MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử nhân loại, tư tưởng Nho giáo có một vị trí và vai trò rất
đặc biệt. Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi giá trị sâu sắc của nội dung tư tưởng
mà và tầm ảnh hưởng của nó đến thời đại ra đời mà còn ảnh hưởng sâu
rộng đến các nước phương Đông ngày nay.
Khổng Tử là người đặt nền móng đầu tiên cho tư tưởng Nho giáo.
Phạm trù Lễ là một trong những nội dung chủ yếu trong tư tưởng về chính
trị - xã hội, luân lý đạo đức của ông. Lễ trong giáo dục phong kiến đến Lễ
trong giáo dục hiện nay đã có những biến động nhưng ở thời kỳ nào cũng
có giá trị bảo tồn. Trong quá trình du nhập vào Việt Nam, người Việt đã
sớm tiếp biến tư tưởng của Khổng Tử không chỉ qua sự giao thoa văn hóa
tự nhiên mà còn bởi sự ủng hộ và tiếp sức của giai cấp phong kiến Việt
Nam qua nhiều thời đại. Chính vì vậy, tư tưởng của Khổng Tử cũng như
phạm trù Lễ đã chiếm một vị trí quan trọng không chỉ trong đời sống mà
còn trong giáo dục của người Việt.
Ngày nay, sự suy thoái đạo đức diễn ra không ở riêng tầng lớp nào,
nghề nghiệp nào cả và hiện tượng này diễn ra ở một bộ phận không nhỏ
học sinh, sinh viên đang chạy theo cám dỗ của đồng tiền, chạy theo hư vinh
phù phiếm…đánh mất chính mình, trong đó có một bộ phận sinh viên
trường ĐHSP Hà Nội. Trước tình hình đó, việc giáo dục đạo đức cho SVSP
là điều vô cùng cần thiết và cấp bách.
Một điều kiện hết sức quan trọng để giáo dục đi đến thành công đó là
phải giáo dục người thầy, bởi: “Muốn cho việc giáo dục đạt hiệu quả thì
những người làm công tác giáo dục cần phải tự giáo dục bản thân mình”
[21, tr292]. Người thầy phải là người tiên tiến, có niềm tin sâu sắc vào
chính nghĩa có trình độ học vấn cao, được đào tạo đầy đủ về mặt chính trị,
khoa học và sư phạm. Người thầy không tỏ ra là nhà giáo dục trước mắt
học sinh không đứng trên thiên giới sư phạm của mình mà gương cao các
1
chân lý đạo đức. Đạo đức người thầy là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực
sự nghiệp của Khổng Tử, Nho giáo nguyên thủy, Tống Nho, các phạm trù
Tam cương Ngũ thường….
Đề tài “Tư tưởng Nho giáo Việt Nam và ảnh hưởng của nó với nước
ta hiện nay” của Nguyễn Thị Thanh Mai đăng trên Nghiên cứu Văn hóa –
Số 2 (Thông báo khoa học) bao gồm các nội dung như: khái quát nội dung
tư tưởng đạo đức Nho giáo, các phạm trù Ngũ thường và ảnh hưởng của
Nho giáo ở nước ta hiện nay…
2.1.2. Phạm trù Lễ
Bài viết “Lễ giáo trong nền đạo đức Khổng Mạnh” của GS.Trần Văn
Đoàn, Đại học Quốc Gia Đài Loan. Trong bài viết này giáo sư đã đề cập tới
những vấn đề như chữ Lễ trong Nho giáo, Lễ trong Luận Ngữ, Lễ trong Mạnh
Tử, Lễ trong tư tưởng của Tuân Tử… tuy nhiên giáo sư nghiên cứu nhiều về
phần lí luận chưa đề cập tới thực tiễn của phạm trù Lễ trong cuộc sống.
Bài viết “Về giá trị đương đại của Nho giáo Việt Nam” của tác giả
Vũ Khiêu, Tạp chí Triết học số 8, trang 37 – 40, 2009. Trong bài viết
này tác giả đề cập tới vấn đề Nho giáo với kinh tế, Nho giáo với vấn đề
tu dưỡng đạo đức, Nho giáo về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội (Ngũ
thường)…
Bài viết “Quan niệm của Nho giáo về đạo làm người” của
TS.Nguyễn Thị Thọ, khoa Triết học, ĐHSP Hà Nội, được đăng ngày
25/03/2013, trên trang chủ của khoa Triết học [35]. Tác giả đề cập tới đạo
làm người, đạo làm người qua các mối quan hệ xã hội như: bản thân, xã
hội…trong đó đề ra những yêu cầu để thực hiện những mối quan hệ đó
đúng với đạo làm người: phải chính danh, phải có sự tôn trọng của cả hai
phía, trong quan hệ vua – tôi thì đều được coi là người cầm quyền,…
3
Đề tài “Nho giáo và đào tạo con người nhân, lễ” của Nguyễn Văn Nội,
Đại học Văn hóa Hà Nội đề cập tới phạm trù Nhân, Lễ trong xã hội công
nghệ, khoa học – kĩ thuật phát triển như hiện nay trên tư tưởng Nhân, Lễ của
Nho giáo nguyên thủy của Khổng Tử, Tuân Tử và từ đó đề ra các biện pháp
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu tìm hiểu phạm trù Lễ - một trong năm phạm trù
quan trọng củ Nho giáo: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Làm rõ cái hay, cái
đẹp, cái hợp lí và chưa hợp lí trong phạm trù Lễ này.
Đưa ra những biện pháp áp dụng phạm trù Lễ vào trong giáo dục đạo
đức cho sinh viên ĐHSP Hà Nội để đem lại hiệu quả giáo dục cao. Từ đó
chỉ ra ý nghĩa và vai trò to lớn của việc giáo dục Lễ cho sinh viên áp dụng
phổ biến cho việc giáo dục đạo đức cho sinh viên ĐHSP nói riêng và hệ
thống giáo dục các cấp trong cả nước nói chung, thông qua các môn học
như: Giáo dục Công dân, Đạo đức học, Giáo dục học,…
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống lại phạm trù Lễ của Khổng Tử
Phân tích, đánh giá chứng minh ý nghĩa của phạm trù Lễ đối với giáo
dục lối sống đạo đức cho sinh viên ĐHSP Hà Nội.
Làm tài liệu cho nghiên cứu giảng dạy các môn đạo đức.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sinh viên toàn trường ĐHSP, đặc biệt chú trọng vào sinh viên các
nghành như: Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Đặc biệt, Sư
phạm Nghệ thuật, Sư phạm Văn học, Giáo dục Công dân,…Vì đặc thù của
những ngành học này ảnh hưởng sâu rộng tới đạo đức học sinh sau này. Ví dụ:
giáo viên mầm non là người thầy đầu tiên của trẻ khi tới trường khi xa vòng tay
bố mẹ, là người giáo dục nhân cách, đạo đức đầu tiên ngoài gia đình…
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Sinh viên ĐHSP Hà Nội năm nhất đến năm ba, đặc biệt là các khoa
như: Giáo dục Mần non, Giáo dục Tiểu học, Lí luận Chính trị - Giáo dục
công dân, Sư phạm Văn học…
Các thầy cô giáo giảng viên ở các khoa, ở các bộ môn khoa học xã
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ LỄ CỦA KHỔNG TỬ
1.1. Cơ sở hình thành phạm trù Lễ của Khổng Tử
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
Khổng Tử (551 – 479 trCN) tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước
Lỗ (hiện nay là làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc huyện
Duyện châu, tỉnh Sơn Châu, Trung Quốc). Người dòng dõi người nước
Tống (Hà Nam). Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ bị sa sút. Quê
hương nước Lỗ của Khổng Tử là nơi trụ cột, nơi bảo tồn được nhiều di sản
văn hóa cũ nhà Chu. Như đã nói ở trên, thời đại Khổng Tử là thời đại của
“Vương đạo suy vi”, “Bá đạo” nổi lên lấn át “Vương đạo” của nhà Chu, trật
tự nhà Chu đang bị đảo lộn, như ông than rằng: “vua không phải đạo vua,
tôi không phải đạo tôi, cha không phải đạo cha, con không phải đạo con”
[33, tr28]. Đứng trên lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc
nhà Chu, ông chủ trương lập lại pháp chế, kỷ cương của nhà Chu với một
nội dung cho phù hợp.
Ông lập ra học thuyết, mở trường dạy học, đi chu du các nơi trong
nước, tranh luận với các phái khác để tuyên truyền lý tưởng của mình nhằm
phục vụ mục đích trên. Sau đây là tư tưởng của ông:
Về học thuyết chính trị
Hoài bão chính trị nhất quán trước sau của Khổng Tử là kế thừa sự
nghiệp của Văn Chương, Chu Công. Chu Công lặp lại kỷ cương nhà Chu.
Để thực hiện lý tưởng Chính trị của mình, ông xây dựng học thuyết về
Nhân – Lễ - Chính danh.
Điều “Nhân” là hạt nhân của học thuyết chính trị của Khổng Tử.
Theo ông, “Nhân” là nội dung, “Lễ” là hình thức, “Chính danh” là con
đường đạt tới điều Nhân. (Ông nói: sửa mình, khôi phục điều Lễ là người
Nhân). Học trò của Khổng Tử là Phàn Trì hỏi, thế nào là “Nhân”, Khổng
Tử trả lời: “Thương người” (Ái nhân). “Thương người”, “điều gì mà mình
9
đi, những khái niệm (danh) của kiến trúc thượng tầng đã tỏ ra lạc hậu trước
sự thay đổi nhanh chóng, toàn diện của cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp
trong xã hội. Một hiện thực “lộn xộn”, cũ – mới đan xen. Trước tình hình
đó Khổng Tử cho rằng, cần phải “chính danh” cho vua ra vua, tôi ra tôi…
“Chính danh” là điều căn bản của việc làm chính trị, đưa xã hội “loạn” trở
về “trị”. Nhưng có điều ông đã nhận ra được cội nguồn của “danh thực oán
trách nhau” ấy nên ông đã chủ trương một cách duy tâm. Ông cho rằng
“Lễ nhạc không hưng thịnh” (tức kiến trúc thượng tầng lung lay) không
phải do sự biến đổi từ cơ sở, mà là do “danh không chính”, “ngôn không
thuận”. Và, ông đã lộn ngược theo quan điểm duy tâm đó.
Về tư tưởng triết học
Khổng Tử rất ít bàn đền vấn đề trừu tượng thuộc bản thể, ít bàn đến
chuyện quỷ thần. Ông nói: Chưa biết chuyện của người, làm sao biết
chuyện của quỷ thần. Từ Lộ lại hỏi: Sau khi chết con người ta sẽ ra sao?
Ông nói: “Chưa biết được việc sống làm sao biết được việc chết” [33,
tr29]. Tuy nhiên, trong nghị luận nhiều chỗ ông nhắc đến “Trời”, “Mệnh
trời” để trình bày ý kiến của mình. “Trời” đối với Khổng Tử có chỗ như là
một quy luật, là trật tự của vạn vật (“Trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay
đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng”), có chỗ ông khẳng định trời có ý chí
(“Than ôi! Trời làm mất đạo của ta rồi”; “Mắc tội với trời không thể cầu ở
đâu mà thoát được” [33, tr29]). Ý chí của Trời là Thiên mệnh (Mệnh lệnh
của trời: Mệnh trời. “Thiên mệnh” nói vắn tắt là mệnh. Ông cho rằng mỗi
cá nhân, sự sống – chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do “Thiên mệnh quy
định. Phú quy không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải cầu”. Mặt
khác, Khổng Tử lại cho rằng con người bằng nỗ lực chủ quan của mình
cũng có thể thay đổi lại được cái “Thiên mệnh” ban đầu. Ông nói, con
người lúc mới sinh ra, cái “tính” trời phú cho là giống nhau như trong quá
trình tiếp xúc, học tập… (thực tiễn - L.G.T.) nó làm cho họ khác nhau, có
kẻ trí người ngu (“Tính tương cận, Tập tương viễn”). Đây là mặt tích cực,
Về chính trị
Suốt thời Xuân Thu, mệnh lệnh của “Thiên tử” nhà Chu không còn
được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy
đồi. Nạn chư hầu chiếm ngôi “Thiên tử”, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi
giết vua, cha giết con, anh hại em, vợ lìa chồng thường xuyên xảy ra. Các
nước chư hầu đua nhau động binh gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau hết
sức khốc liệt. Thời Xuân Thu có khoảng 295 năm thì đã xảy ra 483 cuộc
chiến tranh. Những nước chư hầu mạnh lên thay nhau làm bá thiên hạ.
Trong số những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ chỉ có năm nước gọi là
cục diện “Ngũ bá”, gồm: Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống. Cuối Xuân Thu, có thêm
nước Ngô và nước Việt. Do vậy, dân nghèo khổ lại càng thêm nghèo khổ,
nên như ở các nước Tần “thây người chết đầy đồng”.
1.2. Khổng Tử bàn về Lễ
1.2.1. Phạm trù Lễ
Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức dùng để chỉ tôn
ti trật tự kỷ cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp trong xã hội phải
học, phải làm theo. Lễ cũng là chuẩn mực đạo đức. Nếu Nhân là nội dung
của Lễ thì Lễ là hình thức của Nhân.
Khổng Tử đã kế thừa và phát triển phạm trù Lễ của các bậc Nho sĩ
thời trước và có nội dung rộng rãi phong phú hơn. Lễ trong tư tưởng của
Khổng Tử không chỉ là lễ giáo, nghi thức kỷ cương định ra có danh có khi
dứt khoát. Mà quan trọng hơn, Lễ là đức của con người, nhất là người cai
trị. Lễ còn là đạo đức của bậc quân tử cũng như kẻ thứ dân.
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc, ban đầu Lễ: chữ Lễ
trước tiên chỉ dùng để nói cách thờ thần cho được phúc tức là chỉ có cúng
tế, thuộc về đường tông giáo mà thôi. Sau dùng rộng ra nó bao gồm cả quy
củ, phong tục tập quán của nhân dân đã thừa nhận như: quan, hôn, triều,
sính, tang, tế, tân chủ, hương ẩm tửu, quân lữ. Sau chữ Lễ lại có nghĩa thật
rộng gồm cái quyền bính của nhà vua và các tiết chế hành vi của nhân
chúng. Vậy Lễ với ý nghĩa là một có thể lấy làm quy củ cho sự hành vi và
13
thần mới thông suốt. Người ta nói đến Lễ là nói đến đức, một đức bên trong
Ngũ thường, một đức bên trong bốn đức có sẵn đầu mối tâm của con người.
Đã là người thì phải học Lễ, biết Lễ, có Lễ và tiêu chuẩn của Lễ là sự đúng y
tăm tắp với những giáo huấn, những kỷ cương, những nghi thức do Nho giáo
đề ra cho những Tam cương, Ngũ thường…cho cả những việc thờ cúng thần
linh. Bởi vậy con người phải học Lễ từ tuổi thơ và về sau muốn làm nên như
thế nào thì cứ phải “Tiên học lễ” đã.
Có thể nói, Lễ là trung tâm của chính trị Nho giáo, là hình thức biểu
hiện của một xã hội thái bình thịnh trị, là tiêu chuẩn đánh giá con người và
chế độ xã hội. Có thể hiểu được nội dung, tác dụng và giá trị của Lễ mà
Khổng Tử nói: “Không phải là không Lễ thì không nhìn, không phải Lễ thì
không nghe, không nói và không hành động”. Mọi hành động vượt quá Lễ
đều không đúng và không tốt vì “cung kính quá Lễ thành ra lao nhọc thân
hình cần ngay thẳng quá Lễ thành ra gắt gỏng bất cập” [31, tr29].
Lễ do Thiên tử đặt ra để dạy dân, nhưng nó không phải là bất biến
mà cũng “quyền biến” (tùy thời mà thay đổi) để cốt sao cho nước trị, dân
yên, “xây dựng được những tập quán luân lý cho con người”. Vì “cái gốc
của Lễ là thuận lòng người (được gọi là tán thành) cho nên những đức
kinh lễ cho phép mà thuận lòng người cũng là Lễ” [9, tr373].
1.2.2. Các phạm trù trong mối tương quan với quan với phạm trù Lễ
Nói đến nền luân lí cổ của Á Đông người ta thường nhắc đến Tam
cương, Ngũ thường. Tam cương là ba quan hệ chủ chốt trong xã hội theo
quan điểm phong kiến là: vua tôi, cha con, vợ chồng (quân thần, phu tử,
phu phụ), trong đó người trên (vua, cha, chồng) phải thương yêu, chăm sóc
và bao dung người dưới, người dưới (tôi con, vợ) phải kính nhường,
thương yêu phục tùng và biết ơn người trên.
Cách ứng xử đúng chức năng như vậy làm cho gia đình thuận hòa,
êm ấm. Theo Nho giáo áp dụng cách thức như vậy trong quan hệ xã hội và
quan hệ Nhà nước, giữa người cầm quyền với dân cũng tạo ra một cảnh êm
15
ngạo, thành ra không chu đáo. Khoan là rộng rãi, không riết róng, thu nhận
của người đến kiệt. Tín là nói sao vậy, coi trọng lời hứa. Mẫn là nhanh
nhẹn, linh hoạt, không lề mề, trì độn, ỳ ra. Huệ là rộng rãi, không bủn xỉn,
keo kiệt, cho người không tiếc rẻ, không bớt xén. Làm được năm điều đó
thì dân vui lòng nghe theo, dân tin, dễ sai khiến… Đó là đức mục của
người cầm quyền trong quan hệ với Nhân. Nhân như vậy đòi hỏi xuất phát từ
lòng thương người từ sự tôn trọng con người mà việc có hiệu quả, có công ơn
với dân. Ngày nay, có thể hiểu một cách khái quát Nhân là lòng thương
người.
Trong Luận Ngữ, khái niệm Nhân được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần
tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà Nhân được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất Nhân là nguyên tắc đạo đức. Theo Khổng
Tử, Nhân là nội dung, Lễ là hình thức của Nhân và Chính danh là con
đường để đạt đến điều Nhân.
Để đạt được đức Nhân con người phải có Lễ, Lễ là hình thức biểu
hiện của Nhân, con người sẽ không đạt được Nhân nếu như: xem, nghe,
nói, làm điều trái Lễ. Và vì vậy cũng như Nhạc, Thi, Thư; Lễ là phương
tiện để giáo hóa con người. Nếu không có Nhân mà dùng Lễ thì Lễ chỉ là
hình thức sáo rỗng mà thôi.
Thứ hai: Mối quan hệ giữa Lễ và Nghĩa
Mạnh Tử phát huy tư tưởng của Khổng Tử, giảng về Nhân cũng
giống như Khổng Tử, cũng coi đức đó là quan trọng nhất của con người, là
cái đạo của con người. Khổng Tử rất ít nói đến Nghĩa, trái lại Mạnh Tử rất
trọng Nghĩa.
Nhân là đức trời phú cho, Nghĩa cũng là đức trời phú cho. Nhân gốc
ở tính thiện. Ông cho là ai cũng có lòng thẹn, ghét. Mà lòng đó là đầu mối
của Nghĩa. Nghĩa là điều người ta phải làm không kể lợi hại cho mình. Khi
thấy một đứa trẻ sắp té xuống giếng thì ai cũng có lòng bồn chồn thương
xót chứ không vì chút lợi lộc nào. Nghĩa đã được đưa lên ngang hàng với
17
chính là Lễ và Nghĩa. Lễ: “Tiên học lễ, hậu học văn” chứ không phải là
“tiên học võ” hay “tiên học thuật” và sau đó mới là học Lễ. Câu nói này
không có nghĩa là lễ đi trước, văn đi sau, hay Lễ quan trọng hơn văn nhưng
muốn nói lên tầm quan trọng của Lễ Nghĩa: Lễ Nghĩa chính là nền căn bản
của đạo làm người. Mà khi nói đạo làm người, người Việt muốn nhấn
mạnh đến một con người theo đúng cái đạo ai cũng phải theo đó là: đạo con
người trung thực, một con người thăng tiến, một con người tiếp tục và phát
sinh các giá trị nhân loại.
Một con người trung thực đòi hỏi ta không được phản bội với những
bản tính bẩm sinh của con người, mà bản tính đó vốn là Nhân Nghĩa, hay
tính bản thiện, hay dĩ hòa vi quý. Một con người toàn vẹn là một người biết
sáng tạo, hay cộng tác vào sự sáng tạo, làm cho con người và xã hội hoàn
bị hơn. Sự sáng tạo, sự hoàn hảo được thấy rõ rệt hơn cả là sự hoàn bị của
Lễ. Đây chính là lý do tại sao Khổng Tử yêu thích nhạc, lễ và múa. Người
Việt chúng ta cũng hiểu như vậy, khi tế lễ, lễ cúng, lễ bái, hôn lễ, tang lễ,…
luôn là trung tâm sinh hoạt của con người Việt trong quá khứ và cả hiện
nay. Nói cách khác, Lễ Nghĩa tạo ra nhân cách con người.
Thứ ba: Mối quan hệ giữa Lễ và Trí
Nhân mà đạt tới mức độ cao để có thể giúp đời thì lại phải có Trí. Có
sáng suốt thì mới biết làm lợi cho đức Nhân của mình. Tể Ngã có lần hỏi
Khổng Tử: “Nếu có khả đến cho rằng: có người ngã xuống giếng, thì
người nhân có thể nhảy xuống vớt không?”. Ngài trả lời: “Sao lại như vậy
được…” [2, tr11]. Có người ngã xuống thì phải đứng trên giếng tìm cách
cứu chữa người ta, chứ nhảy xuống thì chết cả hai. Như vậy là ngu chứ
không phải là Nhân. Ưa làm điều Nhân mà không ưa học (Trí) thì cái mối
hại là sự ngu muội che lấp hết.
Nhân mà không Trí thì yêu người mà không phân biệt được (phải
trái, họa phúc). Trí mà không Nhân thì biết mà không làm: Nhân là để yêu
nhân loại, Trí là để trừ cái hại cho nhân loại. Trí là trước khi làm phải định
19
nghĩa tối cổ chữ Lễ thuộc về việc tế tự vẫn quan hệ với đạo. Vì vậy tế tự có
thể gây thành cái trạng thái của nhiều tình cảm rất hậu. Tế là lấy bụng
thành thực tôn kính mà đối với tổ tiên, quỷ thần: Phù tế giả, phi vật tự
ngoại chí giả giã, tự trung xuất, sinh ư tâm giã: tế là không phải cái vật ở
ngoài đến làm tự trong bụng ra, ở tâm mà sinh ra vậy. Trong khi tế tự cha
ông tổ tiên, lúc nào người ta cũng như đến luôn. Trước ba ngày tế lễ trai
giới để bụng chăm chăm vào việc tế lễ. Cách ăn mặc trong lúc tang chế, ở
chỗ triều đình hay trận mạc, phải theo Lễ, cũng là có để ý để nên những
tình cảm cho xứng đạo nhân.
Nho giáo dùng Lễ cốt là để tạo thành ra một thứ không khí Lễ Nghĩa,
khiến người ta có cái đạo đức tập quán để làm điều lành và điều phải mà
vẫn tự nhiên không biết. Khổng Tử dùng Lễ tức là để hình thành cái không
khí đạo đức vậy. Ngày nay người ta dùng ý nghĩa của Lễ trong các nghi
thức tế lễ khác nhau như: trong tín ngưỡng thờ thần, thờ thổ địa, cách ăn
mặc trong tang chế: trang nghiêm, bày tỏ đau thương, con trai, gái, con dâu,
rể, cháu chắt… ăn mặc theo quy định, không lố lăng, phô trương …
Trong dân gian, chúng ta có rất nhiều lễ, từ Thanh Minh (tảo mộ,
tưởng niệm người quá cố) tới Thánh Gióng (anh hùng dân tộc) thì (Lễ) Hội
tới (Lễ). Làng từ Lễ giỗ (Tổ) tới lễ “ăn mừng”, “khao vọng”…Nơi đây, Lễ
không chỉ dành cho thần thánh, người dân thường có Lễ của dân thường,
phường trộm cắp cũng có Lễ của phường trộm cắp.
Nói tóm lại, trong bất cứ tôn giáo nào ở Việt Nam, trong bất cứ lối
sống nào của dân Việt, chúng ta đều thấy là, chữ Lễ mang tính toàn diện
của cuộc sống con người. Và do đó, chúng ta có thể tạm trả lời cho câu hỏi,
nếu Lễ là quy luật, thì nó phải là quy luật sống, chứ không phải chỉ là
những loại luật pháp, như pháp luật hay những loại luật không hẳn hoi liên
quan tới con người.
Trong lối tổ chức xã hội Việt, Lễ cũng giữ vai trò quan trọng không
kém. Từ thôn xóm tới làng xã rồi từ đô thị tới kinh đô, tất cả đều theo một
21
người rối reng thì ông lại dùng nhân học để khuyên người ta yêu thương
nhau. Điều này là không thể được chứng minh là Tần Thủy Hoàng đã dùng
“Pháp trị” thống nhất được đất nước Trung Hoa xưa. Tuy nhiên không thể
phủ nhận vai trò của học thuyết của ông là một trong những đường lối trị
nước vĩ đại của thời đó. Khổng Tử đã dùng Lễ là cơ sở để làm đường lối trị
nước và luật lệ quốc gia.
Khổng Tử cho rằng nếu mọi người trong thiên hạ không giữ đúng
đạo của mình sẽ trở nên loạn. Trên quan điểm đó ông chủ trương dùng Lễ
để điều tiết xã hội, khiến con người trở về với đạo nhân. Lễ là làm cho
quốc gia ổn định, dân chúng có lợi. Công dụng của Lễ là để điều chỉnh
hành vi của dân, cho nên nhà cầm quyền phải dùng Lễ để dạy phép tắc cho
dân. Khổng Tử cho rằng trong xã hội nếu thiếu Lễ sẽ không thể phân biệt
được lớn bé, già trẻ. Không phân biệt được người trên, kẻ dưới. Trong một
xã hội như vậy tất yếu sẽ sinh ra loạn lạc, tranh quyền, đoạt vị. Trên quan
điểm đó Khổng Tử cho rằng Lễ sẽ tồn tại với thời gian, sánh ngang cùng
trời đất. Lễ làm cho cha nhân từ, con hiếu thảo, anh thương yêu em kính
cẩn, chồng hòa hợp vợ nhu thuận.
Lễ có công dụng trong các mối quan hệ, đặc biệt là quan hệ vua tôi.
Ông cho rằng nếu nhà cầm quyền dùng Lễ để cai trị khi hạ lệnh “bề tôi nghe
theo, thuyết phục ở chổ có lễ thì xã tắc được bảo vệ giữ gìn vậy” [4, tr337].
Để bình ổn xã tắc theo ông nhà cầm quyền phải dùng Lễ, nếu nhà cầm quyền
dùng Lễ để trị dân thì tự nhiên dân sẽ tự cảm hóa và thịnh trị. “Lễ sở dĩ gìn
giữ được nước là do thi hành chính lệnh, không làm mất dân của nước” [4,
tr337]. Phê phán quan điểm dùng hình để trị nước của các học phái đương
thời Khổng Tử cho rằng: “nếu nhà cầm quyền chuyên dùng pháp lệnh mà
dẫn dắt dân chúng, chuyên dùng hình phạt mà trị dân thì dân sợ mà chẳng
phạm pháp đó thôi chứ họ chẳng có lòng hổ thẹn, vậy muốn dẫn dắt dân
chúng phải dùng đức, muốn trị dân phải dùng lễ thì chẵng những dân biết
hổ thẹn mà còn cảm hóa để trở nên tốt lành” [9, tr15]. “Nếu nhà cầm quyền
23
Nếu không có Lễ thì làm thế nào cho biết thờ trời đất, quỷ thần cho
phải, lấy gì mà phân biệt nghĩa vua tôi, trên dưới cho hợp đạo lý? Lễ dùng để
phân biệt tôn ti trật tự, tức là phép tắc ở trong gia đình, xã hội, quốc gia vậy.
Khổng Tử cho rằng, công dụng căn bản của Lễ không có gì khác hơn
là chính nền đạo đức. Đạo Nhân, đạo Nghĩa, đạo Nghĩa, đạo Tín là những
đức tính căn bản của Lễ. Một người thiếu Lễ, không thể là người quân tử
“Lễ là làm việc của con người, không có Lễ, không có đứng vững được” [4,
tr336]. Khổng Tử cho rằng nhưng người khi đã hiểu Lễ rồi thì sẽ có một lối
sống toàn diện, tức lối sống đó đòi hỏi mọi người phải theo để có thể bảo
tồn sự sống và xã hội.
Ngoài ra, Khổng Tử còn chủ trương lấy Lễ làm nền tảng cho tất cả
nền đạo đức. Lễ mang tính chất như một cái thước đo lường, cái thước phát
xuất từ nội tâm nhưng có thể đo được con người nhờ vào hình thức ở bên
ngoài. Nói cách khác, nếu Nhân là cái bản chất của đạo đức, thì Nghĩa là
cái thước đo, là cái mức, cái hình mà chỉ theo đó ta mới nhận ra được
Nhân. Khổng Tử cho rằng: “Phi lễ phi thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn,
phi lễ vật động: sắc chi không hạp lễ thì đừng ngó, tiếng chi chẵng hạp lễ
thì mình đừng nghe, lời chi chẳng hạp lễ thì đừng nói, việc chi chẳng hạp
lễ thì đừng làm” [9, tr181]. Lễ chỉ là những hình thức, nghi thức. Nhưng
nếu nghi thức đó áp dụng sai, hay cho những người không xứng đáng thì
một nghi lễ như vậy thì mất hết tinh thần của Lễ. Người hiểu Lễ trở thành
con người đạo đức (quân tử). Vậy nên, Lễ luôn phải đi đôi với Nghĩa, Nhân
phải có Nghĩa, và ngay cả đạo cũng cần phải có Nghĩa, mới có thể thực
hiện được.
Các bậc thánh vương nhận ra tai họa của vô trật tự nên thiết lập Lễ
và dạy dỗ dân chữ nghĩa, với mục đích giúp người dân nhận ra được cả giới
hạn cũng như trách nhiệm khi đi tìm thỏa mãn ước vọng của mình. Như
vậy, công dụng của Lễ tồn tại trong tất cả những giá trị đạo đức của xã hội
lúc bấy giờ “dân chúng do lễ mà sinh sống, vì vậy lễ rất lớn, không có Lễ
25