhân dân ngày càng cơ cực, đặc biệt là
nông dân Anh trong giai đoạn này, qua quá trình rào đất, cướp ruộng để trồng
cỏ nuôi cừu.

9


Chính vì những mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm của giai cấp tư sản, quý tộc
mới với các tầng lớp phong kiến đã đưa đến cuộc cách mạng tư sản Anh. Cuộc cách
mạng đã đánh dấu sự thắng lợi của liên minh giữa tư sản và quý tộc mới, có ý nghĩa
to lớn đối với tiến trình phát triển của lịch sử thế giới. Đối với nước Anh, cuộc
thắng lợi này đã mở đường thênh thang cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Đối với thế
giới, cách mạng tư sản Anh đã đánh dấu thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang
tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, cuộc cách mạng công nghiệp Anh thế kỷ XVIII thay đổi một cách
căn bản diện mạo nước Anh.
Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, ở châu Âu đã diễn ra một bước nhảy
vọt phát triển mới trong lĩnh vực sản xuất đó là cuộc cách mạng nhằm mục đích cơ
khí hóa nền sản xuất thay thế cho lao động thủ công, thực chất cuộc cách mạng này
là sự thay đổi về mặt kỹ thuật để tăng năng suất lao động cao hơn so với thời kỳ tư
bản chủ nghĩa và để củng cố nền tảng mới.
Anh là nước đầu tiên ở châu Âu diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp này, có
thể nói nguyên nhân là do nước Anh là nước đầu tiên tiến hành cách mạng tư sản
với sự phát triển lực lượng sản xuất mạnh mẽ nhất hay cụ thể là Anh hội đủ ba điều

Về mặt xã hội, trước hiện trạng giai cấp tư sản rào đất cướp ruộng của nông
dân để trồng cỏ nuôi cừu phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may đang khát nguyên
liệu đã khiến tình trạng di dân từ nông thôn lên thành thị ngày một nghiêm trọng.
Những người nông dân mất đất giờ đây không còn nơi để canh tác mưu sinh, không
còn nhà cửa, phiêu bạt khắp nơi, họ dồn lên các thành phố công nghiệp gây một sức
ép lớn về các điều kiện sống. Chỗ ở đông đúc, chật chội, không có đủ lương thực
hay nước sạch khiến dịch bệnh hoành hành ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm diễn ra
và các tệ nạn xã hội như nghiệp rượu, ma túy, mại dâm cũng tất yếu đi kèm.
Trong những công xưởng công nghiệp, tình trạng sống và điều kiện lao động
của tầng lớp công nhân cũng không có gì khả quan hơn. Điều kiện sống và làm việc
vô cùng cực khổ, bị các ông chủ tư sản bóc lột một cách tàn bạo, mỗi người phải
làm việc từ khoảng 12 đến 15 tiếng một ngày, thậm chí có khi lên tới 19 tiếng và
sáu ngày trong một tuần. Tình trạng thất nghiệp thêm nghiêm trọng và có xu hướng

11


tăng cao đã khiến cả phụ nữ và thậm chí là cả trẻ em cũng phải làm việc trong các
nhà máy để kiếm sống. Từ hiện thực vô cùng khắc nghiệt này dẫn đến những cuộc
đấu tranh của công nhân mà bắt đầu là phong trào đập phá máy móc, phong trào này
diễn ra bộc phát và không đạt được nhiều thành công. Đặc biệt, vị trí và quyền lợi
của phụ nữ trong xã hội rất thấp kém, họ bị đàn áp, bóc lột và không có quyền được
tham gia vào các công việc xã hội. Nhiều nhà tư tưởng đã lên tiếng bênh vực cho
phụ nữ, đòi quyền đi bầu cho họ. Ngoài ra, tình hình đất nước sau cách mạng cũng
gặp phải rất nhiều khó khăn cho công tác tổ chức nhà nước, quản lý xã hội.
Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội như vậy đã thôi thúc các nhà tư tưởng
lúc bấy giờ mong muốn tìm ra cách giải quyết những tình trạng đó và J.S. Mill là
một đại diện tiêu biểu. Với một nhà tư tưởng lớn, chưa bao giờ thỏa hiệp trong công
cuộc đấu tranh cho công bằng, tự do, dân chủ như J.S.Mill, ông suy tư, trăn trở cho số
phận những kiếp người khốn khổ, bị ức hiếp trong xã hội, những con người không có

Hạ nghị viện do quần chúng nhân dân bầu ra. Cuộc bầu cử Hạ nghị viện cũng được
tiến hành theo những quy tắc rất hạn chế quyền bầu cử. Phần lớn thành viên ở Hạ
nghị viện là những người được bầu ra từ những vùng đất ít dân cư sinh sống mà
việc bầu cử thường bị các chúa đất thao túng. Không chỉ có các ghế ở nghị viện
được mua bán bằng tiền mà cả đến các cử tri hay thậm chí là những lá phiếu bầu
cũng trở thành vật trao đổi của nhà giàu. Vấn đề này được Mill đề cập rõ nét trong
những lập luận của mình. Tầng lớp lao động và cả tầng lớp trung gian trong xã hội
cũng bị tước đoạt quyền chính trị.
Ở Thượng viện là sự tranh chấp quyền lực của Đảng Whig (nay là Đảng Dân
chủ tự do) và Đảng Tory (nay là Đảng Bảo thủ). Đảng Tory có quan hệ với giới
thượng lưu và Giáo hội Anh, trong khi đảng Whig gần gũi hơn với giới nghiệp
đoàn, tài chính và chủ đất. Hai đảng này thay nhau quản lý đất nước và tranh chấp
để giành đa số ghế trong nghị viện. Nhìn chúng, cả hai đảng đều bảo vệ quyền lợi
cho giai cấp tư sản và quý tộc thượng lưu, củng cố quyền thống trị của giai cấp tư
sản. Hình thức quân chủ lập hiến này khác hẳn so với hình thức nhà nước quân chủ
chuyên chế trước đây của Anh, ở hình thức mới, Thủ tướng và nội các chính phủ

13


thuộc về tay đảng nào chiếm đa số ghế trong nghị viện do đảng có cử ra và ủng hộ.
Thủ tướng và nội các chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện chứ không thông qua
vương quyền.
Bối cảnh văn hóa tinh thần phương Tây thời Mill chứng kiến cuộc khủng
hoảng tinh thần hậu cách mạng tư sản và cách mạng công nghiệp. Hai cuộc cách
mạng to lớn đã thay đổi tận gốc rễ các điều kiện kinh tế-xã hội, văn hóa và kỹ thuật,
nó xuất phát từ nước Anh rồi sau đó lan tỏa ra toàn thế giới. Bên cạnh những tiến bộ
xã hội không thể phủ nhận của một giai đoạn lịch sử sôi động, hai cuộc cách mạng
cũng để lại những nhiệm vụ to lớn không giải quyết được – chính những nhiệm vụ
này lại là căn nguyên dẫn đến đấu tranh, phản đối trong xã hội Anh.

Nhìn chung, ảnh hưởng của các nhà tư tưởng đi trước đối với sự hình thành
hệ thống triết học chính trị - xã hội J.S. Mill có thể kể đến như: Jeremy Bentham,
James Mill, Wilhelm von Humboldt… Đặc biệt, xem xét dưới hệ thống quan điểm
của J.S. Mill trong “Chính thể đại diện” mà phạm vi nghiên cứu là quan niệm về
bầu cử của ông thì không thể không kể đến ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc của các nhà
tư tưởng: Jeremy Bentham (1748 – 1832), Alexis Tocqueville (1805 - 1859),
Thomas Hare (1806 – 1891). Trước hết, tác giả luận văn đi phân tích những nét tư
tưởng chính của những tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của J.S. Mill
về bầu cử.
1.2.1. Thuyết công lợi của Jeremy Bentham
Jeremy Bentham (1748 – 1832) là một triết gia kiêm nhà cải cách xã hội
người Anh, ông là cha đẻ của Thuyết Công lợi (Utilitarianism), ông cho rằng lợi ích
cá nhân hoàn toàn đồng nhất với lợi ích xã hội. Ông giữ một vị trí quan trọng trong
lịch sử văn hóa tinh thần của nước Anh.
Jeremy Bentham khai triển đạo đức công lợi, theo ông, tính chất tốt hay xấu
của một hành vi được đo lường theo tính lợi ích của nó, nghĩa là theo cái gì đem lại
cho chúng ta tối đa “khoái lạc” và tối thiểu “khổ đau”. Học thuyết đạo đức và chính
trị này của Bentham bắt nguồn từ việc ông không hài lòng với những cơ sở lý
thuyết về luật pháp hiện hành và cách áp dụng luật tại các tòa án. Ông cho rằng
những cơ sở bất hợp lý và hỗn loạn của những hệ thống pháp lý và cấu trúc xã hội

15


lúc bấy giờ là nguyên nhân gây ra bất ổn chính trị. Các tác phẩm chính của Bentham
có thể kể tới như “Những đối thoại của Chính phủ” (1776), “Về các nguyên tắc đạo
đức và pháp luật (xuất bản năm 1789), “Cải cách Nghị viện” (1817), “Đạo đức học
hay khoa học về đạo đức” (gồm hai tập, được công bố vào năm 1843)….
Bentham mở đầu Về các nguyên tắc đạo đức và pháp luật với một tiền đề cơ
bản: “Thiên nhiên đã đặt nhân loại dưới sự cai quản của hai ông chủ tối cao là đau

rất nhiều từ Bentham. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với các nhà tư tưởng Pháp và một số
nhà tư tưởng Anh tiền bối, ông đã có những ý nghĩ khác xa so với Bentham, đặc
biệt là trong quan niệm về chất lượng khoái lạc. Mặc dù tiến bộ về nhiều mặt so với
Bentham nhưng chúng ta cũng không thể không thừa nhận ảnh hưởng mạnh mẽ từ
nhà tư tưởng này tới J.S. Mill.
1.2.2. Tư tưởng dân chủ của Alexis de Tocqueville
Alexis de Tocqueville (1805 – 1859) sinh ra ở Pháp nhưng dấu ấn cuộc đời
và sự nghiệp lại gắn chặt với nước Mỹ. Cho đến tận ngày nay, ông vẫn được coi là
“một huyền thoại” của nước Mỹ - đất nước mà ông thông hiểu hơn chính quê hương
Pháp. Tocqueville từng đảm đương những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà
nước Pháp như đại biểu Quốc hội (1839 – 1848), Phó Chủ tịch Quốc hội và Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao Pháp (1849).
Sau những biến cố khi cách mạng Pháp nổ ra (1848 – 1849), Tocqueville tìm
đường sang nước Mỹ với niềm mong mỏi lớn lao sẽ học tập được nhiều điều về mô
hình chính trị kiểu mẫu của Mỹ để giúp xây dựng nền chính trị Pháp.
Không chỉ ở Mỹ, Tocqueville còn đến Anh để nghiên cứu hệ thống chính trị
ở quốc gia này. Ông đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu hệ thống chính trị của
Hoa Kỳ và cho ra đời rất nhiều khảo luận về lĩnh vực này. Tác phẩm “Nền dân trị
Mỹ” (Nguyên bản có tên: Democracy in America) là một trong những khảo luận
đầu tiên, sâu sắc nhất và nổi tiếng nhất về lĩnh vực này. Tác phẩm được xuất bản
phần 1 vào năm 1835 và phần 2 vào năm 1840. Trong tác phẩm này, Tocqueville đã
thẳng thắn chỉ ra những nguy cơ của nền dân chủ Hoa Kỳ. Ông lo ngại ý kiến của
quần chúng có xu hướng tạo ra tình trạng chuyên chế và chế độ cai trị theo số đông số
học có thể cũng có tính chất đàn áp không khác gì một kẻ chuyên quyền (Nền dân trị

17


Mỹ phân tích hệ thống lập pháp và hành pháp của Hoa Kỳ) cùng ảnh hưởng của những
định chế xã hội và chính trị đối với thói quen và cách hành xử của dân chúng.

bình đẳng là giá trị căn bản của con người nó dành cho tất cả mọi người trên thế
giới không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, chính trị, văn hóa. Tự do theo
nghĩa truyền thống là các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm nên còn gọi tự do Hiến
định nhằm bảo tính độc lập tự chủ và nhân phẩm của con người trước những chèn
ép về chính trị, xã hội, tôn giáo... J.S. Mill hiểu tự do theo nghĩa “tự do của mỗi
người tìm thấy giới hạn của mình trong tự do của người khác và tự do xã hội là ranh
giới giữa sự kiểm soát xã hội và sự độc lập cá nhân” [35, tr. 9]. Tocqueville phân
loại ra làm hai loại là tự do quý tộc và tự do dân chủ. Nếu xã hội tồn tại tự do quý
tộc, thì sự tự do này được xem như một đặc quyền dành cho một số người chứ
không thuộc về toàn bộ thành viên trong xã hội. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng
giữa người tự do và người không tự do. Còn trong xã hội tồn tại tự do dân chủ, sự tự do
đó có mối quan hệ mật thiết với bình đẳng, phục tùng những nguyên tắc của bình đẳng.
Ngoài hai nguyên tắc trên, Mill cũng thấm đẫm những tư tưởng độc đáo khác
của Tocqueville trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”. Mill đã sử dụng khá nhiều cụm từ
mà Tocqueville đã nhắc đến trước đó là “chuyên chế của đa số”. Quyền tự do trong xã
hội dân chủ được ủng hộ mạnh mẽ, khác hẳn so với ở chế độ độc tài. Tuy nhiên, nó
cũng có mặt trái, vì không bị áp đặt dưới sự chuyên quyền nên dễ xảy ra nhiều tranh
cãi, bất đồng ý kiến mà phần thắng thường thuộc về đa số. Chính ở điểm này Mill chịu
ảnh hưởng từ Tocqueville. Bên cạnh đó, Tocqueville cũng cho rằng, những truyền
thống và sự chuyên nghiệp trong lập pháp một mặt bảo vệ vững chắc những lý do để
hình thành luật. Mặt khác, khi nó được lan rộng và thừa nhận sâu rộng trong xã hội thì
nó lại trở thành yếu tố gây trở ngại đối với những suy nghĩ độc đáo, khác biệt so với
những bộ óc bình thường và gây khó khăn để áp dụng những ý tưởng mới mẻ. Do ảnh
hưởng tử những phân tích của Tocqueville về nền văn hóa Mỹ mà sau này, Mill đã suy
nghĩ một cách nghiêm túc về mối nguy hiểm của dân chủ chính là sự khác biệt của đa
số sẽ đàn áp cá nhân hay thiểu số.
Như vậy, lập trường dân chủ với những phân tích sắc sảo của Tocqueville trong
“Nền dân trị Mỹ” đã ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến Mill. Không chỉ hứng thú, đam mê

19


20


chỉ tiêu mà không đắc cử một cách sai trái thì người ấy dễ dàng có thể chứng minh
được điều đó” [34, tr. 220].
Trích dẫn cuốn “Luận thuyết về Bầu cử các Đại biểu” của ông Hare, Mill
đánh giá rất cao: “Càng nghiên cứu những công trình này sâu hơn, càng có ấn tượng
mạnh mẽ hơn về tính khả thi hoàn hảo của kế hoạch và những lợi thế phi thường
của nó, tôi xin mạnh dạn dự đoán như thế” [34, tr. 221]. Mill đánh giá “kế hoạch
của ông Hare thuộc loại những cải tiến vĩ đại nhất từng được tạo nên trong lý thuyết
và thực hành chính quyền” [34, tr. 221], bởi nó đảm bảo cho sự đại diện tỷ lệ theo
số đông của bất cứ cấp bầu cử nào dựa trên các nguyên tắc công lý và bình đẳng.
Thêm nữa, các cử tri không còn bị đại diện bởi một người mà họ không lựa chọn
như thực tế ở Anh lúc đó. Với thiểu số ở địa phương không đủ để bầu cho một đại
diện thì “sẽ để ý chờ đợi xem có ứng viên nào tại đâu đó có vẻ như sẽ thu được số
phiếu bầu khác thêm vào số phiếu bầu của họ” [34, tr. 223]. Chính kiểu cách bầu cử
này sẽ có thể đánh giá đúng tài năng và trí tuệ của các ứng cử viên, nó có ích hơn
hẳn tình trạng đương thời khi một ai đó có tài năng và cá tính cũng rất khó được vào
Nghị viện. Lý do bởi “Chỉ có những người có ảnh hưởng địa phương, hay là những
người tiến thân bằng cách chịu chi tiền rộng rãi, hay là những người được một trong
hai đảng lớn cử xuống” [34, tr. 223] mới có thể đắc cử. Với những ý tưởng của ông
Hare, nếu một ai đó không được đại diện bởi người mà họ mong muốn vì sự khắt
khe trên thì họ “đều có thể điền vào lá phiếu của mình trong danh mục các ứng viên,
những người được chọn từ tất cả những người danh tiếng trong quốc gia, có nguyên
tắc chính trị chung mà họ có thiện cảm” [34, tr. 223]. Điều này mở rộng cơ hội vào
Nghị viện cho các ứng viên có tài năng và cá tính mà không chi tiền hay là người
của đảng phái nào.
Có thể đánh giá, hệ thống bầu cử theo ông Hare đáp ứng được tính đại diện
cho những nhóm thiểu số. Mặt khác, “những nhóm đa số hẳn cũng bị bắt buộc phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status