Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ DIỆP

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Khắc Chương Hà Nội - 2012

3

MỤC LỤC

Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU
4
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
11
1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
11
1.1.1. Tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc
11
1.1.2. Tinh hoa văn hoá nhân loại
14
1.1.3.Cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
21
1.1.4. Nhân cách và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
23
1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
25

2.2.2. Bảo đảm và thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ
của nhân dân
77
2.2.3. Đẩy mạnh việc giáo dục các giá trị tinh thần truyền thống
cho thế hệ trẻ
87
2.2.4. Thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước
92
2.2.5. Đẩy mạnh công tác giáo dục, đề cao cảnh giác với những
âm mưu lợi dụng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc trong quá trình
đẩy mạnh công cuộc đổi mới
96
KẾT LUẬN
99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
102 5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa
HĐH : Hiện đại hóa
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
Nxb : Nhà xuất bản
BCHTƯ : Ban chấp hành Trung ương

đào tạo cho dân tộc Việt Nam những con người ưu tú, và những lớp người đó đã
đưa dân tộc vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi
to lớn đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.
Trong công cuộc đổi mới đất nước đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt chú
trọng đến vấn đề phát huy nội lực. Nếu không xuất phát từ nội lực thì không thể
phát triển bền vững. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nội lực có vai trò
quyết định đối với sự phát triển. Có phát huy được nội lực thì mới thu hút và sử
dụng có hiệu quả ngoại lực” [20, tr.179]. Một trong những yếu tố tạo thành sức
mạnh nội lực của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước là
sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Nhờ có sức mạnh của khối đại đoàn kết
mà nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, phát huy
được nội lực của toàn dân tộc. Sức mạnh đó đã được chứng minh qua các sự kiện
trong lịch sử: đánh đuổi chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, cả nước hòa

7
bình, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đổi mới đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế - chính trị - xã hội hiện nay, nhiều thế
lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động chống phá về mọi mặt, nhằm phá hoại
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các thế lực thù địch đã có
nhiều âm mưu và thủ đoạn để phá hoại, làm lung lay khối đại đoàn kết dân tộc.
Vì vậy, khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức
của giai đoạn mới. Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
đã khẳng định: “Khối đại đoàn kết dân tộc, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và
nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới” [19,
tr.10]. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ
thông tin, tạo nhiều cơ hội cho người Việt Nam dễ dàng có thể giao lưu, tiếp thu
những tư tưởng tiến bộ trên thế giới. Mặt khác, các thế lực thù địch cũng lợi
dụng công cụ đó gieo rắc những luận điểm để phá hoại về văn hoá, tư tưởng làm
mất lòng tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân. Bên cạnh

công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Chương trình khoa học cấp Nhà nước
+ Chương trình khoa học cấp Nhà nước KHXH 04.01 năm 2005: "Tư
tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa, xây dựng con người" do Giáo sư
Đặng Xuân Kỳ chủ nhiệm, đã khái quát hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về văn
hóa (vị trí, chức năng của văn hóa) và nghiên cứu một cách hệ thống các quan
điểm của Hồ Chí Minh về con người, xây dựng con người.
+ Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX 02-05: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người” do PGS. PTS Lê Sĩ
Thắng, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia làm chủ nhiệm đề tài.
Đề tài trên đã đi sâu nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về con người và chính sách xã hội đối với con người.

9
Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ
- Lê Quang Hoan (2001): Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người với việc
phát huy nhân tố con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
hiện nay - Luận án tiến sỹ triết học.
Luận án trình bày một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
để từ đó vận dụng vào việc phát huy nhân tố con người trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nguyễn Thị Thủy (2009): Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vận
dụng vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay -
Luận văn thạc sỹ triết học.
Luận văn trình bày những quan niệm cơ bản của Hồ Chí Minh về con
người và việc vận dụng nó vào việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay.
- Lê Thị Hải Hà (2010): Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về phương
pháp xây dựng con người để xây dựng con người ở nước ta hiện nay - Luận văn
thạc sỹ Khoa học Chính trị Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí

người sinh vật, đó là con người lịch sử - cụ thể, con người có nhiều phạm vi khác
nhau: gia đình, họ hàng, bầu bạn, đồng bào cả nước, loài người, con người
không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực của cách mạng…
Về vai trò của con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng có rất nhiều
công trình nghiên cứu. Trong số các công trình nghiên cứu bàn đến nội dung
này, có thể nêu một số công trình tiêu biểu, như Tư tưởng Hồ Chí Minh về lấy
dân làm gốc của Phạm Bá Lượng, tạp chí Triết học số 2 năm 2005; Tư tưởng Hồ
Chí Minh về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân của PGS, TS Lê Đại
Doãn, Tạp chí Lý luận Chính trị số 1 năm 2002; Một số vấn đề tư tưởng nhân
văn Hồ Chí Minh của Mạch Quang Thắng, Tạp chí Lịch sử Đảng số 1 năm
2004; Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển xã hội của Lê Thị Hương, Tạp chí Triết học số 9 (184) tháng 9 năm

11
2009…. Trong những công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã tập trung nghiên
cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước; coi quần chúng
nhân dân là lực lượng chính của cuộc cách mạng, là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn:
Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và rút ra một số ý nghĩa đối
với việc xây dựng khối đại đoàn kết ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn:
Một là, hệ thống hoá, làm rõ khái niệm con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, phân tích nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về con người.
Ba là, rút ra một số ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người đối
với việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những
quan niệm của Hồ Chí Minh về con người chủ yếu qua các văn bản của Người


13
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI
1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về con người
Tư tuởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ chí Minh về con người nói
riêng được hình thành bởi hai nhân tố khách quan và chủ quan với bốn nội dung:
Tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc; Tinh hoa văn hoá nhân loại; Cơ sở lý
luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Yếu tố chủ quan - phẩm
chất cá nhân Hồ Chí Minh.
1.1.1. Tinh hoa văn hoá truyền thống của dân tộc
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có bề dày lịch sử hàng nghìn năm, là
lịch sử vẻ vang đấu tranh bảo vệ chủ quyền. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước, từ thời đại Hồng Bàng đến thời đại Hồ Chí Minh, nếu tính từ
nước Âu Lạc cho đến nay thì có hơn 13 thế kỷ, với 37 cuộc chiến tranh chống
xâm lược quy mô lớn và hàng trăm cuộc khởi nghĩa trong nội bộ đất nước.
Trong quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm ấy, một nền văn hoá
dân tộc đã được hình thành và bồi đắp qua bao nhiêu thế hệ. Một nền văn hoá
với những nét đặc trưng nổi bật là: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân
tộc, tinh thần nhân ái, ý chí tự cường, lòng tự hào dân tộc… Theo Giáo sư Trần
Văn Giàu: “tình cảm và tư tưởng yêu nước là tư tưởng và tình cảm lớn của nhân
dân Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt

tự ý thức, tự điều chỉnh của cả một cộng đồng người trước yêu cầu của sự phát
triển xã hội.
Thứ hai, kế thừa phát huy và nâng cao những truyền thống tốt đẹp của con
người Việt Nam đồng thời cải tạo, xóa bỏ những truyền thống lạc hậu tiêu cực
của quá khứ để lại.
Kế thừa và phát huy tất cả những giá trị truyền thống của con người Việt
Nam vào sự nghiệp cách mạng mà tiêu điểm của những giá trị ấy là chủ nghĩa
yêu nước, tinh thần đoàn kết, đạo lý làm người.

15
Hồ Chí Minh đề cao truyền thống yêu nước, yêu độc lập tự do lên thang
giá trị cao nhất của con người. Đó là truyền thống quý báu, bắt nguồn và hình
thành qua các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước. Có thể nói chủ nghĩa yêu nước
là cội nguồn đời sống tinh thần của người Việt Nam. Truyền thống đó thể hiện ý
thức về chủ quyền đất nước, khẳng định bản sắc giống nòi, kinh tế, ngôn ngữ,
phong tục, tập quán…, đặt lợi ích dân tộc lên cao nhất, coi dân tộc, nhân dân,
quốc gia làm trọng. Truyền thống đó được Hồ Chí Minh nâng lên tầm cao mới:
yêu nước là “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”,
“không có gì quý hơn độc lập tự do”, yêu nước là yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa
xã hội, là tinh thần quốc tế cao cả.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng là một đặc trưng cơ bản của con
người Việt Nam. Hồ Chí Minh viết: “Sử ta dạy ta bài học này: lúc nào dân ta
đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta
không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [49, tr.217]. Hồ Chí Minh nói, đoàn
kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Đầu những năm 20
của thế kỷ XX, trong quá trình đi tìm con đường cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã chỉ ra một trong những nguyên nhân mất nước và dân tộc chưa được
giải phóng chính là sự yếu kém về tổ chức, không có sự đoàn kết rộng rãi. Muốn
giải phóng dân tộc thì cuộc cách mạng đó phải có tính chất quần chúng, phải
được chuẩn bị trong quần chúng, phải thành lập mặt trận nhằm tập hợp lực lượng

phương Đông, Tây, Nam, Bắc bằng cả đường biển cũng như đường bộ. Người
Việt đã tiếp thu những giá trị tốt đẹp của các nền văn hoá Đông, Tây để phục vụ
cho mục đích và nhu cầu phát triển của mình.
Các nền văn hóa du nhập vào Việt Nam gần như cùng một lúc như Phật
giáo, Nho giáo, Đạo giáo. Đến thế kỷ XVII, Thiên chúa giáo vào Việt Nam
thông qua con đường truyền giáo của các linh mục phương Tây. Việc tiếp xúc
với văn hoá Phương Tây của người Việt Nam diễn ra thực sự khi thực dân Pháp
xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta. Vì vậy, Nho giáo, Phật giáo, Đạo

17
giáo và văn hoá phương Tây đều được người Việt Nam tiếp thu một cách có
chọn lọc và ít nhiều được Việt hoá. Nền văn hoá Việt Nam luôn tồn tại và phát
triển trong thế độc lập đan xen giữa ba yếu tố truyền thống - giao lưu - đổi mới.
Nó gắn chặt chẽ với truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước”, trong đó chủ
nghĩa yêu nước với tư cách là nhân tố cơ bản để đánh giá, chọn lọc, kế thừa và
phát huy những giá trị văn hoá nước ngoài.
Hồ Chí Minh sinh ra trong gia đình có học thức, có tinh thần hiếu học và
đậm nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Thuở thiếu thời được hưởng sự giáo
dục của các nhà nho yêu nước, nhờ đó Người am hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc.
Khi lớn lên theo cha vào kinh thành Huế, được học Hán văn, Pháp văn tiếp thu
được những mặt tiến bộ của nền văn minh Pháp. Đồng thời, Hồ Chí Minh có
hơn 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài, biết nhiều ngôn ngữ, vì vậy Người
dễ dàng tiếp thu được những giá trị tốt đẹp của nhân loại nói chung và của các
dân tộc khác nói riêng. Do đó, có thể nói rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã
hội tụ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại.
Về văn hoá phương Đông
Đối với những giá trị văn hoá phương Đông Hồ Chí Minh tiếp thu chủ
yếu ở Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo - “tam giáo đồng nguyên” - đã thịnh hành ở
Việt Nam trong chế độ Phong kiến. Hồ Chí Minh tiếp thu văn hoá đó ngay tại
đất nước Việt Nam và cả khi hoạt động ở nước ngoài. Bên cạnh đó Hồ Chí Minh

toàn diện con người[44, tr.61 - 62].
Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao lý tưởng xây dựng một xã hội đại đồng
như trong tư tưởng của Khổng - Mạnh. Người nói: “Khổng Tử vĩ đại (551 trước
C.N) khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về tài sản. Ông từng
nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu, chỉ sợ
không đều. Bình đẳng sẽ xoá bỏ nghèo nàn’’ [47, tr.16]. Thuyết đại đồng của
Khổng Tử có điểm tương đồng với lý tưởng xây dựng xã hội cộng sản, cùng

19
hướng tới một chế độ xã hội không còn áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, con
người sống với nhau đầy tình yêu thương.
Hồ Chí Minh còn tiếp thu tinh thần tiến bộ nhân văn trong học thuyết của
Nho giáo về đạo đức, đặc biệt là về những vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân.
Người nói: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh
thần bằng cách đọc tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc tác
phẩm của Lênin”. Hồ Chí Minh sử dụng những thuật ngữ của Nho giáo nhưng
bổ sung sửa đổi, đem lại cho nó ý nghĩa mới. Những phạm trù đạo đức của Nho
giáo như: cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; trung,
hiếu… được Hồ Chí Minh khai thác mặt tích cực, làm thay đổi về bản chất, nội
dung cho nó phù hợp với nội dung đạo đức mới, đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh trân trọng những mặt tích cực đồng thời phê phán những
hạn chế của con người Nho giáo. Mặt tích cực về con người của Nho giáo: đó là
những con người sống có lý tưởng, có sự rèn luyện công phu, sống trong sạch,
liêm khiết, kiên cường, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn, con người có nghĩa vụ cao
không chỉ đối với bản thân mình mà có nghĩa vụ với người khác, gương mẫu,
say mê học tập trọng tài và trọng nghĩa… Mặt hạn chế trong con người của Nho
giáo: là con người có nghĩa vụ nên họ không thể bộc lộ hết cá tính, phát triển
được tài năng của mình, hy sinh cái tôi, tự do cá nhân và những lạc thú của con
người, rơi vào trạng thái bảo thủ, trì trệ, dễ bằng lòng với thực tại, thiếu những
hành động cải biến cách mạng. Nho giáo chia con người thành nhiều loại: thánh

Về ảnh hưởng của Đạo giáo
Sự kế thừa tư tưởng của Đạo giáo được thể hiện trong triết lý sống, phong
cách sống bình dị, thanh tao, ung dung, tự tại của Hồ Chí Minh. Cuộc sống đời
thường của Bác thật giản dị, khiêm tốn phảng phất sự vô vi, tiêu dao của Đạo
giáo nhưng lại chứa đựng tinh thần lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống, hết khổ lại
vui, hết mưa lại nắng ắt lẽ trời…

21
Tư tưởng cơ bản của Đạo giáo là vô vi, khuyên con người sống theo lẽ tự
nhiên, mặc cho sự đời đen trắng, thay đổi thiện - ác, quý - tiện không phân
biệt… nên có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên vô vi cũng có những giá trị
thiết thực trong việc nâng cao nhận thức của con người về sự hoà hợp của con
người với tự nhiên, giáo dục con người tinh thần lạc quan, yêu đời, yêu cuộc
sống. Trước sự biến đổi của hoàn cảnh con người hãy sống, hoạt động theo lẽ tự
nhiên, thuần phác, không giả tạo, gò ép trái với bản tính tự nhiên của mình. Với
triết lý sống đó, Hồ Chí Minh có đầy đủ ý chí và nghị lực cần thiết để vượt qua
những khó khăn, nguy hiểm hay những cám dỗ vật chất thông thường trong mọi
hoàn cảnh. Trong chốn lao tù đầy gian nan, nguy hiểm nhưng vẫn không làm
người lung lạc ý chí. Người luôn lạc quan và tin tưởng vào con đường mà mình
đã lựa chọn. Những lúc ung dung thư thái, hoà mình với thiên nhiên, không
màng danh lợi, vinh hoa, phú quý… Người chỉ cần: “một cái nhà nhỏ, nơi có
non xanh, nước biếc để câu cá, trồng rau sớm chiều làm bạn với các cụ già hái
củi, em trẻ chăn trâu không dính líu gì với vòng danh lợi” [50, tr.161].
Tất cả những điều đó làm cho Người có cuộc sống thanh tao, thanh đạm,
tự tại hoà đồng với tự nhiên, có chừng mực mà không thoái quá, không hưởng
trước thiên hạ, không đứng trên mà luôn đứng sau thiên hạ. Nếu có sự ham muốn
thì “ham muốn tột bậc là làm sao để đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Về ảnh hưởng của văn hóa phương Tây
Hơn 30 năm sống và hoạt động ở nước ngoài Hồ Chí Minh có điều kiện

tư tưởng của những nhà khai sáng Pháp. Hồ Chí Minh đã nghiên cứu: “nội dung
cốt lõi trong tư tưởng nhân văn phương Tây, chắt lọc những giá trị đích thực của
nó. Sau này, khi tuyên bố khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã
đưa vào phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của nước ta năm 1945 cái nội
dung tinh tuý trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ, trong Tuyên ngôn

23
nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp 1789 để khẳng định quyền sống,
quyền tự do, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc cho tất cả mọi người,
cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc khác trên thế giới” [80, tr.534]. Đó là lý
tưởng và khát vọng cao cả của Hồ Chí Minh.
1.1.3. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin như là một “cuộc hẹn hò lịch
sử”, “sự bắt gặp”, “sự tìm thấy” những chân lý của thời đại. Trước khi đọc “Sơ
thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin,
Hồ Chí Minh vẫn còn là nhà yêu nước với lập trường dân chủ tư sản và chịu ảnh
hưởng Phan Chu Trinh. Sự phát triển nhanh chóng về nhận thức do tích cực
tham gia hoạt động xã hội đã giúp Hồ Chí Minh thấy được các giá trị nhân văn
phương Tây chưa đem lại con đường thực sự cho giải phóng con người.
Luận cương của Lênin đã đem lại sự giác ngộ, xúc động, một khoảnh
khắc “vui mừng đến phát khóc lên” mà Hồ Chí Minh diễn đạt là sự tìm thấy ánh
sáng. Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế thứ ba. Đây là kết
quả của 10 năm đi khắp nơi, tiếp xúc với nhiều người, khảo sát các cuộc cách
mạng tư sản điển hình, những kinh nghiệm đấu tranh của nhiều dân tộc, suy
ngẫm nhiều học thuyết nhưng chưa tìm ra con đường cách mạng cho Việt Nam.
Luận cương của Lênin chỉ rõ: chỉ trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cách mạng
giải phóng dân tộc phải đi theo cách mạng vô sản, những người cộng sản phải
ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản
các nước tiên tiến, giai cấp vô sản ở các nước chậm tiến sau khi hoàn thành xong
cách mạng dân tộc dân chủ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, luận

đúng đắn nhằm phát huy sức mạnh của con người trong quá trình cách mạng.
Tiếp thu những tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại trong đó cốt lõi
là chủ nghĩa Mác - Lênin cho phép Hồ Chí Minh tiếp cận con người với nội
dung toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Học thuyết đó chỉ ra tính
hạn chế trong ý thức hệ phong kiến và tư sản về con người và nâng các giá trị đó

25
đáp ứng yêu cầu của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ
nghĩa: từ con người bị áp bức, bóc lột, cùng khổ, thành con người có địa vị làm
chủ xã hội, làm chủ bản thân; từ tinh thần yêu nước phát triển thành chủ nghĩa
yêu nước, chủ nghĩa quốc tế vô sản; từ tinh thần cộng đồng, đoàn kết, tương
thân, tương ái thành khối đại đoàn kết dân tộc; từ những giá trị đạo đức cũ thành
những giá trị đạo đức mới, đạo đức cách mạng, hình thành con người mới xã hội
chủ nghĩa. Con người mới xã hội chủ nghĩa là tổng hoà các giá trị tốt đẹp giữa
truyền thống và hiện đại. Đó là con người phát triển toàn diện, vừa “hồng” vừa
“chuyên”.
Khi bàn về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội, thì Hồ Chí Minh thể hiện là một nhà cách mạng. Người đã nhìn
thấy một lực lượng có thể làm thay đổi xã hội đó là giai cấp công nhân giữ vai
trò lãnh đạo liên minh với giai cấp nông dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản. Những lực lượng đó đều có kẻ thù chung là đế quốc, phong kiến. Tiếp
thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về: “cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng”, sự nghiệp giải phóng con người là sự nghiệp tự giải phóng của giai cấp
lao động, thì Hồ Chí Minh coi cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, của cộng
đồng dân tộc. Và, cuộc đấu tranh để giải phóng con người chỉ có thể thực hiện
được bằng sự nỗ lực của nhân dân, kể cả xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa
là do tính tích cực tự giác và sáng tạo của nhân dân.
1.1.4. Nhân cách và phẩm chất cá nhân Hồ Chí Minh
Tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người, là mặt hoạt động tinh
thần, ý thức của con người, do con người sáng tạo ra trên cơ sở những nhân tố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status