Lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức hồ chí minh và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trong điều kiện hiện nay - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc đời, sự nghiệp và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
là biểu tượng cao đẹp cho các thế hệ con người Việt Nam noi theo. Mặc dù
Người đã đi xa, nhưng tư tưởng, tình cảm và đặc biệt là tấm gương đạo đức
của Người vẫn còn sống mãi với mỗi người dân yêu nước Việt Nam. Những
việc làm, những lời căn dặn, chỉ bảo của Người mãi là những chỉ dẫn hết sức
cần thiết cho chúng ta trong bước đường phát triển hôm nay và mai sau.
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 – 1991) đánh đấu
một cột mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí
Minh. Tại Đại hội này, Đảng ta khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tử tưởng, kim chỉ nam cho hành động.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người về đạo đức
có vị trí hết sức quan trọng. Người coi đạo đức là gốc, là nền tảng của người
cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được
xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm
vụ cách mạng. Người viết: “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo, người cách
mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không
lãnh đạo được nhân dân” [14, 252-253]. Như vậy trong tư tưởng đạo đức của
Người đạo đức là quan trọng, bồi dưỡng đạo đức là cần thiết và suốt đời.
Những vấn đề đạo đức đã được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn
diện đối với mọi đối tượng, trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người, trên
mọi phạm vi từ hẹp đến rộng, trong cả ba mối quan hệ chủ yếu của mỗi
người: đối với mình, đối với người, đối với việc, như: trung với nước, hiếu
với dân, thương yêu con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, tinh
thần quốc tế trong sáng. Trong nội dung tư tưởng đạo đức của Người, thương
yêu con người là một nội dung rất được Người quan tâm và thể hiện trong
suốt cuộc đời mình.
1
Trong điều kiện hiện nay, trước những biến đổi nhiều mặt của đời

Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định vào
việc nghiên cứu, tìm hiểu, chỉ ra những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh, đạo đức Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khía cạnh “Lòng yêu thương con
người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó đối với việc
giáo dục đạo đức cho sinh viên Sư phạm trong điều kiện hiện nay” thì chưa
có một công trình nào bàn đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ Lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh và rút ra ý nghĩa của lòng yêu thương con người trong tư
tưởng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với việc giáo dục đạo đức
cho sinh viên Sư phạm trong điều kiện hiện nay
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức
Hô CHí Minh để từ đó rút ra ý nghĩa của tư tưởng ấy với việc giáo dục đạo
đức cho sinh viên sư phạm trong điều kiện hiện nay
Nhiệm cụ: Để đạt được mục đích trên, khóa luận có những nhiệm vụ
sau:
- Làm rõ tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Làm rõ nội dung lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh
- Rút ra ý nghĩa của lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Sư phạm trong
điều kiện hiện nay
Nêu lên một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lòng yêu
thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên Sư
phạm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó sử dụng kết
3

1929, quê ở làng Kim Liên (thường gọi là làng Sen) cùng thuộc xã Chung
Cự, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông Nguyễn Sinh
Sắc xuất thân từ gia đình nông dân, mồ côi cha mẹ sớm, từ nhỏ đã chịu khó
làm việc và ham học. Vì vậy, ông được nhà Nho Hoàng Xuân Đường ở làng
Hoàng Trù xin họ Nguyễn Sinh đem về nuôi. Là người ham học và thông
minh, lại được nhà Nho Hoàng Xuân Đường hết lòng chăm sóc, dạy dỗ, ông
thi đỗ Phó bảng và sống bằng nghề dạy học. Đối với các con, ông Sắc giáo
dục ý thức lao động và học tập để hiểu đạo lý làm người. Khi còn trẻ, như
nhiều người có chí đương thời, ông dùi mài kinh sử, quyết chí đi thi. Nhưng
càng học, càng hiểu đời, ông nhận thấy: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô
lệ, hựu nô lệ”, nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại
càng nô lệ hơn”. Do đó, sau khi đỗ Phó bảng, được trao một chức quan nhỏ,
nhưng vốn có tinh thần yêu nước, khẳng khái, ông thường chống đối lại bọn
quan trên và thực dân Pháp. Vì vậy, sau một thời gian làm quan, ông bị
chúng cách chức và thải hồi. Ông vào Nam Bộ làm thầy thuốc, sống cuộc đời
thanh bạch cho đến lúc qua đời. Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan, sinh
5
năm 1868, mất năm 1901, là một phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống
bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết lòng thương yêu và chăm lo cho chồng
con
Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch
Liên, sinh năm 1884, mất năm 1954. Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm,
còn có tên là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888, mất năm 1950. Em của Người
là bé Xin, sinh năm 1900, vì ốm yếu nên sớm qua đời. Các anh chị của
Người lớn lên đều chịu ảnh hưởng của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc và rất
thương người, đều là những người yêu nước, đã tham gia phong trào yêu
nước và bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến bắt bớ tù đày.
Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong
sự chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên trong
truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình

chung số phận đau khổ và tủi nhục. Đó là những người nông dân rách rưới
mà người Pháp gọi là bọn nhà quê, những phu khuân vác, những người cu ly
kéo xe tay, những trẻ em nghèo khổ, lang thang trên đường phố… Những
hình ảnh đó đã in sâu vào ký ức của Nguyễn Sinh Cung.
Được tin vợ qua đời, ông Nguyễn Sinh Sắc vội trở lại Huế, đưa con về
quê. Sau khi thu xếp cuộc sống cho các con, được sự động viên của bà con
trong họ ngoài làng, ông Nguyễn Sinh Sắc lại vào Huế dự kỳ thi hội năm
Tân Sửu. Lần này đi thi ông mang tên mới là Nguyễn Sinh Huy.
Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Huy đậu Phó bảng khoa thi hội Tân
Sửu. Khoảng tháng 9-1901, Nguyễn Sinh Cung cùng gia đình chuyển về
sống ở quê nội. Ông Nguyễn Sinh Huy làm lễ vào làng cho hai con trai với
tên mới là Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm) và Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung).
Tại quê nhà, Nguyễn Tất Thành được gửi đến học chữ Hán với các
thầy giáo Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân.
Các thầy đều là những người yêu nước. Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều
chuyện qua các buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu
nước. Nguyễn Tất Thành dần dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các
bậc cha chú trước cảnh nước mất, nhà tan. Trong những người mà ông Sắc
7
thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà Nho yêu nước
lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và số phận
của dân tộc. Con người nhiệt huyết ấy trong lúc rượu say vẫn thường ngâm
hai câu thơ của Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Nghĩa là:
“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.
Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất Thành và góp phần định
hướng cho người thiếu niên sớm có hoài bão lớn.

cho đi học Trường tiểu học Pháp – Việt tỉnh Thừa Thiên, lớp dự bị (cours
préparatoire, tháng 9-1906); lớp sơ đẳng (cours élémentaire, tháng 9-1907).
Ở Huế, lần này xảy ra một sự kiện đáng ghi nhớ trong cuộc đời của
Nguyễn Tất Thành. Tháng 4-1908, anh tham gia cuộc biểu tình chống thuế
của nông dân tỉnh Thừa Thiên, khởi đầu cho cuộc tranh đấu suốt đời Người
vì quyền lợi của nhân dân lao động. Vì những hoạt động yêu nước, tham gia
cuộc đấu tranh của nông dân, Nguyễn Tất Thành bị thực dân Pháp để ý theo
dõi. Ông Nguyễn Sinh Huy cũng bị chúng khiển trách vì đã để cho con trai
có những hoạt động bài Pháp.
Tuy nhiên, tháng 8-1908, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi Nguyễn Sinh
Côn, vẫn được ông Hiệu trưởng Quốc học Sukê (Chouquet) tiếp nhận vào
học tại trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp
nhì) (cours moyen) tại Trường Quốc học Huế.
Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành
được tiếp xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của Trường Quốc học
Huế có người Pháp và cả người Việt Nam, cũng có những người yêu nước
như thầy Hoàng Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ ảnh hưởng của các
thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi
sang phương Tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành tựu
của văn minh nhân loại từng bước lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Tất
9
Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành còn được nghe kể về những
hành động của những ông vua yêu nước như Thành Thái, Duy Tân và những
bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu nước.
Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế
theo cha vào Bình Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê.
Trong thời gian ở Bình Khê, Nguyễn Tất Thành thường được cha dẫn đi
thăm các sĩ phu trong vùng và thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn.
Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tiếp chương
trình lớp cao đẳng (lớp nhất – cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp –

bôn ba tìm đường cứu nước, những gì Người thấy, Người cảm nhận, Người
thấu hiểu đã góp phần hình thành những tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh mà
đặc biệt trong đó là lòng yêu thương con người.
1.1.2 Nội dung cơ bản về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào
Việt Nam, tạo cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng
một nền văn hóa mới và một nền đạo đức mới Việt Nam. Trên cơ sở chủ
nghĩa Mác - Lê-nin, Người đã cổ vũ, động viên các tiềm năng tinh thần
truyền thống Việt Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân
cách đó được tạo dựng trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp
chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu,
hàng triệu người con anh hùng của đất nước - những chiến sĩ cách mạng kiểu
mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến
đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, cần
kiệm liêm chính, chí công vô tư Những cán bộ, đảng viên ưu tú của Đảng
đã gương mẫu đi tiên phong trong cuộc đấu tranh anh hùng đó và chính họ
đã cùng với nhân dân làm nên hiện tượng "kỳ diệu Việt Nam" trong thế kỷ
20, tiêu biểu cho lương tâm, vinh dự và phẩm giá con người.
Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một thời đại mới,
một nền văn hóa mới, đạo đức mới trong lịch sử dân tộc. Người đã làm rạng
rỡ Tổ quốc, nhân dân Việt Nam, truyền thống quang vinh của Đảng. Người
11
nói: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh" và chính Người là hiện thân của sự
thống nhất đạo đức - văn minh đó.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những để lại cho chúng ta một sự nghiệp
cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử dân tộc, mà Người còn để lại
cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương sáng ngời về phẩm chất đạo
đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân cách
của dân tộc và của loài người.
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức của một

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của tinh thần: Thắng không kiêu,
khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là một chuỗi những năm tháng vô
cùng gian khổ: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình; có giai đoạn hoạt
động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm
vào cảnh "như là sống ở bên lề, ở bên ngoài của Đảng. Vượt qua được thử
thách khổ ải, tù đày đã rất khó, nhưng vượt qua được thử thách do bị hiểu
lầm, nghi kỵ còn day dứt hơn nhiều. Để kiên trì chân lý, giữ vững quan điểm
độc lập, tự chủ, Người đã bình tĩnh, chủ động vượt qua những năm tháng
khó khăn đó. Lê-nin từng nói: không sợ đói, không sợ chết, chỉ sợ không
chiến thắng được phút yếu đuối của bản thân. Trong khó khăn, Người vẫn
luôn luôn "tự khuyên mình": “muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần càng phải
cao!” Dù có lúc phải "hòa lệ thành thơ" thì điều đó cũng chỉ vì nhân dân, vì
Tổ quốc chứ không phải vì cảnh ngộ cá nhân.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một lãnh tụ hết lòng thương yêu,
quý trọng đối với nhân dân, luôn luôn tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của
nhân dân, cho nên mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nhu cầu và
lợi ích của nhân dân, luôn luôn dựa vào dân, "lấy dân làm gốc". Người giáo
dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân
dân, phải chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi "nếu nước
được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng
không có nghĩa lý gì".
Để làm tròn trách nhiệm là người đầy tớ trung thành của nhân dân,
Người dạy: cán bộ phải gần dân, hiểu tâm lý, nguyện vọng của dân, lắng
13
nghe ý kiến của dân, của "những người không quan trọng", không được lên
mặt "quan cách mạng", cậy quyền cậy thế, đè đầu cưỡi cổ dân. Mặc dù uy tín
rất cao, có sức hấp dẫn rất lớn, được toàn dân suy tôn là "Cha già của dân
tộc", nhưng không bao giờ Người xem mình đứng cao hơn nhân dân. Người
coi việc phải gánh chức Chủ tịch cũng như việc "người lính vâng mệnh lệnh
quốc dân ra mặt trận". Nhận được thư, quà chúc mừng của nhân dân, dù bận

Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, mà
luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Người nói: Quần chúng mới là người làm nên lịch sử và lịch sử là lịch sử của
chính họ chứ không phải của một cá nhân anh hùng nào. Bấy nhiêu đức tính
cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh trở nên siêu việt, vô song, "khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự
kết hợp những đức tính đó, Người cũng là tấm gương mà nhiều người khác
có thể noi theo".
Sinh thời, Hồ Chí Minh đã viết nhiều về tấm gương đạo đức của
V.I.Lê-nin. Rèn luyện theo tấm gương đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc
và nhân loại một tấm gương trọn vẹn, mười phân vẹn mười. Ở Hồ Chí Minh,
đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đời công
và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường. Do đó, Người đã
trở thành "tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh dự", thành biểu tượng
của đạo đức và văn minh, không phải chỉ của Đảng, dân tộc, mà còn là biểu
tượng của đạo đức - văn minh nhân loại. Đúng như bạn bè quốc tế đã đánh
giá: "Giữa lúc vàng thau lẫn lộn, đồng chí Hồ Chí Minh trở thành trung tâm
và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái
mới, giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội Sở dĩ bản anh hùng ca
Việt Nam thu hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế
giới, chính là vì nó được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó [35,26]
Đã từ ngàn xưa đạo đức luôn là yếu tố gắn bó trong đời sống của dân
tộc Việt, những tư tưởng đạo đức được nảy sinh và phát triển không ngừng
trong cuộc sống xã hội, đã ảnh hưởng đến suy nghĩ, lối sống và văn hóa ứng
xử của dân tộc ta.
15
Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của đất nước Việt Nam ta thấy những
tư tưởng của đạo đức dân tộc khuyên ta sống có tình, có nghĩa, thủy chung,
yêu thương đùm bọc lẫn nhau… đã trở thành những chuẩn mực đi vào lối
sống và hành vi ứng xử của mỗi con người Việt Nam. Người Việt Nam vốn

hoàn toàn từ một con người cụ thể ở phương Đông, ở Việt Nam nơi có
truyền thống mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc lên nền văn
hóa nhân bản với tư tưởng yêu nước, thương người, niềm khát khao vươn tới
một cuộc sống tốt đẹp. Con người Việt Nam hiền hòa, đôn hậu vốn đúng như
bản chất của cư dân làm nông nghiệp, trồng lúa nước. Hơn nữa Người được
sinh ra và lớn lên trên quê hương Nam Đàn – Nghệ An mảnh đất anh hùng
mà sâu nặng tình nghĩa, được thừa hưởng truyền thống của một gia đình nho
học. Với phẩm chất đạo đức cao qúy của người cha đầy khí phách, giàu nghị
lực, ý chí mẫu mực và hết lòng yêu thương vợ con. Bên cạnh đó với đạo đức
người mẹ giàu lòng nhân ái, đôn hậu, tần tảo và dịu hiền. Cuộc sống của Chủ
tịch Hồ Chí Minh lúc còn thơ ấu với tình yêu thương đùm bọc của gia đình,
của làng xóm quê hương đã ăn sâu vào tâm hồn Người. Vì vậy, thật dễ dàng
nhận thấy tưởng đạo đức của Người chẳng phải bắt nguồn từ những điều cao
sang, mà nó được bắt nguồn từ những điều giản dị thân thương và rất đỗi gần
gũi trong cuộc sống.
Không những chỉ kế thừa những truyền thống đạo dức của dân tộc mà
Hồ Chí Minh còn tiếp thu tinh hoa đạo đức của nhân loại như: Nho giáo,
Phật giáo, Lão giáo, đạo đức phương Tây. Nguời đã từng sử dụng rất nhiều
phạm trù, khái niệm của tư tưởng đạo đức như: trung, hiếu, nhân, nghĩa, cần,
kiệm, liêm, chính,… đã có trong nho giáo từ mấy trăm năm trước công
nguyên hay khái niệm dân chủ, tự do, công bằng, bác ái đã xuất hiện từ thời
cổ đại Hy Lạp – La Mã. Song khi tiếp thu sử dụng, Hồ Chí Minh đã đưa vào
đó những nội dung mới, tiếp thu có chọn lọc bổ sung vào tư tưởng đạo đức
của Người. Chính vì vậy, những giá trị đạo đức mới đã hòa nhập với những
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc khiến cho mỗi người Việt Nam đều
cảm thấy gần gũi với Người bởi Người đã kết hợp giữa truyền thống và hiện
17
đại để nâng giá trị đạo đức truyền thống lên một tầm cao mới. Trong tất cả
mọi vấn đề Người đều khai thác yếu tố tích cực, tìm kiếm những “hạt nhân
hợp lý” để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc và xây dựng xã hội

với người cách mạng. Người đã dùng lối nói bình dị mà ví rằng đạo đức như
gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối “Sông thì có nguồn mới có
nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo]. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.[14,252-253]
Luôn luôn coi trọng phẩm chất đạo đức của người cách mạng chính vì
thế Hồ Chí Minh mong muốn: Đảng ta cần phải chăm lo giáo dục đạo đức
cách mạng cho các thành viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người
kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đạo đức chính
là gốc, là nguồn, là nền tảng của mỗi người cách mạng bởi muốn làm cách
mạng trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đạo đức cao đẹp…
đạo đức chính là yếu tố đánh giá một người cách mạng thực thụ song cũng
không thể coi nhẹ tài năng bởi tài và đức, “hồng” và “chuyên”, phẩm chất và
năng lực phải đi đôi không thể thiếu mặt nào. Theo Hồ Chí Minh nếu có đức
mà không có tài thì chẳng khác gì ông bụt gỗ ngồi trên tòa sen tuy không làm
hại ai nhưng cũng chẳng có ích. Còn nếu có tài mà không có đức cũng chỉ
hại dân hại nước.
Đối với di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bất cứ con người Việt
Nam nào cũng có thể tìm thấy những vấn đề đạo đức gần gũi, những phẩm
chất cần tu dưỡng để vươn tới cái Chân – Thiện – Mĩ trong cuộc sống. Đó
chính là những vấn đề đạo đức được Người rút ra từ cuộc đời thực của con
người trong xã hội Việt Nam khái quát thành tư tưởng lý luận đạo đức. Vậy
những phẩm chất đạo đức đó là gì?
Đó chính là trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và một tinh thần quốc tế trong sáng. Đây
cũng chính là những giá trị, những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người
Việt Nam trong thời đại mới cần rèn luyện.
19
Ngay từ thời trai trẻ, Hồ Chí Minh đã chọn cho mình con đường đấu
tranh suốt đời cho cách mạng, tất cả vì giải phóng dân tộc, giải phóng giai

lượng đùm bọc. Ta phải nhận rằng ta là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít
nhiều lòng ái quốc”
Ngay từ khi mới dành được chính quyền chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu
gọi mọi người xây dựng đời sống mới. Đó là cần - kiệm - liêm - chính, chí
công vô tư, nếp sống giản dị trong sáng, trung thực, khiêm tốn. Phải nâng
cao đạo đức cách mạng thường xuyên như ngọc càng mài càng sáng, vàng
càng luyện càng trong.
Người nhấn mạnh “Tham ô, lãng phí tài sản của nhà nước, của tập
thể, của người dân là hành động trộm cắp mà ai cũng phải thù ghét, phải trừ
bỏ”. Người coi trọng công tác xây dựng Đảng là rất quan trọng. Bởi vì:
“Đảng ta là một đảng cầm quyền. Phải giữ gìn Đảng thật trong sạch, phải
xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân”
Hồ Chí Minh đề ra tư cách của người cách mạng cho cán bộ, đảng
viên và tự mình nghiêm túc gương mẫu thực hiện. Ở Người nói là làm, lý
luận và thực hành luôn đi đôi với nhau. Những đức tính cao cả của chủ tịch
Hồ Chí Minh lại rất gần gũi bình dị cụ thể không xa hoa. Tư tưởng đạo đức
của Người như một vĩ nhân- cũng như của một người bình thường là vấn đề
lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì?
“Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đó là lý tưởng, là lẽ sống và
cũng là học thuyết chính trị đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh của dân tộc
Việt Nam. Ham muốn tột bậc của Người là làm sao cho đất nước hoàn toàn
độc lập nhân dân hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành.
Đạo đức Hồ Chí Minh, là đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong
sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Cần kiệm, giản dị, ít
lòng ham muốn về vật chất, đó là tư cách của người cách mạng. Người đề ra
và tự mình gương mẫu thực hiện.
21
1.2. Lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh.

được tình thương từ họ, hoặc có thể không, nhưng điều đó không quan
trọng, vì chỉ cần yêu thương tồn tại trong ta thì ta đã có được hạnh phúc.
Bởi yêu thương chính là hạnh phúc của con người! Tư tưởng về lòng yêu
thương con người đó được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa
Mác - Lênin, được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng
dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Điều cốt lõi của tư
tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với giải quyết xã hội và
giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề lớn, được đặt
lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nội dung tư
tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức mạnh
đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân
(ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí
Minh vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng
giành độc lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Tư tưởng đó cũng
chính là nội dung cơ bản của toàn bộ tư tưởng về con người của Hồ Chí
Minh.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân,
vừa là thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và
cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về
con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Quan điểm
đó thể hiện ở chỗ Người chưa bao giờ nhìn nhận con người một cách
chung chung, trừu tượng. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như ở mọi
nơi, mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi
ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con
người chính là tạo ra động lực vô cùng lớn lao cho sự nghiệp chung, vì
nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không được quan tâm
23

con người v.v ) về thực chất chỉ là sự cụ thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng
về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là mục
tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực
của chính sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể
trong lý luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong lý luận về xây dựng chế độ mới, Hồ Chủ tịch đã khẳng định
xây dựng chế độ dân chủ nhân dân gắn liền với việc thực hiện bước tiến
lên chủ nghĩa xã hội. Trong kháng chiến giải phóng dân tộc cần xây dựng
chế độ dân chủ nhân dân để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, đồng thời
tạo ra những tiền đề cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong xây dựng
chủ nghĩa xã hội cần phải thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như
Người nói: "Đây là cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ
kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi". Cuộc chiến đấu ấy sẽ
không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực lượng của toàn dân". Về
chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã hội
đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người
cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách
quan. Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội với những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo
Người: "Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm
cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn
việc làm, được ấm no và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là
nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ
nghĩa xã hội tức là làm cho nhân dân ta có một đời sống thật sung sướng,
tốt đẹp. Người dạy xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với
điều kiện khách quan, phải nắm được quy luật và phải biết vận dụng quy
luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững tính đặc thù, tránh giáo điều,
rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương đồng, nhất quán với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status