Phạm trù lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó
đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Việt Nam hiện nay Nguyễn Thị Lan Minh Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị
Luận văn ThS. ngành: Triết học; Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn: TS. Lê Trọng Hanh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử. Phân tích phạm
trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ. Trình bày các nội
dung cơ bản trong phạm trù Lễ của Khổng Tử. Phân tích thực trạng đạo đức học sinh
ở Việt Nam hiện nay. Đưa ra ý nghĩa của Lễ đối với việc giáo dục đạo đức học sinh
ở Việt Nam và một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Keywords. Triết học; Tư tưởng Khổng Tử; Triết học phương Đông; Giáo dục đạo
đức; Lễ
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị trí rất đặc biệt. Sự đặc
biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong nội dung tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó
đối với thời đại nó ra đời mà còn bởi tư tưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và
rất riêng, vượt qua khuôn khổ một thời đại, một quốc gia. Tư tưởng Khổng Tử nói riêng và tư
tưởng nho giáo nói chung đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến trong suốt tiến
thành công sự nghiệp phát triển đất nước bên cạnh việc giáo dục tri thức khoa học thì giáo
dục đạo đức có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan điểm về Lễ nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong
việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay.
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều thế kỷ cùng với sự
tiếp biến linh hoạt và cho vào Lễ một hơi thở của thời đại thì nó hoàn toàn có thể giúp khôi
phục và định hình một nhân cách chuẩn đối với học sinh, đặc biệt là với một bộ phận học
sinh lệch chuẩn hiện nay ở nước ta.
Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài: “Phạm trù Lễ của Khổng
Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu
Nho giáo nói chung và phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử nói riêng là đối tượng
nghiên cứu đang thu hút nhiều ngành khoa học nghiên cứu trong nhiều thế kỷ qua cho tới
hiện nay, như: triết học, văn hóa học, sử học, tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học… Có
thể khái quát kết quả nghiên cứu đó theo ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Khổng Tử trong tổng thể nền văn hóa
Trung Quốc. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến các tác phẩm như: “Sử ký”
của Tư Mã Thiên, Nxb Văn học, Hà Nội, xuất bản năm 1988; “Lịch sử văn minh và các triều
đại Trung Quốc”, được biên soạn năm 2004 bởi TS. Dương Ngọc Dũng - Nhà nghiên cứu
Anh Minh, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ C hí Minh; “Lịch sử văn minh Trung Hoa” của sử
gia lớn nhất thời hiện đại Will Durant, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội (dịch giả Nguyễn
Hiến Lê), 2004; “Đại cương triết học sử Trung Quốc”, của nhà triết học Phùng Hữu Lan
(Fung Yu-Lan), Nxb Thanh niên, Trung tâm nghiên cứu quốc học, Hà Nội (người dịch
Nguyễn Văn Dương), xuất bản năm 1999; “Nho giáo Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Tôn
Nhan, Nxb Văn hóa thông tin, năm 2005; “Lịch sử triết học phương Đông”, của GS. Nguyễn
Đăng Thục, Nxb từ điển Bách khoa, Hà Nội, xuất bản năm 2006; “Đạo đức phương Đông cổ
đại”, của PGS. Vũ Tình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản 1998… Các công trình
nghiên cứu đã trình bày một cách khái quát về tư tưởng triết học Khổng Tử, trong đó có tư
tưởng về Lễ của ông tổ Nho giáo để khắc họa chân dung một con người, một nhân cách, một
đại biểu văn hóa.
của Khổng Tử, cũng như đề ra phương pháp vận dụng những bài học lịch sử đó vào việc hoạch
định chính sách, biện pháp giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Để có cái nhìn toàn điện về đạo đức, lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay, trên cơ
sở nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của Đảng, tác giả tham khảo, kế thừa những công trình
khảo sát, thống kê, nghiên cứu về thanh niên, về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Những công trình này đã phản ánh thực trạng về tình hình đạo
đức, lối sống của thanh thiêu niên Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường đang phát triển.
Có thể khẳng định đây là những công trình nghiên cứu chuyên sâu của những nhà khoa học,
những công dân đang trăn trở về những biến động trong lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội. Có thể kể đến:
“Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, do Nguyễn Ngọc Phú (chủ biên),
Nxb Quân đội nhân dân, xuất bản năm 2008. Nhóm tác giả đã trình bày quan niệm chung về
chuẩn mực đạo đức theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phân
tích các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống con người Việt Nam; đồng thời phân tích các
tác động của nền kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến sự vận động biến đổi
các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay.
ThS. Phạm Tấn Xuân Tước, PGS TS. Huỳnh Thị Gấm (2008), “Vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho sinh viên ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Nxb Lý
luận chính trị, Hà Nội. Công trình trình bày Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách
mạng, lối sống mới cho thanh niên; phân tích thực trạng đạo đức, lối sống sinh viên; thực
trạng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên; đề ra các nhóm giải pháp về giáo dục
đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Công trình “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố ngày 26
tháng 8 năm 2005. Tính cho đến nay, đây là cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên lớn
nhất, toàn diện nhất ở Việt Nam, là nguồn thông tin bổ ích, đáng tin cậy về tình trạng sức
khỏe, đời sống xã hội, thái độ, hoài bão của thế hệ thanh niên Việt Nam ngày nay.
Đây là các công trình rất công phu, mỗi tác giả lại có cái nhìn chuyên sâu về từng khía
cạnh của đời sống thanh niên hiện nay và từ đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao
đạo đức xã hội. Song, các tác phẩm còn dừng lại ở những giải pháp ở tầm vĩ mô, chung
chung mang tính định hướng mà chưa thực sự cụ thể, phù hợp để xây dựng những chuẩn mực
ng cu
̉
a khô
̉
ng Tư
̉
về Lê
̃
, luâ
̣
n văn đa
́
nh gia
́
như
̃
ng
giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử của nó cùng những kiến nghị đối vơ
́
i sư
̣
nghiê
̣
p giáo
dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
- Phân tích phạm trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ.
đức trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp, Trung học phổ thông… ở
nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn bao gồm 2 chương,
7 tiết:
Chương 1: Quan niệm Lễ của Khổng Tử
Chương 2: Ý nghĩa của Lễ trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay.
Chương 1
QUAN NIỆM LỄ CỦA KHỔNG TỬ
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
Khổng Tử là người ấp Châu, làng Xương Bình, nước Lỗ nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn
Đông, Trung Quốc. Khổng Tử sinh vào mùa đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời
vua Linh Vương nhà Chu, tức là năm 551 trước Công Nguyên. Bà Nhan thị có lên cầu tự trên
núi aNi Khâu, cho nên khi sinh ra ông mới nhân điềm ấy mà đặt tên ông là Khâu, tên tự là
Trọng Ni. Có sách chép rằng trán ông cao và gồ lên cho nên mới đặt tên là Khâu. Khâu nghĩa
là cái gò.
Khổng Tử tôn phù nhà Chu để giảm bớt cái quyền các nước Chư hầu, giữ quyền vua Chư
hầu mà bớt quyền các quan Đại phu. Vì vậy cho nên ông đi chu du khắp thiên hạ mà không
tìm được chỗ nào để thi hành cái đạo của mình.
Cũng bởi vậy nên ông đã chu du nhiều nước song không được trọng dụng. Cuối đời, thấy
thật sự bất lực việc làm chính trị ông về quê dạy học, san định Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của
cổ nhân, viết sách Xuân Thu để bộc lộ quan điểm của mình. Nhiều quan điểm của ông thể
hiện qua các buổi tọa đàm mà nội dung của nó sau này được trình bày trong “Luận Ngữ” do
học trò của ông chép lại. Sau khi Khổng Tử mất, nhất là qua giải pháp tàn khốc “đốt sách,
chôn nho” của Tần Thủy Hoàng thì sách của Khổng Tử không còn giữ được là bao. Khi đạo
Nho được phục hưng (đời Hán Vũ Đế), sách Nhạc chỉ còn một thiên, được đem ghép vào bộ
“Lễ ký” gọi là thiên “Nhạc ký”. Những sách khác được người đương thời sưu tầm, bổ sung
tạo thành năm kinh là: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
hội và giáo hóa con người. Và chúng ta không thể phủ nhận phạm trù Lễ của Khổng Tử đã ít
nhiều thực hiện được mục đích đó trong lịch sử xã hội Trung Hoa.
1.2.2. Các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ
1.2.2.1. Mối quan hệ giữa Lễ và Nhân
Trong Luận Ngữ khái niệm Nhân được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần tùy từng đối tượng,
từng hoàn cảnh mà Nhân được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất Nhân
là nguyên tắc đạo đức. Theo Khổng Tử Nhân là nội dung, Lễ là hình thức của Nhân và Chính
danh là con đường để đạt đến điều Nhân.
Để đạt được đức Nhân con người phải có Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của Nhân, con
người sẽ không đạt được Nhân nếu như: xem, nghe, nói, làm điều trái Lễ. Và vì vậy cũng như
nhạc, thi, thư, Lễ là phương tiện để giáo hóa con người. Nếu không có Nhân mà dùng Lễ thì
Lễ chỉ là hình thức sáo rỗng mà thôi.
1.2.2.2. Mối quan hệ giữa Lễ và Nghĩa
Theo Khổng Tử Nghĩa chính là để cái thích đáng hay cái đạo lý. “Khổng Tử nói: …thấy
việc nghĩa mà chẳng làm, ấy là người chẳng có khí dõng” (Tử viết: …kiến nghĩa bất vi, vô
dõng dã) [Luận ngữ, Vi chính, 24]. Hay Khổng Tử còn nói: “…Này, đạt nhân là phải có tính
chất phác và ngay thẳng”.
Theo Khổng Tử Nghĩa trái ngược với lợi “Bực quân tử tinh tường về việc nghĩa, kẻ tiểu
nhơn rành rẽ về việc lợi” (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi) [Luận ngữ, Lý nhân, 16].
Nghĩa chính là cơ sở để hình thành Lễ còn Lễ chính là mục tiêu, tiêu chuẩn để xác hành
vi có Nghĩa hay không.
1.2.2.3. Mối quan hệ giữa Lễ và Pháp
Pháp theo nghĩa hẹp là luật lệ, quy định, là điều luật, hiến lệnh có tính chất khuôn mẫu mà
mọi người không phân biệt vua tôi, trên dưới, sang hèn đều phải tuân theo, theo nghĩa rộng
pháp có thể hiểu như là thể chế chế độ xã hội.
Lễ và Pháp đều là những quy định nhằm ổn định trật tự xã hội. Nếu như Khổng Tử chủ
trương giáo hóa con người bằng đạo đức thì Hàn phi lại chủ trương trị nước bằng Pháp.
1.2.2.4. Mối quan hệ giữa Lễ và Nhạc
Nhạc cũng như Lễ rất có ảnh hưởng về đường chính trị. “Thanh tâm chi đạo, dữ chính
thông hỹ: đạo thanh âm thông với chính trị vậy” (Nhạc ký, XIX). Dùng Nhạc cũng như dùng
Tử phê phán Pháp trị và đề cao Lễ trị. Khổng Tử cho rằng dùng đức và Lễ để trị nước thì có
sức quy tụ lớn. Ông nói: “Lấy đức làm cơ sở cho chính sự thì như sao Bắc đẩu ở trên trời, chỉ
đứng một chỗ mà các sao khác đều chầu về”.
Phạm trù Lễ của Khổng Tử còn được dùng về phương diện phân tôn ti trật tự, tức là phép
tắc để tổ chức luân lí ở trong gia đình, xã hội và quốc gia.
1.3.3. Lễ là chuẩn mực đạo đức của con người trong xã hội
Mục đích cơ bản của Khổng Tử là xây dựng Lễ, xây dựng mẫu người có đạo đức nhân
nghĩa mong muốn có một xã hội bình yên theo quan niệm của giai cấp phong kiến đương
thời.
Trước hết những quan hệ đạo đức đó được thể hiện trong gia đình, tế bào của xã hội mà
trước hết là mối quan hệ với cha mẹ, bởi vì cha mẹ là người đầu tiên của các mối quan hệ xã
hội.
Lễ còn được quy định cả những cách ứng xử của những người có chức, có quyền trong
xã hội như trong quan hệ vua tôi
Lễ giáo khuyên người ta trong quan hệ với bạn bè phải chân thành thân mật “Cửu nhi
kính chi”.
Trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức ấy mà con người điều chỉnh hành vi xử thế của
mình trong các quan hệ cho phù hợp.
1.3.4. Lễ là công cụ tiết chế hành vi của con người
Khổng giáo vốn lấy tình cảm làm trọng nhưng cái tình cảm của con người mà không được
hạn chế thì thành hư hỏng.
Sự giáo hóa Lễ của Khổng Tử rất sâu sắc. Trong Lễ ký đã viết “Lễ chi giáo hóa giã vi, kỳ
chỉ tà giả ư vị hình, sử nhân nhật tỷ thiện, viễn tộ, nhi bất tự tri giã: sự giáo hóa của lễ rất cơ
màu, khăn cấm điều bậy ngay lúc chưa hình ra khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện
tránh xa điều tội mà tự mình không biết”.
Kê
́
t luâ
̣
n chương 1
chất lượng, hình thức đào tạo và cơ sở vật chất.
Bên cạnh đó khi đất nước bước vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho ngành giáo dục đặc biệt trong lĩnh vực
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ ngày nay. Cùng với sự phát triển kinh tế là sự gia tăng
khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, các khuyết tật của nền kinh thị trường cũng
xuất hiện và tác động mạnh mẽ tới nhận thức và tư tưởng của nhân dân.
Những biểu hiện đáng báo động về đạo đức, lối sống trong một bộ phận học sinh là điều
cần được quan tâm và cần phải có những biện pháp kịp thời. Song trước tiên cần tìm hiểu
nguyên nhân nào đã dẫn đến những hiện tượng trên.
Thứ nhất, Ngành giáo dục những năm qua đã đạt được nhiều thành tích quan trọng trong
việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài góp phần vào
thành tựu phát triển kinh tế, giải quyết những vấn đề khoa học xã hội, từng bước đưa Việt
Nam hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nhìn lại trước yêu cầu của sự phát triển,
giáo dục và đào tạo đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
Thứ hai, bên cạnh việc chưa thực sống trong môi trường sư phạm nhân văn thì một bộ
phận học sinh khi về nhà lại phải sống trong môi trường dạy dỗ bạo lực.
Thứ ba, những tác động tiêu cực từ xã hội đó là tác động của phim ảnh, sách báo, trò
chơi bạo lực, phản giáo dục cũng như do ảnh hưởng của công nghệ thông tin, đặc biệt là do
ảnh hưởng của mạng intenet.
2.3. Mô
̣
t sô
́
gia
̉
i pha
́
p giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay
2.3.1. Phạm tr Lễ trong triết học Khổng Tử với việc giáo dục đạo đức học sinh Việt
Nam hiê
Lễ không phải là phương tiện cũng như phương pháp duy nhất trong việc tìm kiếm
những định hướng giá trị đạo đức cho học sinh hiện nay. Một nền giáo dục hiện đại, thông
minh là nền giáo dục coi trong việc giáo dục đạo đức bên cạnh dạy kiến thức, thực hiện song
hành giữa dạy người và dạy chữ.
2.3.2. Một số kiến nghị cho sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay
Tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, phòng chống
tội phạm, tệ nạn xã hội trong nhà trường
Để tăng cường giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, phòng chống tội phạm trong nhà
trường, trước hết tạo điều kiện cho học sinh học tập chủ nghĩa Mác-Lênin.
Bên cạnh việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà trường còn tạo điều kiện cho các em học
tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Từ đó, dần dần trang bị cho mình
những chuẩn mực đạo đức cách mạng.
Song song với quá trình trang bị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh của mình, nhà
trường cần tạo cho học sinh môi trường học đường an toàn.
Nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức của học sinh về vấn đề đạo đức, lối sống, nhà quản lý
giáo dục, và người trực tiếp làm công tác giáo dục phải hiểu đối tượng được giáo dục là ai, có
đặc trưng gì, thường có biểu hiện gì…
Phải hiểu tâm lý, tính cách của đối tượng học sinh được giáo dục
Nhà giáo dục vĩ đại người Nga Usinxki nói rằng: Muốn giáo dục con người về mọi mặt
thì phải hiểu con người về mọi mặt. Phải hiểu tâm lý, tính cách thanh thiếu niên, phải tạo điều
kiện để thanh thiếu niên được học hành, tu dưỡng, tự rèn luyện. Do đó, không thể xem nhẹ
việc giáo dục đạo đức, không thể coi giáo dục đạo đức là kết quả đương nhiên của dạy trí.
Muốn vậy, phải coi giáo dục đạo đức là một khoa học thực sự, có đối tượng, có nội dung, có
phương pháp đặc thù.
Để hiểu tâm lý các em, giáo viên cần thường xuyên cập nhật những tài liệu chuyên về tâm
lý của từng lứa tuổi, lối sống của giới trẻ, những thay đổi của xã hội. Khi xã hội thay đổi,
điều kiện kinh tế xã hội thay đổi thì tâm sinh lý của trẻ em cũng có nhiều biến đổi mà các tài
liệu ở giảng đường đại học chưa thể dự biến được. Để tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao
sự hiểu biết về tâm lý học sinh, ngành giáo viên cần tổ chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên
theo chu kỳ cho giáo viên.
cường kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường cần phối hợp cùng giáo viên bộ môn, giáo viên
chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể để tăng cường hoạt động ngoại khoá, hoạt động ngoài giờ
lên lớp theo nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm
đảm bảo tính linh hoạt về hình thức dạy học, hình thức kiểm tra, đánh giá, rèn luyện kỹ năng
sống và kỹ năng hoạt động xã hội cho học sinh.
Kê
́
t luâ
̣
n chương 2
Hồ Chí Minh, một nhà giáo dục, một người thực hành đạo đức rất trân trọng trí tuệ, con
người và nhân cách của Khổng Tử. Hồ Chí Minh đánh giá cao quan điểm đề cao sự “tu thân”,
tự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cá nhân của Khổng Tử. Bác luôn nhắc nhở con cháu phải luôn
ý thức việc thực hành, rèn luyện đạo đức cách mạng, kêu gọi mọi người cùng tu dưỡng đạo
đức.
Nhằm vận dụng những bài học bổ ích từ phạm trù lễ, cần phải có một số điều kiện nhất
định từ phía nhiều phía, nhiều ban ngành. Song, ở đây chỉ đề cập đến những giải pháp trong
phạm vi nhà trường: thứ nhất, phải hiểu tâm lý, tính cách của đối tượng học sinh được giáo
dục; thứ hai, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, phòng
chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong nhà trường; thứ ba, kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục
của các tổ chức thanh niên, nhà trường, các đoàn thể xã hội với quá trình tự tu dưỡng, tự rèn
luyện của học sinh; thứ tư, phải coi giáo dục Lễ như một môn khoa học về đạo làm người;
thứ năm, tăng cường giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh; thứ sáu, tăng cường
hoạt động ngoại khoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp theo nội dung phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
KẾT LUẬN
Lễ là toàn bộ những quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà Khổng Tử đòi hỏi mọi người phải nhất
thiết tuân theo. Với chữ Lễ, Khổng Tử đã trên cơ sở của tâm lý học đề ra những biện pháp
giáo dục có hiệu quả nhất, tạo ra những sợi dây vô hình buộc chặt nhân dân vào chế độ tông
5. Nguyễn Thị Kim Bình (1998), Đường lối đức trị của Khổng Tử, nội dung và vai trò
lịch sử, Luận văn thạc sĩ Triêt học, Viện Triết học.
6. Hoàng Thị Bình (2001), “Nhân, nhân nghĩa, nhân chính trong “Luận Ngữ” và “Mạnh
Tử””, Tạp chí Triết học, (11).
7. Phan Văn Các (3/1991), “Việc nghiên cứu của Khổng Tử và Nho giáo ở Trung Quốc
thập kỳ 80”, Tạp chí Triết học, (1).
8. Doãn Chính (1997), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Doãn Chính (2003), Đại cương lịch sử triết học phương Đông Cổ đại, Nxb. Thanh
niên, Hà Nội.
10. Doãn Chính - Nguyễn Sinh Kế (2004), “Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam
- từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX”, Tạp chí Triết học, (9-1960).
11. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại cương triết học Trung Quốc, Tập 1, Nxb.
Thanh niên, Hà Nội.
12. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại cương triết học Trung Quốc, Tập 2, Nxb.
Thanh niên, Hà Nội.
13. Nguyễn Thị Kim Chung (2004), Quân tử - mẫu người toàn thiện trong tác phẩm Luận
ngữ, Luận văn thạc sĩ Triết học, Viện Triết học.
14. Đoa
̀
n Trung Co
̀
n (Dịch giả), năm 1950, Luận ngữ, Nxb. Trí Đức Tòng Thơ, Sài Gòn.
15. Hoàng Tăng Cường (2000), “Quan niệm của Nho giáo về nghĩa và lợi”, Tạp chí Triết
học, (4).
16. Phan Đại Doãn (1997), “Một số đặc điểm Nho giáo ở Việt Nam”, Tập san Khoa học
Xã hội nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, (3).
17. Will Durant (2004), Lịch sử văn minh Trung Hoa, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội
(dịch giả Nguyễn Hiến Lê).
18. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
19. Đại Việt sử ký toàn thư (1998), Tập 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
32. C.Mác - Ănghen (1994), Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2005), Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục
đào tạo con người, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học.
34. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
38. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
40. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
41. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 9, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
43. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
44. Hồ Chí Minh (2001), Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
45. Phan Ngọc (1990), Cách tiếp cận của Khổng Tử trong sách: Nho giáo xưa và nay (Vũ
Khiêu chủ biên), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
46. Nguyễn Duy Quý (2006), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
47. TS. Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ
triết học xã hội, Nxb. Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh.
48. Lê Sĩ Thắng (chủ biên - 1994), Nho giáo tại Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
49. Trần Đình Thảo (1996), Quan niệm về Nho giáo nguyên thủy về con người qua các
mối liên hệ thân - nhà - nước - thiên - hạ, Luận án tiến sĩ Triết học, Viện Triết học.
50. Nguyễn Tài Thư (1997), Nho học và Nho học ở Việt Nam - một số vấn đề lí luận và
thực tiễn, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
51. Trần Nguyên Việt (Chủ biên, 2002), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn tuyển, Tập 1 (Tư
tưởng Việt Nam từ đầu Công nguyên đến cuối thời Lý), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nô
̣
i.