ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
NGUYỄN THỊ KIM CHI
TƢ TƢỞNG VỀ PHÂN QUYỀN CỦA MỘT SỐ
TRIẾT GIA PHƢƠNG TÂY CẬN ĐẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA
NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
NGUYỄN THỊ KIM CHI
TƢ TƢỞNG VỀ PHÂN QUYỀN CỦA MỘT SỐ
TRIẾT GIA PHƢƠNG TÂY CẬN ĐẠI VÀ Ý NGHĨA CỦA
NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƢỚC PHÁP
QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học:
2.1.1 Bản chất của việc phân quyền ................................................................. 31
2.1.2 Cơ sở và một số nguyên tắc phân chia quyền lực................................... 36
2.1.3 Vai trò của các bộ phận quyền lực nhà nước và mối quan hệ giữa
chúng................................................................................................................... 48
2.2 Giá trị và ý nghĩa tƣ tƣởng phân quyền của các triết gia phƣơng Tây
cận đại đối với việc xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. 59
2.2.1 Một số giá trị và hạn chế trong tư tưởng phân quyền của các nhà triết
học Tây Âu thời cận đại ..................................................................................... 59
2.2.2 Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt nam
hiện nay............................................................................................................... 62
2.2.3 Ý nghĩa tư tưởng phân quyền đối với việc xây dựng nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam hiện nay................................................................................ 71
Tiểu kết Chƣơng 2 ............................................................................................ 80
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 85
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị thế giới. So với các
tư tưởng trong chế độ chuyên chế độc tài, lý thuyết phân quyền được coi là tư
tưởng thời đại, đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng quyền lực dã man
trong các xã hội chuyên chế sang việc thực thi quyền lực văn minh trong xã
hội dân chủ. Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn liền với quá
trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các
mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và quyền lực, cá nhân và cộng đồng, công
dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền
phân quyền của các triết gia phương Tây cận đại có những giá trị to lớn mà
ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng và kết quả hữu dụng như
Mỹ, Đức, Pháp, Nhật bản…
Việt Nam đang xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa nên việc kế thừa có chọn lọc học thuyết về phân quyền của các triết gia
phương Tây Cận đại là điều rất cần thiết, qua đó tìm ra phương thức tồn tại
của nhà nước một cách hiệu quả nhất cho quá trình quản lý xã hội.
Vì những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng về phân quyền của
một số triết gia phương Tây cận đại và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” làm luận văn Thạc sỹ Triết học
của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những năm gần đây, ở Việt Nam những công trình nghiên cứu về các
tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng về nhà nước nói riêng của các nhà
triết học phương Tây thời cận đại bắt đầu nghiên cứu khá nhiều trên nhiều lát
cắt khác nhau. Có thể phân các nghiên cứu đó thành các mảng sau đây:
2
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về tư tưởng triết học nói chung
triết học phương Tây Cận đại nói riêng
Trong nhóm này có thể kể đến các công trình bằng tiếng Việt, được viết
bởi các tác giả Việt Nam hoặc được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt
như Đại cách mạng Pháp 1789 [30] của A. Manfrêt (1965), Jean – Jacques
Rousseau [62] của Phùng Văn Tửu (1996), Lịch sử tư tưởng chính trị [19] của
các tác giả Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Triết học chính
trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam [23] của
Lê Tuấn Huy (2006), v.v.
Trong cuốn Đại cách mạng Pháp 1789, A. Manfrêt đã khẳng định:
Hồng Vững (2013) với đề tài “ Quan niệm của John Locke về nhà nước trong
tác phẩm Khảo luận thứ hai về chính quyền” [68]. Trong đó tác giả đã đi vào
nghiên cứu bản chất và tổ chức quyền lực nhà nước, trong đó cũng đề cập đến
yếu tố phân quyền. Trong công trình 106 nhà thông thái [55] của P.S.Taranốp
biên soạn và do Đỗ Minh Hợp dịch. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000
cũng đề cập đến cuộc đời và sự nghiệp của một số triết gia phương Tây cận
đại tiêu biểu như John Locke, Montesquieu...
Tác phẩm Lịch sử thế giới cận đại [48] do hai tác giả Vũ Dương Ninh,
Nguyễn Văn Hồng chủ biên, nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội năm
2014, trong phần giới thiệu về lịch sử thế giới cận đại phương Tây, các tác giả
đã khái quát những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội phương Tây nói chung,
nước Pháp nói riêng từ thế kỉ XVI đến cuối thế kỷ XVIII. Ngoài ra, trong
phần giới thiệu của học giả Hoàng Thanh Đạm trong cuốn “Bàn về khế ước
xã hội” [54] do chính ông dịch và tái bản năm 2004, hay cuốn tiểu thuyết
“Giăng Giắc Rútxô” [62] của Phùng Văn Tửu (1978) cũng đều có những nội
dung liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp, các nội dung tư tưởng và những nội
dung về tư tưởng phân quyền.
4
Ngoài ra, có một số luận văn tiến sỹ, thạc sĩ, một số bài báo, sách
tham khảo có đề cập trực tiếp ít nhiều đến tư tưởng phân quyền của
các nhà triết học Tây Âu cận đại như cuốn “Triết học chính trị về Quyền con
người” [66] của tác giả Nguyễn Văn Vĩnh (2005).
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về ý nghĩa của tư tưởng phân
quyền của các triết gia phương Tây cận đại tiêu biểu đối với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Châu Loan (2014), Triết học chính trị
Jean Jacques Rousseau và ý nghĩa lịch sử của nó với việc xây dựng nhà nước
Như vậy, nhìn chung đã có nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về
tư tưởng triết học của các nhà triết học phương Tây cận đại nói chung và tư
tưởng phân quyền nói riêng cũng như ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, những nghiên cứu này
còn tản mạn, chưa có tính hệ thống, còn ít công trình chuyên sâu và có hệ
thống về tư tưởng phân quyền của các nhà triết học Tây Âu thời cận đại và ý
nghĩa của nó đối với xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.
Đây là hướng nghiên cứu chính mà luận văn muốn hướng tới để làm rõ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
Trên cơ sở phân tích, hệ thống hóa nội dung tư tưởng phân quyền của
một số triết gia phương Tây thời Cận đại, luận văn chỉ ra ý nghĩa của những
tư tưởng này đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện
nay.
Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau:
6
- Trình bày những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự ra đời tư tưởng phân
quyền của một số triết gia phương Tây cận đại.
- Phân tích làm rõ nội dung tư tưởng phân quyền của các triết gia trên.
- Chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng phân quyền nhà nước của các triết gia
phương Tây thời Cận đại đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng
Luận văn nghiên cứu nội dung tư tưởng cơ bản, giá trị, hạn chế và ảnh
bối cảnh lịch sử và các điều kiện đặc thù của việc xây dựng nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
Góp phần dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
những vấn đề liên quan đến lịch sử triết học phương Tây Cận đại và nhà nước
pháp quyền.
8. Kết cấu của luận văn.
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 4 tiết
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1
TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG PHÂN QUYỀN CỦA
CÁC TRIẾT GIA PHƢƠNG TÂY THỜI CẬN ĐẠI
1.1 Khái quát về tƣ tƣởng phân quyền
Nguồn gốc của việc phân quyền
Theo các nhà tư tưởng, khi các cá nhân hoàn toàn xa lạ lần đầu tương tác
với nhau thì quan hệ đó chưa có quan hệ quyền lực. Khi quan hệ xã hội giữa
các cá nhân này được xác lập thì quan hệ quyền lực mới xuất hiện.
Như vậy khi quyền lực ra đời thì sự phân chia quyền lực nhà nước chưa
xuất hiện ngay mà nó còn nằm dưới dạng các nhà nước tập quyền ở thời kỳ cổ
đại. Chỉ đến khi quan hệ sản xuất phong kiến tan rã, quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa xuất hiện và trở thành chỗ dựa vững chắc về mặt tư tưởng cho các
phong trào đấu tranh lật đổ chính thể chuyên chế và chế độ phong kiến, vì
quyền tự do, dân chủ của nhân dân thì việc phân chia quyền lực nhà nước mới
được thực hiện. Mà biểu hiện của việc yêu cầu phân chia quyền lực nhà nước
chính là các cuộc cách mạng tư sản ở phương Tây thời kỳ cận đại.
quyền này được công nhận bằng pháp luật và cũng là mục đích mà bất cứ nhà
nước nào cũng hướng tới. Việc chuyên quyền độc đoán là không thể xảy ra
nên cần phải phân chia quyền lực, không để cho bất kỳ cơ quan nào nắm được
tất cả quyền trong tay. Do đó, mỗi cơ quan phải nằm dưới sự kiểm soát của
nhà nước.
Nội dung của tư tưởng phân quyền
Phân quyền là một trong những lý thuyết chính trị - pháp lý có ý nghĩa và
tầm ảnh hưởng hết sức quan trọng cả trong tư tưởng và thực tiễn chính trị. Sự
hình thành lý thuyết này gắn liền với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do
và tiến bộ xã hội, hướng đến xác lập các mối quan hệ cơ bản giữa pháp luật và
quyền lực, cá nhân và cộng đồng công dân và nhà nước nhằm đảm bảo tính
10
hiệu quả cao nhất của việc thực thi quyền lực. Để hiểu được nội dung của tư
tưởng phân chia quyền lực, trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm phân
chia quyền lực.
Phân quyền là thuật ngữ dùng để đối lập với quan niệm về tập trung
quyền lực (tập quyền).
Nói đến phân quyền nhà nước tức là nói đến một trong hai quan điểm cơ
bản về cách thức thực hiện quyền lực nhà nước (sự lãnh đạo chính trị đối với
xã hội dựa vào sức mạnh của bộ máy nhà nước, công cụ thực hiện ý chí của
giai cấp thống trị hay của toàn thể nhân dân), mà ở đó, quyền lực được chia sẻ
cho các bộ phận khác nhau trong việc nắm giữ quyền lực nhà nước.
Tư tưởng phân quyền nhà nước được hiểu là tổng thể các quan điểm về
việc chia tách quyền lực nhà nước thành các loại quyền lực khác nhau về cơ
chế của từng loại quyền lực và mối quan hệ theo hướng ngăn cản, kiềm chế,
kiểm soát hoặc đối trọng với nhau giữa các quyền lực ấy trong quá trình thực
hiện quyền lực nhà nước. Nhiệm vụ của lý thuyết phân quyền là tổ chức
thiết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực. Cách tốt nhất để chống lạm
quyền là giới hạn quyền lực bằng công cụ pháp lý và cách thực hiện không
phải là tập trung quyền lực mà phân chia nó ra. Muốn hạn chế quyền lực nhà
nước thì trước hết phải phân quyền và sau đó phải làm cho các nhánh quyền
lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạm vi quy định của pháp
luật.
Như vậy, nội dung cốt lõi của tư tưởng phân quyền được thể hiện qua 3
điểm :
Thứ nhất, có sự hiện diện các nhánh quyền lực nhà nước: quyền lập
pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và các nhánh quyền lực độc lập nhau
về phạm vi thẩm quyền, chức năng và phương thức hoạt động.
Thứ hai, các nhánh quyền lực đó phải được bảo đảm cân bằng thông qua
cơ chế kiểm soát và đối trọng. Nội dung này có nghĩa rằng, tuy các nhánh
12
quyền lực nhà nước độc lập với nhau nhưng mỗi quyền lực đều được đặt dưới
sự kiểm soát và vì thế luôn tạo được thế cân bằng quyền lực.
Thứ ba, các nhánh quyền lực độc lập, kiểm soát và đối trọng nhưng vẫn
luôn phối hợp, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau.
Sự phối hợp quyền lực trong phân quyền có những yếu tố quan trọng
sau:
1/ Phối hợp đòi hỏi loại trừ những trường hợp can thiệp không đúng
thẩm quyền và chức năng của một nhánh (hay cơ quan) quyền lực này vào
hoạt động của nhánh quyền lực khác.
2/ Phối hợp mang tính hỗ trợ là chính: Khi một cơ quan này, trong những
điều kiện nhất định không thể tự mình thực hiện được chức năng, nhiệm vụ,
có thể đề nghị cơ quan thuộc nhánh quyền lực khác hỗ trợ thực hiện; cũng có
khi không có yêu cầu rõ rệt từ phía một cơ quan, nhưng nhu cầu hỗ trợ được
mang tính tượng trưng vì bộ máy hành pháp trực thuộc Thủ tướng và Thủ
tướng mới phải chịu trách nhiệm trước lập pháp. Tư pháp độc lập với hành
pháp trong hoạt động song không hoàn toàn độc lập trong tổ chức, hoạt động
với lập pháp. Sự phân quyền này thể hiện rõ tiêu biểu ở hai nước là Anh và
Đức.
Ba là, phân quyền trong chính thể cộng hòa hỗn hợp. Trong tổ chức bộ
máy nhà nước kiểu này, tư tưởng phân quyền được áp dụng ở mức độ trung
gian giữa cứng rắn và mềm dẻo với đặc trưng cơ bản là sự độc lập của hành
pháp với lập pháp cao hơn trong chính thể cộng hòa đại nghị song lại thấp
hơn trong chính thể cộng hòa tổng thống. Chính phủ phải chịu trách nhiệm
trước Quốc hội và Quốc hội có thể bị giải tán trước thời hạn. Những đặc trưng
trên được thể hiện rõ trong nhà nước Pháp và Nga.
Ở nhiều Nhà nước hiện nay tư tưởng phân chia quyền lực có một số thay
đổi. Theo các nhà lập hiến ở một số nước Mỹ Latinh thì quyền lục nhà nước
có tứ quyền, thêm quyền bầu cử. Trong dự thảo Hiến pháp Nicaragoa 1986
14
đưa ra còn nhắc tới ngũ quyền hay Hiến pháp 1976 của Angieri quy định tới
lục quyền,…
Phân quyền dọc là cách thức phân chia quyền lực giữa Trung ương và
địa phương. Theo cách phân chia này, bộ máy nhà nước trong hệ thống các cơ
quan quyền lực ở các cấp địa phương song song với bộ máy nhà nước Trung
ương. Trong từng lĩnh vực cụ thể lại có sự phân công nhiệm vụ trách nhiệm
quyền hạn cụ thể giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.
Chính quyền Trung ương chủ yếu giải quyết các vấn đè công, vì lợi ích của cả
cộng đồng xã hội, còn chính quyền địa phương sẽ phụ trách các vấn đề kinh
tế, giáo dục, văn hóa ở địa phương.
Phân quyền dọc được thực hiện theo hai phương pháp là phân quyền
lực kinh tế đã mạnh, họ muốn có các chính sách kinh tế, pháp luật, bộ máy
nhà nước cũng như các chế tài - tức là một kiến trúc thượng tầng đồng bộ đảm bảo cho sự phát triển ngày càng cao của họ. Mặt khác, chúng ta biết rằng,
châu Âu những năm thế kỷ XV, XVI diễn ra hàng loạt các sự kiện lớn: những
phát minh ra máy dệt, máy hơi nước,…; sự thành công của cách mạng tư sản
Anh, Hà Lan,… đã thổi bùng lên những khát khao giải phóng con người, cụ
thể là thoát khỏi sự kìm kẹp của nhà thờ với những điều luật khắt khe, vô
nghĩa. Yêu cầu đặt ra là làm sao nhà nước và chúa trời, tức là vua và giáo hội
phải để cho nhân dân được tự do sản xuất, giảm thiểu các loại thuế. Cao hơn,
tầng lớp tư sản còn đòi có nhiều quyền lực hơn, dù đã có một vai trò nhất định
trong quốc hội. Cũng cần nói thêm, để đáp ứng cuộc sống vương giả của giai
cấp quý tộc và tăng lữ nhà thờ, tư sản châu Âu có những đóng góp không nhỏ,
nếu không nói là phần lớn, thậm chí mang tính quyết định đối với ngân sách
nhà nước. Sự xa hoa của triều đình Anh, Pháp chỉ được duy trì khi có những
khoản thuế khổng lồ thu từ tư sản và nông dân.
Các cuộc phát kiến địa lý, cùng với sự phát triển của sản xuất và thương
nghiệp đã tạo ra một không gian thương mại mới cho các nước Châu Âu, trên
16
phạm vi toàn thế giới, càng kích thích sự thông thương công nghiệp, tăng
cường sự giao lưu văn hóa, phổ biến tôn giáo, và cũng dẫn đến việc hình
thành chủ nghĩa thực dân. Đây được coi là những tiền đề trực tiếp cho một
thời kỳ mới, những mầm mống tư bản chủ nghĩa đầu tiên đã xuất hiện và phát
triển trong lòng xã hội phong kiến, đồng thời cùng với nó là sự nảy sinh hai
giai cấp mới: tư sản và vô sản.
Bên cạnh đó các lĩnh vực về khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật
cũng đạt được những thành tựu mới, đặc biệt trong các ngành thiên văn, vật
lý, hóa học, y học,… những tiền đề khoa học tự nhiên vững chắc cho các nhà
duy vật luận giải về thế giới. Bên cạnh đó là sự ra đời của một loạt các phát
đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên con đường phát triển
theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã, thành luỹ
tinh thần của chế độ phong kiến.
Cuộc khởi nghĩa nông dân Đức năm 1525 đánh đấu sự bắt đầu của hàng
loạt cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến, sau đó là
một loạt các cuộc cách mạng tư sản khác đã nổ ra rầm rộ ở Tây Âu như cách
mạng tư sản Nêđéclan năm 1566 ở Hà Lan, cách mạng tư sản Anh năm 1642,
cách mạng tư sản Pháp năm 1789… Các “dân tộc tư sản” được hình thành ở
Tây Âu và ngày càng có tiềm lực mạnh mẽ về mọi phương diện. Giai cấp tư
sản chính thức khẳng định sự thống trị của nó. Sang thời kỳ cận đại (thế kỷ
XVII – XVIII) ở các nước Tây Âu là thời kỳ giai cấp tư sản đã dành được
chính quyền, Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và trở
thành phương thức sản xuất thống trị.
Cùng với những nền tảng thực tiễn ấy, những tiền đề về tư tưởng văn
hoá, khoa học kỹ thuật cũng phát triển vô cùng mạnh mẽ. Sự phát triển của
những thành tựu ấy chủ yếu bắt nguồn từ nhu cầu nhận thức để có căn cứ
phản kháng lại sự chuyên chế của giáo hội. Mặt khác, những phát kiến địa lý,
những phát minh về kỹ thuật, năng lượng đã làm sáng lên tinh thần đổi mới
18
trong lòng xã hội châu Âu. Một phần rất quan trọng của những công trình xã
hội ấy có nền tảng từ việc trở lại và làm hưng khởi những giá trị vốn có từ
thời Hy Lạp và La Mã cổ đại.
Văn hóa, lý luận cũng diễn ra quá trình chuẩn bị tư tưởng cho những
chuyển biến xã hội. Mở đầu cho tiến trình đó là Phong trào Phục hưng, mà
nơi xuất phát và cũng là trung tâm chính là ở Italy. Phục hưng đã trở thành
trào lưu văn hóa tư tưởng trong suốt thế kỷ XIV – XV, và đạt cực thịnh ở thế
kỷ XVI. Những giá trị văn hóa, tinh thần, nhân văn cổ đại, kể cả đạo Cơ đốc
tư duy về nhà nước pháp quyền phong phú. Những tư tưởng ấy vừa phản ánh
hiện thực chính trị xã hội biến đổi không ngừng, vừa thúc đẩy hiện thực phát
triển.
Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng, chúng ta thấy ngày từ thời Hy Lạp cổ
đại, người ta đã quan tâm đến vai trò của pháp luật trong việc thiết lập một xã
hội có trật tự, kỷ cương. Có thể khẳng định rằng, chính những tư tưởng đó đã
đặt cơ sở nền tảng cho các quan niệm triết học pháp quyền sau này. Ăngghen
khẳng định: “Không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã
thì không có châu Âu hiện đại” [36, tr. 254].
Các nhà tư tương thời cổ đại đã dày công sáng tạo những hình mẫu quản
lý nhà nước mà thực chất đó là mối liên hệ giữa hai yếu tố của quản trị đó là
pháp luật và quyền lực. Theo đó mô hình tổng quát nhất là mô hình về một
cách thức tổ chức đời sống chính trị xã hội, sinh hoạt của các quốc gia trên cơ
sở các yêu cầu về tính hợp lý và tính công bằng của pháp luật, khả năng tự
hạn chế giới hạn quyền lực trên cơ sở pháp luật. Mỗi luồng tư tưởng đã đóng
góp một hạt nhân của mình để dần dần hình thành nên công thức chung đó.
Chỉ đến giai đoạn đấu tranh quyết liệt của giai cấp tư sản nhằm đả phá chế độ
phong kiến tùy tiện và chuyên chế thì tư tưởng về nhà nước pháp quyền mới
được xác lập như những học thuyết hoàn chỉnh.
20
Tư tưởng về nhà nước, pháp luật và các hình thức tổ chức chính trị thực
tiễn ở phương Tây cổ đại gắn liền với quá trình tiến hóa của xã hội chiếm hữu
nô lệ và nền dân chủ Hy Lạp, La Mã cổ đại qua các nền cộng hòa Athens và
La Mã.
Con người luôn có khát vọng về sự công minh, bình đẳng đã mơ ước về
một nhà nước công bằng và Solon (638 – 559 TCN) đã cho rằng chỉ khi có
pháp luật mới thực hiện được khát vọng đó. Ông đưa ra lời tuyên bố trong