BÀI THẢO LUẬN NHÓM 7
ĐỀ TÀI
Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong việc
xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
MỤC LỤC
A. Lời mở đầu
B. Nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Văn hóa và vai trò của nó đối với sự phát triển của con
người và xã hội.
a. Thuộc tính và định nghĩa của văn hóa.
b. Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
c. Quan niệm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc
2. Văn hóa kinh doanh và nền văn hóa kinh doanh là gì?
a. Văn hoá kinh doanh
b. Nền văn hóa kinh doanh.
II. Thực trạng xây dựng nền văn hóa kinh doanh ở nước ta hiện
nay
1. Tại sao phải xây dựng nền văn hóa kinh doanh?
2. Thực trạng nền văn hóa kinh doanh ở nước ta
a. Đặc điểm của nền văn hóa kinh doanh ở nước ta qua
từng giai đoạn
b. Thành tựu và hạn chế của văn hóa kinh doanh Việt
Nam
3.Chiến lược xây dựng nền văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
C. Kết luận
A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước đi kèm xu
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Văn hóa và vai trò của nó đối với sự phát triển của con người
và xã hội.
a. Thuộc tính và định nghĩa của văn hóa
Theo Edouard Herriot nhận xét: “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã
quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”. Vậy để nhận
diện văn hóa là gì, ta cần vạch ra được thuộc tính của nó.
Thứ nhất: Văn hóa là cái thuộc tính bản chất của con người, chỉ có ở
loài người và do con người sinh ra. Văn hóa dùng để chỉ đặc điểm và
nhân tố nhân tính, nhân văn chung của loài người, nó có trong tất cả
các mối quan hệ, hoạt động và sản phẩm của con người.
Thứ hai: Đối với một cộng đồng, dân tộc, văn hóa luôn có tính đặc thù,
nó được thể hiện ra như một kiểu sống ( lối sống kiểu ứng xử và hành
động… ) riêng biệt và ổn định của họ trong lịch sử, nó có tính di tồn và
qua nhiều thế hệ.
Thứ ba: Cốt lõi của văn hóa và nhân tố quy định tính đặc thù của kiểu
sống khác nhau trong xã hội là bảng giá trị của họ.
Đó là một hệ thống các giá trị, gồm ba loại giá trị chính là chân - thiện - mỹ
với nội dung có nhiều yếu tố khác nhau và được xếp theo những thang bậc
khác nhau ở mỗi cộng đồng người.
Từ sự phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa: Văn hóa là nguồn lực nội
sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng
đồng người, trung tâm là các giá trị chân – thiện – mỹ.
b. Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền
vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.Đó là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết
cá nhân –gia đình –làng xã-Tổ quốc; đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa phải được
thấm đượm trong mọi ho;ạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng
các thành tựu khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo…, sao cho trong
mọi lĩnh vực hoạt động chúng ta có cách tư duy độc lập, có cách làm vừa
hiện đại vừa mang sắc thái Việt Nam. Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng
giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải tiếp thu
những tinh hoa nhân loại, song phải luôn luôn phát huy những giá trị truyền
thống và bản sắc dân tộc.
Để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta
chủ trương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại. Bảo vệ bản sắc dân tộc, gắn kết với mở rộng
giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn
hóa các dân tộc khác để bắt kịp sự phát triển của thời đại. Chủ động tham
gia hội nhập và giao lưu văn hóa với các quốc gia để xây dựng những giá
trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại. Xây dựng Việt Nam thành một
địa chỉ giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế.
Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống những cái lạc hậu, lỗi
thời trong phong tục, tập quán và lề thói cũ.
c. Quan niệm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc
Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng - khoá VIII
(1998), lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt
Nam có nội dung XHCN, có tính dân tộc, có tính Đảng và tính nhân dân
được nêu ra trước đây. Đại hội VII chủ trương xây dựng nền văn hóa mới,
tạo đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân
đạo, dân chủ, tiến bộ; hướng tới chân thiện mĩ; khẳng định tiếp tục tiến
hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa, làm cho thế giới
quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời
kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và những nội dung cơ bản
của Nghị quyết Trung Ương 5- khóa VIII của Đảng. Những quan điểm
đó là: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hóa mà chúng
ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nền
văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất và đa dạng trongcộng
đồng các dân tộc Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp
của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò
quan trọng; văn hóa là một mặt trận, xây dựngvà phát triển văn hóa là
một sự nghiệp cách mạng lâu dài.
Bản sắc dân tộc và tính tiên tiến của nền văn hóa phải được thẩm
đượm trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng các
thành tựu khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo sao cho trong mọi lĩnh
vực chúng ta có tư duy độc lập, co cách làm vừa hiện đại, vừa mang sắc
thái Việt Nam. Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phải tiếp thu những tinh hoa của nhân
loại song phải luôn phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc.
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản săc dân tộc được thể
hiện ở các khía cạnh khác nhau:
- Xây dựng con người Việt theo hướng chân, thiện mĩ
- Xây dựng môi trường văn hóa đẹp
- Phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật
- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa
- Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ
- Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số
2. Văn hóa kinh doanh và nền văn hóa kinh doanh là gì?
Chưa bao giờ khái niệm văn hoá được đề cập nhiều trong học thuật
cũng như trong thực tế đời sống như hiện nay. Bởi vì nói tới văn hoá là nói
tới ý thức, cái gốc tạo nên 'tính người' cùng những gì thuộc về bản chất
nhất làm cho con người trở thành chủ thể năng động, sáng tạo trong cuộc
doanh ổn định và đặc thù của họ.
Đối với một người làm kinh doanh hay một tổ chức kinh doanh cụ thể
thì văn hóa tồn tại tiềm ẩn trong họ như một nguồn lực, hệ giá trị… mà
muốn khơi dậy, phát huy được cần có thời gian, môi trường và sự tác
động phù hợp. Văn hóa kinh doanh của các nhà kinh doanh, doanh
nghiệp… được nhận biết từ hai phương diện chính.
Một là: Các nhân tố văn hóa (hệ giá trị, tâm lý dân tộc, triết lý chung
mà chủ thể lựa chọn từ văn hóa dân tộc) được vân dụng vào quá trình kinh
doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phù hợp với nhu cầu
và thị hiếu của khách hàng có văn hóa. Nói tóm lại, đây là lối kinh doanh có
văn hóa, kiểu kinh doanh phù hợp với văn hóa các dân tộc.
Hai là: Các giá trị, sản phẩm văn hóa như hệ giá trị triết lý, tập tục
riêng, nghệ thuật… mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt động
và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ, biểu dương đối với kiểu
kinh doanh có văn hóa mà họ đang theo đuổi. Nói gọn lại, đây là lối sống
có văn hóa của các chủ thể kinh doanh.
b. Nền văn hóa kinh doanh.
Xét về bản chất, kinh doanh không chỉ gói gọn trong khâu lưu thông,
phân phối các chiến lược "thâm nhập thị trường" của các doanh nghiệp đối
với các sản phẩm của mình mà nó còn phải bao quát các khâu có quan hệ
hữu cơ nhau tính từ sản xuất cho tới cả tiêu dùng. Có nghĩa rằng, xây
dựng nền văn hoá kinh doanh là một việc làm có tính thực tế mà mục tiêu
cụ thể là nhằm làm cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, tức yếu tố
đóng vai trò rất quyết định đối với nền sản xuất của đất nước trở nên ngày
càng mang tính văn hoá cao thể hiện trên cả ba mặt:
- Văn hoá doanh nhân: Văn hoá thể hiện hết ở đội ngũ những con
người (gồm cả các cá nhân và các tập thể) tham gia sản xuất kinh doanh
chủ yếu thể hiện ở trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và vốn tri thức
tổng hợp, ở kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng, phương pháp tác nghiệp, ở
năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh và sự nhạy bén với thị trường, ở đạo
trọng đến văn hóa riêng của từng lĩnh vực đó ví dụ như:văn hóa trong lĩnh
vực du lịch thì khác so với văn hóa trong lĩnh vực ngân hàng, văn hóa trong
lĩnh vực marketing lại khác so với văn hóa trong lĩnh vực kinh doanh. Vì
vậy cần tạo ra cho doanh nghiệp một nét văn hóa riêng.
Nhà thơ Chế Lan Viên có viết “Quá khứ không chỉ ở sau lưng, quá khứ
còn ở trước mặt”. Một câu thơ không nổi tiếng lắm nhưng thật là thông
thái: Chúng ta cần và phải nhìn lại tiến trình của lịch sử dân tộc nếu muốn
tìm ra con đường phát triển đất nước cho tương lai. Lịch sử thật hào hùng,
nhưng chúng ta không thể dừng lại mà phải từ lịch sử hào hùng đó đi lên,
phải giành lấy một tương lai tươi sáng. Bác Hồ đã dạy rằng nếu đất nước
độc lập mà nhân dân vẫn không đạt cơm no áo ấm dù độc lập cũng là vô
nghĩa.
Vậy chúng ta còn thiếu những gì? Tại sao với rừng vàng biển bạc, có
nhân dân cần cù, lại được lãnh đạo bởi một Đảng vững mạnh, giàu kinh
nghiệm và ý chí, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu? Có quá
nhiều lý do, cả chủ quan lẫn khách quan mà chúng tôi không định và cũng
không thể đề cập hết tại đây. Nhưng có một lý do rất quan trọng, và ngày
càng trở nên quan trọng hơn từ khi chúng ta tiến hành mở cửa, đổi mới và
xây dựng một nền kinh tế thị trường - chúng tôi muốn nói đến một thực
trạng là chúng ta chưa có một cộng đồng doanh nhân chuyên nghiệp cũng
như một nền văn hóa kinh doanh.
Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là hoạt động kinh doanh liên
quan, thậm chí động chạm đến lợi ích, cả vật chất lẫn tinh thần của nhiều
người, nhiều tầng lớp trong xã hội nên cần phải được điều chỉnh trên
những cơ sở mang tính văn hóa. Những tiêu chuẩn văn hóa kinh doanh
một mặt phải buộc các doanh nhân tuân theo những tiêu chuẩn nhân bản
phổ quát, mặt khác phải tạo cho doanh nhân một không gian tự do để hoạt
động có hiệu quả. Nó phải được xây dựng trên cơ sở những tiêu chuẩn
văn hóa kinh doanh quốc tế và phải nhận được sự đồng tình rộng rãi của
cộng đồng doanh nhân cũng như toàn xã hội. Trong thời đại toàn cầu hóa
Không có kiên tâm, ít theo đuổi một việc gì đến cùng;
Không có nghị lực, dễ làm khó bỏ;
Không biết trọng nghề, do chỉ chú trọng vào nghề nông, bỏ qua việc
tìm hiểu và nâng cao các nghề khác;
Không có thương học, tức là không có kiến thức về kinh doanh;
Kém đường giao thiệp, do xã hội Việt Nam luôn đóng cửa với thế
giới bên ngoài nên hễ ra ngoàilà dễ bị lạc lõng, không hoà nhập
được;
Không biết tiết kiệm, người Việt Nam tuy nghèo nhưng không biết tận
dụng những thứ mình có, thường hoang phí;
Khinh nội hoá với tâm lý chung là sính hàng ngoại. Như vậy, trong
VHKD cổ truyền của chúng ta, yếu tố tích cực, phù hợp với kinh
doanh có phần ít hơn những yếu tố tiêu cực. Nhận diện chính xác
những yếu tố này sẽ giúp chúng ta lý giải được phần nào những hạn
chế của nền kinh tế Việt Nam trong những giai đoạn tiếp sau.
VHKD Việt Nam trước thời kỳ đổi mới
Dưới thời Pháp thuộc: sự giao lưu với văn hoá Pháp đã để lại một dấu
ấn sâu đậm cho VHKD Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, kinh
doanh trở thành một ngành độc lập, không phụ thuộc vào nông nghiệp.
Các ngành sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đều phát triển
hơn thời kỳ trước. Sự thành công bước đầu của một số nhà kinh doanh
người Việt, cùng với việc tiếp thu những tư tưởng mới, đã cải thiện đáng
kể hình ảnh doanh nhân và nghề kinh doanh trong con mắt người Việt.
Thời kỳ này đã xuất hiện một tầng lớp tư sản dân tộc, giành lại được độc
quyền thương mại từ tay tư sản nước ngoài và bắt đầu gây dựng lòng tự
hào được làm nhà kinh doanh. Thương mại và ngoại thương đều phát triển
nhanh chóng. Đặc biệt, theo học giả Đào Duy Anh, ngay từ những năm 30
của thế kỷ XX, Việt Nam, dưới tên là xứ Đông Pháp, đã đứng thứ hai thế
giới về xuất khẩu gạo, chỉ sau Mianma.
Giai đoạn 1954-1986: trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam bị phân chia
toàn thể thành viên doanh nghiệp tích luỹ lâu dài cùng nhau hoàn thành.
+ Tính quy phạm: VHKD có công năng điều chỉnh kết hợp: trong trường
hợp lợi ích cá nhân và doanh nghiệp xảy ra xung đột thì công nhân viên
chức phải phục tùng các quy phạm, quy định của VHKD đã đề ra, đồng
thời doanh nghiệp cũng phải biết lắng nghe và cố gắng giải quyết hài hòa
để xóa bỏ xung đột.
+ Tính độc đáo: Doanh nghiệp đều cố gắng xây dựng VHKD độc đáo
trên cơ sở văn hóa của vùng đất mà doanh nghiệp đang tồn tại. VHKD
phải bảo đảm tính thống nhất trong nội bộ từng doanh nghiệp, nhưng giữa
các doanh nghiệp khác nhau cần phải tạo nên tính độc đáo của mình.
+ Tính thực tiễn: Chỉ có thông qua thực tiễn, các quy định của VHKD
mới được kiểm chứng để hoàn thiện hơn nữa.
Việc nhiều người có bằng cấp cao, thậm chí từng làm cán bộ quản lý
trong cơ quan nhà nước vẫn chọn nghề kinh doanh, chứng tỏ xã hội đã
thừa nhận tầm quan trọng của nghề này.
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng được trẻ hoá, phần lớn đang
ở độ tuổi sung sức.
Động cơ kinh doanh và nhận thức của doanh nhân đã được cải thiện
đáng kể: 41,4% số doanh nhân trả lời là "muốn làm gì có ích cho xã hội";
27,3% trả lời là do "muốn tự quyết định công việc của mình"; 13,5% là do
"muốn phát huy tối đa khả năng của mình"; 16,4% do "muốn tiếp tục công
việc của gia đình hiện nay"; 9,7% do "muốn kiếm nhiều tiền hơn"; 5,1% do
"công việc trước đây không thích hợp" và 1,3% do "không có việc làm".
Theo Kết quả nghiên cứu về tinh thần kinh doanh do Viện nghiên cứu
Quản lý Kinh tế Trung ương phối hợp với tổ chức JICA (Nhật Bản).
b. Thành tựu và hạn chế của văn hóa kinh doanh Việt Nam
Thành tựu:
Sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta có nhiều khởi sắc, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh
dần dần xoá đi cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đã vươn lên phát huy mạnh
mẽ các tiềm lực của mình.
thậm chí có khi còn chơi xấu, cạnh tranh không lành mạnh với nhau. Hệ
quả là không những không nâng cao sức cạnh tranh mà còn yếu đi vì sự
tranh mua tranh bán, thậm chí hạ uy tín của nhau.
• Nhẹ chữ tín
Giữ chữ tín là điều kiện của thành công, sự thất bại đối với doanh
nghiệp, doanh nhân không giữ chữ tín là sự thất bại báo trước, thời gian
chỉ có thể là sớm hay muộn mà thôi. Theo nhiều nhà kinh doanh nước
ngoài, các nhà kinh doanh Việt Nam không coi trọng chữ tín, hay việc dẫn
cá lý do khách quan để khước từ vịc thực hiện cam kết, gây nhiều phiền
toái trong quan hệ với các đối tác nước ngoài. Từ cá nhân đến cơ chế,
phải đau lòng nhận ra là người Việt chưa tin người Việt
• Cung cách làm ăn nhỏ lẻ, thói quen tùy tiện
Các doanh nghiệp Việt Nam vốn bị kém thế cạnh tranh trên thị trường
quốc tế do cung cách làm ăn manh mún, chạy theo lợi nhuận trước mắt
mà ít nghĩ đến cục diện chung. Việc liên kết để đáp ứng những đơn đặt
hàng lớn chỉ thuận lợi trong những bước đầu, sau đó các doanh nghiệp
thường tìm cách xé lẻ, giành riêng hợp đồng cho mình để rồi dẫn đến tình
trạng luôn nghi kỵ, đối phó lẫn nhau và sẵn sàng giành giựt quyền lợi riêng
cho công ty mình mà không nghĩ đến cục diện chung. Nhiều doanh nghiệp
không có khả năng tổ chức thực thi sản xuất và kinh doanh ở quy mô lớn
cho cùng loại sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường; Theo báo cáo mới
nhất của UNDP về 200 doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam thì chúng ta
chưa có doanh nghiệp lớn tầm cỡ thế giới. Những doanh nghiệp hàng đầu
Việt Nam cũng chỉ tương đương với những doanh nghiệp vừa và nhỏ của
các nước phát triển
• Tầm nhìn hạn hẹp tư duy ngắn hạn
Vì không có tầm nhìn dài hạn nên các doanh nhân Việt Nam thường
không xây dựng mục tiêu dài hạn và có kế hoạch đầu tư thích hợp. Đa số
các doanh nhân khi lập doanh nghiệp chỉ nghĩ đến việc xây dựng một công
ty hàng đầu Việt Nam, ít khi nghĩ xa hơn tới việc xây dựng các thương hiệu
tạo ra quá trình tích hợp và phát huy mạnh mẽ những giá trị vốn có trong
nền văn hoá truyền thống của dân tộc (thí dụ những truyền thống yêu
nước và thương người, đoàn kết cộng đồng và trong tín nghĩa, cần cù,
năng động và linh hoạt v.v…) kết hợp với các thành tựu văn hoá thế giới
(thí dụ về nếp tư duy, phong cách và trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ,
về phương pháp, năng lực tổ chức quản lý kinh tế - xã hội trong quá trình
đô thị hoá, công nghiệp hoá - hiện đại hoá v.v…)… nhằm làm cho hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta sẽ ngày
càng được trật tự, lành mạnh và đạt hiệu quả cao hơn, hướng đến những
mục tiêu kinh tế - xã hội toàn diện, bền vững lâu dài của đất nước đồng
thời vừa có thể đem lại những lợi ích thiết thực ngay trước mắt cho các
doanh nghiệp. Cụ thể hơn, xây dựng văn hoá doanh nghiệp để góp
phầnvào chiến lược phát triển văn hoá kinh doanh Việt Nam hiện nay
không thể khác đó là việc nâng cao bản lĩnh, trình độ đội ngũ doanh nhân
theo hướng ngày càng "chuyên nghiệp hoá" nhiều hơn, trước hết ở cung
cách, khả năng sử dụng tốt các phương tiện, các thành tựu khoa học kỹ
thuật trong lao động, tổ chức sản xuất, năn lực cạnh tranh và hội nhập với
thị trường (nội địa lẫn quốc tế), trong giao tiếp với khách hàng, tuyên
truyền quảng bá thương hiệu, giới thiệu và bán sản phẩm…
Bên cạnh đó việc nâng cao năng lực và điều kiện, biện pháp để
chăm lo đội ngũ (cả về đời sống văn hoá cá nhân lẫn đời sống văn hoá tập
thể), không ngừng tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cùng một nề nếp,
kỷ cương hoạt động theo phon cách công nghiệp, hiện đại dựa trên nền
tảng phát huy tốt những giá trị văn hoá truyền thống ( đạo lý, nghĩa tình…)
kết hợp xây dựng bản chất tiên tiến của giai cấp công nhân (kỹ thuật, khoa
học…) cho mọi lực lượng lao động vì mục tiêu xây dựng hệ thống doanh
nghiệp Việt Nam vững mạnh toàn diện cả về chuyên môn lẫn tư tưởng, tổ
chức v.v… tất cả đều là những công việc có ý nghĩa rất chiến lược.
Từ những rào cản, những bất cập trên, có thể đề xuất một số giải
pháp cho vấn đề hội nhập và văn hóa kinh doanh Việt Nam trong những
vì quyền lợi của cả cộng đồng.
- Nâng cao tố chất của doanh nhân Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế đẩy mạnh giao lưu văn hoá, các nhà kinh
doanh chính là người tham gia trực tiếp vào quá trình giao lưu văn hoá nói
chung và xây dựng văn hoá kinh doanh nói riêng. Xây dựng văn hoá kinh
doanh không chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa kinh doanh và văn hoá mà
cao hơn, nó phải là sự nhập thân của văn hoá vào công tác kinh doanh.
Điều đó có nghĩa là chủ thể - người làm kinh doanh - phải thực sự là
những doanh nhân văn hoá. Trước hết, văn hoá phải là nền tảng tinh thần
của đội ngũ doanh nhân Việt Nam, là hành trang tinh thần để các doanh
nhân tham gia cạnh tranh quốc tế. Vì vậy, họ cần phải trau dồi, tu luyện để
có tư duy và tầm nhìn toàn cầu. Thách thức lớn nhất với doanh nhân Việt
Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế đó là tầm nhìn và ý thức hội nhập chứ
không phải là vốn hay công nghệ. Thiếu vốn có thể vay được, thiếu công
nghệ có thể mua nhưng thiếu tầm nhìn, thiếu ý thức thì rất khó cạnh tranh
và thành công trên trường kinh doanh quốc tế khốc liệt. Điều kiện quyết
định để giành được thắng lợi trong cuộc cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc
tế, chính là nâng cao tư duy và tầm nhìn của mỗi doanh nhân. Tham gia
hội nhập, mỗi doanh nhân Việt Nam cũng đồng thời phải là “doanh nhân
toàn cầu", với ý nghĩa là có tầm nhìn toàn cầu, hoài bão toàn cầu, ý chí
kinh doanh toàn cầu, và từ đó, đề ra và quyết định những giải pháp để đưa
doanh nghiệp của mình ra toàn cầu một cách thắng lợi, giảm thiểu những
thua thiệt có thể xảy ra. "Tầm nhìn toàn cầu", đó là một tầm nhìn đủ rộng
để bao quát hết thảy mọi vấn đề. Từ đó, họ sẽ góp phần giải quyết những
vấn đề của dân tộc, của thế giới qua các sản phẩm, dịch vụ của mình. Khi
họ có một cái nhìn đủ rộng, đủ xa và thực hiện bằng cái đạo kinh doanh
nghĩa là dùng sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình như là
phương tiện để giải quyết các vấn đề của xã hội, Việt Nam ắt hẳn sẽ có
một vị thế xứng đáng trong cuộc đua tranh toàn cầu. Ngày nay, tầm nhìn
của doanh nhân Việt Nam phải là tầm nhìn có tính toán căn cơ dài hạn, có
triển các cơ sở đàotạo, cung cấp cho xã hội kiến thức kinh doanh nói
chung và cung cấp cho các nhà kinhdoanh những kiến thức kinh doanh
chuyên nghiệp. Cho nên, việc phát triển các cơ sở đàotạo những nhà kinh
doanh, những nhà quản lý kinh tế chuyên nghiệp là một việc cấp bách cần
phải làm ngay.
- Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh
Doanh nghiệp, doanh nhân đang trở thành chủ thể hội nhập. Nền kinh
tế hội nhập chỉ thành công khi doanh nghiệp, doanh nhân được giải phóng,
được tập trung đầu óc trí tuệ của mình cho tư duy sáng tạo, cho việc tìm
và nắm bắt cơ hội, cho sự thành công của sự nghiệp kinh doanh. Để
doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam hội nhập kinh tế thành công, chúng ta
phải xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch trong chính sách để hạn
chế nảy sinh tiêu cực; phải có một hệ thống pháp luật đảm bảo rằng ai đi
ngược lại văn hóa kinh doanh ấy sẽ phải chịu tổn thất về mặt kinh tế nhiều
hơn so với những ai tôn trọng và bảo vệ nó.
Doanh nghiệp Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của nhà nước trong việc cải
tạo môi trường kinh doanh ngày càng phát triển, thuận lợi cho hoạt động
doanh nghiệp như: cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật, các chính sách chế
độ liên quan; hệ thống thông tin quốc gia. Nhà nước cần có chính sách,
chiến lược phát triển kinh tế phù hợp, nhất quán, đặc biệt là các chính
sách tài chính, tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hợp lý, linh hoạt. Chính phủ cũng cần
tiếp tục đẩy mạnh các mối quan hệ ngoại giao để thúc đẩy kinh tế đối ngoại
phát triển, tạo cơ hội cho doanh nghiệp, doanh nhân vươn ra thế giới; tiếp
tục tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp
cũng như gián tiếp vào Việt Nam. Vai trò chủ thể của Nhà nước chính là ở
những công việc rất quan trọng: Định hướng, tạo môi trường pháp lý,
quyết định thể chế, chính sách khuyến khích, trợ giúp, cải cách hành
chính, thanh tra, kiểm tra, v.v tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia làm
nền tảng cho việc xây dựng và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi
ngành kinh tế và nhất là của doanh nghiệp. Nhiệm vụ quan trọng nhất của
thành lợi thế cho mình. Hơn lúc nào hết, văn hoá kinh doanh Việt Nam cần
được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nâng lên tầm chiến lược, coi như
một "tài sản vô hình" không thể thiếu để bước vào hành trình mới đầy
thách thức. Đó là động lực thành công và cũng là hành trang quý báu khi
bước vào những “sân chơi” kinh tế lớn. Xây dựng văn hoá kinh doanh Việt
Nam chính là nội dung, biện pháp quan trọng hàng đầu để xây dựng, củng
cố lại nội lực, tạo tư thế mới làm tiền đề và điểm tựa cho việc hội
nhập của mỗi doanh nghiệp.
Toàn bộ nội dung nói trên không những nhằm mục đích tạo ra nguồn
nội lực vững chắc cho việc liên tục nâng cao chất lượng sản phẩm hàng
hoá, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường mà hơn nữa, đó là
điều kiện quyết định để có thể huy động cao nhất các nhân tố chủ quan,
khách quan khác nhau đối với việc tập trung xây dựng thương hiệu của
bản thân từng sản phẩm, từng doanh nghiệp (cả dân doanh lẫn nhà nước),
góp phần xây dựng hệ thống thương hiệu Việt Nam nói chung. Mục tiêu
cuối cùng chính là vì một hiệu quả kinh doanh bền vững dựa trên cơ sở
chất lượng sản phẩm và trình độ phục vụ vừa thoả mãn được nhu cầu, thị
hiếu của khách hàng để "vui lòng khách đến vừa lòng khách đi" đồng thời
vừa đáp ứng tốt các yêu cầu của xã hội (về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã
hội…) Cụ thể là, lợi nhuận thu được qua việc "làm ăn, mua bán" trong mọi
quá trình sản xuất kinh doanh phải là những "đồng tiền sạch" với nghĩa là
lãi xuất đó phải đặt lợi ích con người và xã hội lên trên hết, không thể chấp
nhận quan điểm "lợi nhuận bất cứ giá nào", kể cả triệt để chống tình trạng
hàng gian, hàng giả, hàng lậu, trốn thuế v.v…Nói cách khác, việc tiêu thụ
được sản phẩm, tăng lợi nhuận, đảm bảo khả năng tái sản xuất mở rộng
trong kinh doanh không những chỉ dựa trên cơ sở thiết lập mối quan hệ
"Vốn - Thị trường - Khách hàng" mà còn phải là sự giải quyết hài hoà
(không có mâu thuẫn) giữa các lợi ích (của doanh nghiệp, của người tiêu
dùng, của toàn xã hội) cả trước mắt lẫn trong hướng lâu dài. Tác dụng tích
cực nhất của toàn bộ vấn đề chính là nhằm tạo ra những " chất xúc tác"