Tiểu luận Quy luật phủ định của phủ định và sự vận dụng quy luật này vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc - Pdf 11

Tiểu luận
Quy luật phủ định của phủ định
và sự vận dụng quy luật này vào
việc xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Trải qua hơn 55 năm trên chặng đường phát triển văn hóa, từ văn kiện đầu tiên “Đề
cương văn hoá năm 1943”, Đảng và nhà nước ta đã tích luỹ kinh nghiệm thực tiễn và lý luận
để lại dấu ấn lịch sử, dấu ấn thời đại về tư duy văn hoá.
Không phải ngẫu nhiên mà trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW
khoá VII Đảng ta đã xác định văn hoá không chỉ là kết quả mà còn là nguyên nhân của quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Phát triển quan điểm trên, Hội nghị lần thứ 10
Ban chấp hành TW Đảng khoá IX tiếp tục xác định mục tiêu cần phải đạt tới là tạo được sự
phát triển đồng bộ về chất lượng văn hoá “Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh
tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá -
nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều
kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” (Văn kiện
Hội nghị TW 10 khoá IX). Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tháng 4 năm 2006
đã tiếp tục khẳng định: “ Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua gần 20 năm với đường lối đúng đắn của Đảng, cùng với công cuộc đổi mới và chủ
động hội nhập quốc tế, chúng ta từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự
hào như: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang từng bước được xây dựng;
nền dân chủ XHCN với nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân đã được thiết định. Bên
cạnh việc hội nhập kinh tế, tiến trình hội nhập văn hóa cũng là một tất yếu khách quan. Tiến
trình giữa hội nhập kinh tế và hội nhập văn, nếu coi nhẹ hội nhập kinh tế thì đất nước sẽ chậm
thoát nghèo. Còn coi nhẹ hội nhập văn hóa đôi khi lại nguy hiểm hơn bởi có thể bị các nền
văn hóa khác đồng hóa. Vì vậy bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế, chúng ta cần có chiến

- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng
nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta.
NỘI DUNG
Chương 1
Những vấn đề chung về quy luật của phủ định vào việc xây dựng và phát triển nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
1.1. Khái niệm phủ định biện chứng.
Theo nghĩa thông thường, phủ định được hiểu là sự không thừa nhận, bác bỏ hay sự
thay thế một sự vật, hiện tượng nào đó. Trong Triết học có hai quan điểm: quan điểm siêu
hình và quan điểm biện chứng về sự phủ định.
Quan điểm siêu hình hiểu sự phủ định là sự can thiệp của những lực lượng bên ngoài
dẫn tới thủ tiêu sự vật, chấm dứt sự phát triển của nó. Quan điểm biện chứng cho rằng phủ
định là khâu tất yếu của bất kỳ sự phát triển nào. Đó là sự thay thế sự vật này bằng sự vật
khác trên cơ sở mất đi của cái cũ và xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, là quá trình giải quyết mâu
thuẫn nội tại của bản thân sự vật bị phủ định.
Vì vậy, phủ định biện chứng là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển dẫn tới sự
ra đời của cái mới tiến bộ hơn so với cái bị phủ định (kết quả của quá trình đấu tranh giữa các
mặt đối lập bên trong sự vật ấy quyết định).
1.2. Nội dung quy luật:
Quy luật phủ định của phủ định là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy
vật. Quy luật này khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên theo hình thức xoáy ốc thể hiện
tính chất chu kỳ trong quá trình phát triển.
Đó là cơ sở phương pháp luận của nguyên tắc phủ định biện chứng, chỉ đạo mọi phương
pháp suy nghĩ và hành động của con người. Phủ định biện chứng đòi hỏi phải tôn trọng tính
kế thừa, nhưng kế thừa phải có chọn lọc, cải tạo, phê phán, chống kế thừa nguyên xi, máy
móc và phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ. Nguyên tắc phủ định biện chứng
trang bị phương pháp khoa học để tiếp cận lịch sử và tiên đoán, dự kiến những hình thái cơ
bản của tương lai.
Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong
bản thân sự vật quyết định. Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt

một đường thẳng, nó gồm có nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sao bao giờ cũng tiến bộ hơn
chu kỳ trước. Do đó, chúng ta phải hiểu những đặc điểm đó để có cách tác động phù hợp với
yêu cầu phát triển.
Theo đó, mọi sự vật luôn xuất hiện cái mới thay thế cái cũ, cái tiến bộ thay thế cái lạc
hậu, cái mới ra đời trên cơ sở kế thừa tất cả những nhân tố tích cực của cái cũ. Do đó, trong
hoạt động của mình, con người phải biết kế thừa tinh hoa của cái cũ, tránh thái độ phủ định
sạch trơn.
Trong giới tự nhiên cái mới phát triển một cách tự phát, còn trong xã hội cái mới ra đời
gắn liền với hoạt động có ý thức của con người. Chính vì thế trong hoạt động của chính mình
con người phải biết phát hiện cái mới và ủng hộ nó.
Chương 2
Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào việc xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
2.1. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình hội nhập văn hóa và thế giới.
Toàn cầu hóa là một xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động
để hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan, là khẳng định đường hướng có chiến lược,
có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Chủ động hội nhập sẽ khai thác được nhiều
nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có nhiều lợi ích nhất, hạn chế được đến mức
thấp nhất những thách thức, những tiêu cực nảy sinh.
Công cuộc đổi mới của đất nước ta hai mươi năm qua chính là sự chủ động hội nhập
quốc tế, từng bước vững chắc đạt được những thành tựu rất đáng tự hào. Về kinh tế, Việt
Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển khá cao (từ 7,5 - 8% năm), cơ cấu
kinh tế được chuyển địch theo hướng tích cực phát triển công nghiệp và dịch vụ, tốc độ hiện
đại hóa cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ với những bước đi dài tất cả đã tạo điều kiện
chín muồi để Việt Nam vững bước trên tiến trình hòa nhập Thương mại Quốc tế WTO.
Chiến lược là vậy, nhưng 20 năm hội nhập văn hóa thế giới quả là cuộc đấu tranh quyết
liệt. Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý kiến khác nhau, không được đồng
thuận như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đổi mới kinh tế. Điều này chứng tỏ quá trình
hội nhập văn hóa của chúng ta còn có những vấn đề non yếu. Không ai phủ nhận sau 20 năm
đổi mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng cao, được mở rộng, phong

tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực
tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui
định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá
không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự
phát triển đó.
Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc,
phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị thôn tính, nhưng bản sắc đó
không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định và phát triển.
Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc dân tộc
làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác trên khắp
thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình.
Nói như vậy không có nghĩa hội nhập văn hóa chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất
cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam.
Chúng ta dể dàng nhận thấy: “Toàn cầu hoá và hội nhập” một mặt làm nâng cao chất
lượng sống, mặt khác cũng hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần,
có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền
thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm
dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toán tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh
bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về
đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài
không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam…
Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ
thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều
loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù
hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa.
Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá - hiện đại
hoá. Những thế mạnh trong đối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất
thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theo
những dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho.
Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp

nghệ thuật, sân khấu, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, trong sinh hoạt, giao tiếp, ứng xử hằng
ngày của người Việt Nam.
Những giá trị hạt nhân đó không phải tự nhiên mà có, nó được tạo thành dần dần và được
khẳng định trong quá trình lịch sử xây dựng, củng cố và phát triển của nhà nước Việt Nam.
Những giá trị đó không phải là không thay đổi trong quá trình lịch sử. Có những giá trị cũ, lỗi
thời bị xóa bỏ, và có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung vào. Có những giá trị tiếp tục
phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới. Dân tộc Việt Nam, với tư cách là chủ thể sáng
tạo, thường xuyên kiểm nghiệm những giá tri hạt nhân đó, quyết định những thay đổi và bổ
sung cần thiết, tái tạo những giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Không nên có tư tưởng tĩnh và siêu hình đối với những giá trị hạt nhân đó, thậm chí đối
với những giá trị mà chúng ta vốn cho là thiêng liêng nhất. Nếu dân tộc không có ý thức giữ
gìn, bồi dưỡng, tái tạo để trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thì chúng cũng bị mai
một và tàn lụi đi theo năm tháng.
Chúng ta thử so sánh bản sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những người cuộc
Cách mạng Tháng tám sôi sục, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ với cái gọi là
"Bản sắc" chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong những năm tháng cuối đời nhà Nguyễn thì
thấy rõ. Hay là đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời kỳ Lê Mạt với chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam thời Lý -Trần. Không thể nói, đấy là cùng một bản sắc chủ nghĩa yêu nước được!
Có người hỏi có thể có những giá trị bản sắc là tiêu cực, hay là đã nói bản sắc là nói cái gì
tiến bộ, tích cực, xứng đáng được trao truyền và thừa kế.
Như trên vừa nói, không nên có cái nhìn tĩnh tại và siêu hình đối với bản sắc dân tộc. Cái
gì sống đều thay đổi và phải thay đổi. Bản sắc dân tộc cũng vậy. Giai cấp lãnh đạo phải sáng
suốt và chủ động đối với quá trình diễn biến của bản sắc dân tộc. Những giá trị nào lỗi thời
phải xóa bỏ, những giá trị mới nào cần bổ sung thêm vào, những giá trị nào cần kế thừa,
nhưng dưới một hình thức mới, và hình thức mới đó thêm ra sao? Trong những bước chuyển
cách mạng, những sự kiện đổi đời của dân tộc ta như cuộc cách mạng Tháng tám, chiến thắng
của Ngô Quyền kết thúc đêm dài mười thế kỷ Bắc thuộc, sự kiện Tây Sơn , bộ phận lãnh
đạo của dân tộc thời bấy giờ phải nghiêm túc kiểm nghiệm lại những giá trị bản sắc đương
thời của dân tộc. Không phải không có lý do mà sau 10 thế kỷ Bắc thuộc, bộ phận lãnh đạo
của dân tộc thời bấy giờ đã gạt bỏ Nho giáo và chấp nhận tư tưởng Phật giáo. Cũng với

2.3. Thành quả của việc vận dụng vào xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Đối với nước ta những năm vừa qua, trong quá trình mở cửa giao lưu với thế giới,
chúng ta không chỉ tiếp thu những giá trị hiện đại, tiên tiến mà còn bổ sung, điều chỉnh một
số nét của các giá trị truyền thống cho phù hợp với thời đại, thẩm thấu và làm đa dạng thêm
bản sắc của dân tộc. Chúng ta ngày càng ý thức rõ hơn về quá trình hội nhập. Trong quá
trình thực tiễn phát triển đất nước, chúng đã được những thành quả trong việc xây dựng và
phát huy bản sắc văn hóa đó là:
Quá trình hội nhập văn hóa đã làm cho các quốc gia đang ngày càng xích lại gần nhau
hơn bởi những giá trị truyền thống chung, đồng thời tạo điều kiện cho mỗi dân tộc phát huy
nét độc đáo, đặc trưng của mình. Quá trình này cũng sẽ tạo điều kiện cho thế giới luôn tồn tại
trong sự thống nhất chung của tất cả những cái riêng, cái đặc thù; cái chung không bài trừ cái
riêng mà cùng với cái riêng làm tiền đề cho nhau để cùng thúc đẩy nhau phát triển và tiến bộ.
Vận dụng quy luật phủ định của phủ định, ta không thể bảo vệ thụ động bản sắc mà chỉ
hòa nhập cọ sát và biến đổi bản sắc mới xuất hiện và chói sáng. Từ Truyện Kiều, thơ Nôm
hay tranh khắc gỗ dân gian, tuồng chèo, nhã nhạc Cung Đình Huế, Quan Họ hay Ca trù
chứa đựng bản sắc dân tộc vì từng là sự giao thoa, cọ sát, khai thác lẫn nhau của các dòng văn
nghệ, văn hóa khác nhau. Gần đây thì chiếc áo dài, cái nón tới tranh sơn mài, lụa, sơn dầu từ
thời Đông Dương tới Đổi Mới, Thơ Mới, tiểu thuyết, kiến trúc "Đông Dương", cải lương
đều là những suối nguồn, và "kho chứa" của bản sắc dân tộc. Nó trừu tượng song không
chung chung mà nằm ở các tác phẩm cụ thể của các tác giả cụ thể. Nếu có những nghiên cứu
nhận dạng được những nét chung nào đó của các tác phẩm, tác giả đó thì ta có thể gọi tên
"bản sắc dân tộc" ta.
Giữ gìn bản sắc không co vào cố thủ trong tính riêng biệt , khước từ giao lưu văn hoá.
Trên thế giới này không có một nền văn hoá nào có tính thuần nhất bản địa. Sự thay đổi giữa
các nền văn hoá là do trao đổi. Khi trao đổi ngừng thì cả hai địa bàn đều chững lại trong phát
triển. Đây là phép biện chứng của nhân tố ngoại sinh trong sự phát triển nội sinh. Tuy nhiên
sự hội nhập các giá trị văn hóa khác với sự tha hóa về văn hóa cũng như sự lai giống tốt khác
với lai ghép vào cơ thể những gien lạ hoắc, gây nên sự biến dị , thậm chí những quái thai.
Chẳng nói gì xa. Nửa đầu thế kỷ XX, văn hoá và lối sống Pháp, theo đó là Âu châu,

món ăn Việt Nam được ưa chuộng trên thế giới, cái làm cho con người Việt Nam muôn đời
vẫn tự định nghĩa mình là Việt Nam bất chấp không gian, bất chấp luật quốc tịch, vẫn là cái
đó, cái mùi thum thủm, cái vị mặn mặn, mà nếu thiếu nó cuộc đời nhạt nhẽo như thiếu tố
quốc: “cái chai nước mắm”, nước mắm là đại nguyên soái bách chiến bách thắng. Thực dân,
đế quốc, bá quyền, Bắc thuộc, Tây thuộc chẳng coi nó ra gì. Nhưng đối với Việt Nam đó là
“bản sắc”.
“Áo dài” là y phục của dân tộc, là yếu tố then chốt thứ hai của bản sắc. Áo dài tuy
không phải là truyền thống lâu đời, chỉ là y phục cải cách từ những năm 1930 thôi, cũng là
thời trang chế biến để thích nghi với thời đại mới. Nhưng nó thành công bao nhiêu, thân
thương bao nhiêu, yêu kiều ban nhiêu, thích hợp bao nhiêu! Nó đi vào lòng dân tộc như thể
nó đã được khai sinh từ thuở dân tộc còn nằm nôi. Và nó hãnh diện phất phới trên thế giới,
thế giới thán phục nó. Ngày nay, dù thời trang tha hồ vẽ vời, thêm bớt, nhân lên nhiều kiểu
mới, nhưng nó vẫn là nó, vẫn được tôn vinh ca ngợi. Cái gì hợp với dân tộc trải qua bao
nhiêu thử thách, cái ấy là bản sắc, chúng ta không sợ lu mờ, ai lấy, ai cướp cả! Như vậy thì
chẳng sợ ai. Như chén nước mắm. Như chiếc áo dài. Thì muôn đời của dân tộc Việt Nam.
2.4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng và giữ gìn bản sắc dân tộc trong quá
trình toàn cầu hoá và hội nhập văn hóa hiện nay.
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước mắt chúng ta cần thực hiện một số
nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết sau:
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp
của đất nước, tạo sự chuyển biến cơ bản và bước phát triển mạnh mẽ trong xây dựng, nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đồng bộ với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chúng ta nhất định phải đẩy mạnh hơn nữa phong trào ''Toàn dân đoàn kết, xây dựng
đời sống văn hoá'' gắn chặt với cuộc vận động chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống, làm chuyển biến
mạnh mẽ công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân,
nhất là đối với cán bộ chủ chốt các cấp và thanh niên.
Chúng ta phải gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ trung tâm xây dựng

thẳng mà diễn ra quanh co, phức tạp trong đó bao gồm nhiều chu kỳ khác nhau. Chu kỳ sau
bao giờ cũng tiến bộ hơn chu kỳ trước. Vì vậy, quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn
ra theo chiều hướng đó. Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa đặt
dưới sự quản lý điều tiết của nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt
nền móng cho xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, trong thời đại ngày nay, hội nhập đang trở thành một xu thế khách quan. Dân
tộc Việt Nam, hay bất cứ một dân tộc nào khác không thể nằm ngoài quĩ đạo đó. Hội nhập là
con đường tất yếu, là lẽ sống còn của cả dân tộc. Vấn đề đặt ra là chúng ta hội nhập như thế
nào. Rõ ràng, chúng ta với tư thế chủ động, hội nhập trên cơ sở tự khẳng định mình, nổ lực để
vượt lên chính mình, nghĩa là, thông qua quá trình hội nhập, chúng ta có thể nhận thức đầy đủ
hơn, có ý thức hơn trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc của dân tộc mình. Đồng thời trong
quá trình đó, chúng ta sẽ thấy được những hạn chế của những truyền thống có khả năng cản
trở sự tiến bộ để tìm cách khắc phục. Một khi đã nhận thức được như vậy, chắc chắn chúng ta
sẽ kết hợp hài hoà các giá trị truyền thống với các giá trị hiện đại, trên cơ sở bảo tồn bản sắc
dân tộc, giữ lấy những gì là tinh hoa, loại bỏ dần các yếu tố lỗi thời, tăng cường giao lưu, học
hỏi với bên ngoài thì sẽ vượt qua được những thử thách, sẽ khơi dậy được vai trò động lực
của các giá trị truyền thống. Với tinh thần và bản lĩnh của người Việt Nam, chúng ta sẽ “phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng
xã hội chủ nghĩa”, kết hợp sức mạnh dân tộc với những ưu thế của thời đại để phát triển đất
nước và từng bước khẳng định vị thế bản lĩnh của dân tộc mình trước cộng đồng./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc - Nguyễn Văn
Huyên.
2/ Bản sắc và toàn cầu hóa - GS. Cao Huy Thuần
3/ Đừng quá sợ đánh mất bản sắc dân tộc - Kim Hạnh
4/ Một văn hóa mới cho hội nhập hôm nay - Nguyên Ngọc
5/ Bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam - GS. Minh Chi (Học viện Phật giáo Việt Nam)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status