ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ BÍCH TOÀN
QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ "HIẾU", "ĐỄ"
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HOÀNG THỊ BÍCH TOÀN
QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ "HIẾU", "ĐỄ"
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC
GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành
: Triết học
Mã số
nền kinh tế đất nước, Đảng và Nhà nước ta đang cố gắng hạn chế, ngăn ngừa
những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường cũng như những
tiêu cực phát sinh trong quá trình hội nhập quốc tế, nhất là về phương diện
văn hoá, đạo đức nhằm xây dựng một xã hội phát triển hài hoà về mặt vật chất
và tinh thần.
Trong bối cảnh mới nhận diện gia đình Việt Nam, có thể thấy đó vốn là
nơi duy trì bền vững các giá trị đạo đức truyền thống nhưng đang đứng trước
thách thức, sự tấn công của những tư tưởng mới, lối sống mới. Những tiêu
3
cực của mặt trái trong cơ chế trị trường đang hàng ngày hàng giờ làm suy
thoái đạo đức của một bộ phận người trong xã hội. Tệ sùng bái nước ngoài,
coi thường những giá trị vă hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, tư
tưởng chuyên quyền, thái độ quan liêu, cửa quyền, gia trưởng, tư tưởng trọng
nam khinh nữ, đánh đạp phụ nữ chưa được ngăn ngừa hiệu quả. Những hiện
tượng trường hợp vì đồng tiền và danh dự đã đánh mất tình nghĩa gia đình,
quan hệ bè bạn, thầy trò... Đáng buồn thay hiện nay tình trạng giáo dục trong
một số gia đình bị buông lỏng, thái độ và hành vi đối xử của con cái đối với
cha mẹ đang diễn ra thô bạo nhiều hơn.
Để góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị đạo đức của gia
đình Việt Nam, tôi lựa chọn đề tài: “Quan niệm của Nho giáo về “Hiếu”,
“Đễ” và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức gia đình Việt Nam
hiện nay” làm đề tài luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thập niên cuối thế kỷ XX, vấn đề gia đình trở thành vấn đề thời
sự nóng bỏng ở các nước khu vực châu á, khu vực vốn có truyền thống đề cao
gia đình trong sự hình thành nhân cách con người, sự tồn tại và phát triển xã
hội. Chưa bao giờ vấn đề này thu hút sự nghiên cứu của giới chuyên môn
người và ổn định trật tự xã hội.
Trong cuốn “Bàn về đạo Nho” của tác giả Nguyễn Khắc Viện, tác giả
đã ca ngợi mặt tích cực cũng như hạn chế của Nho giáo. Khi đánh giá về mặt
tích cực, ông viết: “Đạo nho đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình
thành lòng yêu nước. Nguyễn Đình Chiểu, Mai Xuân Thưởng, Phan Đình
Phùng là những nhà nho, không thể xuyên tạc sự thật bảo bảo những chí sĩ ấy
không liên quan gì đến Nho giáo cả” [121, tr.45]. Ông đánh giá cao tính “vừa
phải” (không thái quá) trong đạo làm người của Nho giáo và vấn đề “ xử thế”
(xử thế trong mọi tình huống, đối với người này, người khác, với bề trên, kẻ
dưới... ) của Nho giáo.
- Nhóm thứ hai đối lập với xu hướng ca ngợi mặt tích cực của Nho giáo
đã có những quan điểm trái ngược, đó là một số công trình như: “Nho giáo
5
xưa và nay” của Quang Đạm, “Nho giáo tại Việt Nam” của Lê Sĩ Thắng... đề
đề cập đến nội dung của đạo đức Nho giáo đối với các mối quan hệ cơ bản là
Ngũ luân, Tam cương, Ngũ thường... Quan điểm của các tác giả tuy có khác
nhau nhưng nhìn chung là: Phê phán đạo đức Nho giáo phong kiến tàn nhẫn,
khắt khe, nhất là yêu cầu đạo đức đối với phụ nữ, nó trói buộc con người
trong vòng trật tự của xã hội cũ. Một số tác giả còn phân biệt quan niệm cuả
Khổng Tử và Mạnh Tử về vấn đề này có khác với quan niệm của Nho giáo
sau này. Một số người cũng đã đánh giá được nội dung và giá trị của những
quan niệm trên nhưng mới chỉ dừng lại ở việc đặt ra vấn đề kế thừa những
mặt tích cực của đạo đức Nho giáo.
Trong cuốn “Khổng giáo phê bình tiểu luận”, tác giả Đào Duy Anh đã
phân tích nội dung cơ bản của Nho Giáo. Trên cơ sở đó tác giả rút ra những
nhận định đứng mức về vai trò của Nho giáo “dẫu nó không thích hợp nữa bởi
đời này, mà công dụng nó, sự nghiệp nó, vẫn trọn vẹn trong lịch sử, không ai
của Trần Đình Thảo; “ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam truyền thống” của Trần Thị Hồng Thuý; “Một số nội dung cơ bản
của tư tương Nho giáo Việt Nam thời Trần” của Vũ Văn Vinh; “Quan niệm
của nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục
con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của
Nguyễn Thị Nga.
Trong đó đáng chú ý là “Đạo đức cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí
Minh qua các phạm trù mà người đã sử dụng” luận án tiến sỹ của Hoàng
Trung. Tác giả đã kế thừa có chọn lọc các phạm trù đạo đức cơ bản của Nho
giáo trong việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cho con người Việt Nam. Tác
giả đã phân tích rõ Hồ Chí Minh đã viện dẫn những tư tưởng tích cực của Nho
giáo để nêu gương cho cán bộ cách mạng trong thời đại mới.
Trong những công trình nghiên cứu thuộc bốn nhóm trên, nhiều vấn đề
quan trọng của Nho giáo đã được đem ra bàn luận, như: Vì sao Nho giáo lại
có sức sống dai dẳng hàng nghìn năm ở nhiều nước phương Đông? Nho giáo
là học thuyết chính trị - xã hội hay là học thuyết về đạo đức, nhân luân; về
7
Trung - Hiếu - Lễ và ảnh hưởng của nó đối với đời sống đạo đức con
người?..., các công trình đã nêu được khái quát nội dung của Nho giáo và đã
giải quyết những phương diện lý luận mà các tác giả đặt ra cho mình. Mặc dù
vậy, việc nghiên cứu quan niệm “Hiếu” và “Đễ” trong Nho giáo và ý nghĩa
của nó đối với việc xây dựng đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay thì chưa có
công trình nào đề cập một cách có hệ thống và hoàn chỉnh. Do đó, đề tài tiếp
tục nghiên cứu vấn đề cấp bách còn bỏ ngỏ này.
Các công trình trên được tôi sử dụng và kế thừa như là những chất liệu,
là sự gợi mở cho việc nghiên cứu của mình.
Với việc quan tâm vấn đề sâu rộng này, tác giả đề cập qua luận văn :
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản; đồng thời
có kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công
bố của các tác giả (hoặc tập thể tác giả) trong và ngoài nước có liên quan đến
đề tài.
* Phương pháp nghiên cứu của luận văn:
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số
phương pháp cụ thể như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, đối chiếu, so
sánh, thống kê để trình bày những vấn đề đặt ra trong luận văn.
6. Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung cơ bản của quan niệm
“Hiếu” và "Đễ" trong Nho giáo tiên Tần ở Trung Quốc; Phân tích sự du nhập
và biến đổi của quan niệm “Hiếu” và "Đễ" ở Việt Nam; chỉ ra những ảnh
hưởng và rút ra ý nghĩa của nó trong việc giáo dục đạo đức gia đình ở nước ta
hiện nay.
9
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công
tác nghiên cứu và giảng dạy môn Lịch sử triết học (Phần lịch sử phương
Đông).
10
7. Kết cấu của luận văn
Khổng Tử là người thầy của muôn đời “Vạn thế sư biểu”. Khổng Tử cho
rằng: xã hội loạn lạc là bởi con người “vô đạo”, do vậy cần đưa con người trở
về “hữu đạo” bằng con đường giáo hóa. “Đạo hiếu” là một trong những phạm
trù đạo đức cơ bản của Nho giáo để giáo hóa con người góp phần ổn định trật
tự xã hội. Nối tiếp tinh thần trên, các nhà Nho đời sau tiếp tục bổ sung và
củng cố luận điểm đó của Khổng Tử.
12
1.1. Quan niệm của Nho giáo tiên Tần về “Hiếu” và “Đễ”
1.1.1. Khái niệm “hiếu” và “đễ”
“Hiếu” là khái niệm, đồng thời là một chuẩn mực đạo đứcdùng để chỉ
thái độ và hành vi ứng xử của con cái đối với cha mẹ như tôn kính cha mẹ,
phụng dưỡng cha mẹ, vâng theo di huấn của tổ tiên, thực hiện đầy đủ giỗ kỵ...
Lòng hiếu của những người cùng huyết thống còn bao gồm “hiếu đễ”, tức là
lòng kính yêu đối với anh chị.
Khổng Tử đặc biệt nhấn mạnh sự hiếu thuận đối với cha mẹ và xem đó
là một phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người. Ông nói: “Làm cha mẹ, ai
cũng lo cho con, sợ con phóng túng mà hư thân mất nết, sợ con theo bạn xấu
mà làm chuyện phi pháp, mắc vòng tù tội. Cho nên đi chơi nhà ai thì nên cho
cha mẹ biết trước, phòng khi giao du với kẻ chẳng xứng đáng thì cha mẹ
khuyên can” (phụ mẫu tại, bất viễn du; du, tất hữu phương) [5, tr.58], hay:
“Làm con nên xem xét chí hướng của cha. Đến khi cha thác, người con được
trọn quyền hành động, cho nên phải nhớ tới những việc làm của cha. Nhưng
khi cha thác trong ba năm, bấy giờ người con đương để tang, cho nên chẳng
có vui sướng gì mà cải tạo, vì vậy nên được gọi là hiếu” (phụ tại, quan kỳ
chí. Phụ một, quan kỳ hạnh. Tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu kỹ)
[5, tr.8].
“Đễ” là tôn kính anh em. Nghĩa gốc của từ Đễ là chỉ anh em. Sách “dẫn
Ông Hữu Tử học trò của Khổng Tử có nói rằng: “Một người có hiếu
thảo với cha mẹ và tôn kính anh em mà ưa trái nghịch với bề trên, ưa gây ra
những cuộc phản loạn, người như vậy là chưa từng có. Cho nên người quân tử
chuyên chú vào cái gốc. Cái gốc được vững chắc, tự nhiên đạo lý từ đó bắt
đầu mà sinh ra. Vậy làm người mà biết giữ gìn hiếu thảo với cha mẹ và tôn
kính anh em, tức là nắm lấy cái gốc của điều “Nhân”. Trình Tử nói: “Hiếu
thảo với cha mẹ và tôn kính anh em, là hoà thuận với đạo đức”. Một người có
thể hiếu thảo với cha mẹ và cũng tôn kính anh em, tâm tư và tình cảm tự
nhiên hoà thuận, tự nhiên không biết làm trái nghịch với bề trên, làm trái lẽ
phải, gây ra những cuộc phản loạn và tình trạng tranh đấu. Trên chính trị
14
không có loạn thần nghịch tử, thiên hạ sẽ tự nhiên thái bình. Cho nên cần
thiên hạ thái bình tức là đề xướng con đường của hiếu thảo với cha mẹ và làm
con phải biết công ơn sinh thành dưõng dục của cha mẹ, tôn kính anh em, đã
là em thì phải biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị phải
biết nhường nhịn, là em phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị nhà nhà đều
hiếu thảo, người người hoà thuận. Đây là chuẩn mực cơ bản nhất của đạo hiếu
là quy phạm sơ đẳng nhất cho hành vi con người.
Đạo hiếu hiểu theo nghĩa rộng: Là trung hiếu, đó là lòng kính yêu giữa
người với người trong xã hội, bao gồm lòng hiếu của trẻ đối với già, của kẻ
dưới đối với bề trên, lòng trung của tôi thần với quan vương, của dân đối với
nước. Bất trung tức là bất hiếu, cho nên khi xưa cai trị thiên hạ bằng hiếu và
không chỉ yêu cầu mọi người hiếu thuận với với cha mẹ mà còn bao gồm yêu
cầu mọi người phải trung với vua. Người xưa nói: “Lấy hiếu thảo để cai trị
thiên hạ” (dĩ hiếu trị thiên hạ). “Bậc trung thần tất phải xuất phát từ con người
có hiếu” (Trung thần tất xuất ư tử chi môn). Hiếu là cái đức cao nhất mà vua,
tôi, kẻ sĩ và thứ dân đều phải đề cao và thi hành. Cho nên, Nho giáo tiên Tần
“Hiếu”. “Đễ” là Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử. Về sau Đổng Trọng Thư và
một số học giả khác phát triển tư tưởng này.
1.1.2. Nội dung tư tưởng của Nho giáo tiên Tần về “Hiếu”, “Đễ”
Nho Giáo tiên Tần gắn liền với tên tuổi của người sáng lập là Khổng
Tử và hai nhà tư tưởng lớn là Mạnh Tử và Tuân Tử.
Thời đại Khổng Tử là thời đại suy tàn của chế độ nô lệ và chế độ sơ kỳ
phong kiến đang lên, mệnh lệnh "Thiên tử" nhà Chu không còn được tuân thủ,
trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn, đạo đức suy đồi. Nạn chư hầu
chiếm ngôi "Thiên tử", đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, cha giết con,
anh hại em, vợ lìa chồng thường xuyên xảy ra… Để lập lại trật tự xã hội, các
nhà Nho chủ trương dùng “đức trị". Có thể nói, “Nhân" là quan niệm tiêu
biểu trong tư tưởng Khổng - Mạnh, trong đó “Hiếu đễ" là gốc của Nhân. “Đạo
16
của Khổng Tử” lấy chí thiện làm cực điểm. Chí thiện tức là Nhân. Từ đầu chí
cuối chỉ có một mối, chủ lấy theo thiên lý làm gốc, dùng hiếu đễ, lễ nhạc mà
khiến người ta tiến đến bậc nhân” [51, tr.65].
Như vậy, nếu “Nhân” là cốt lõi của tư tưởng Khổng - Mạnh, thì “hiếu
đễ” đóng vai trò là nguyên tắt quán triệt “Nhân” và những hành vi cụ thể, là
chuẩn mực để kiểm nghiệm “Nhân” của mỗi con người bắt đầu từ cái nôi gần
gũi nhất- gia đình. Các thánh hiền của nhà Nho quan niệm một người con bất
hiếu thì sẽ khó có thể trung với vua, càng không thể kính trời.
Vậy vì sao phải “Hiếu đễ”? Vì lẽ thường cha mẹ là những ngươig gần
gũi nhất với ta. Nếu ở với cha mẹ mà không hiếu thảo, không kính thuận thì
với người ngoài sao có lòng từ ái, trung thứ được? Cha mẹ sinh ta, nuôi ta,
giáo dưỡng ta, cho ta mọi điểm khởi đầu, nên “nết hiếu phải là đầu trăm nết”.
“Hiếu” được phân ra làm các bậc: Hiếu của tiên tử là kính yêu cha mẹ, từ đó
suy rộng ra đến nhân dân, làm cho cả thiên hạ đều thực hành đạo hiếu. Hiếu
Một là, người có hiếu đễ trước hết phải nuôi dưỡng, kính trọng cha mẹ
anh chị trong gia đình.
Đề cao tột bậc hai chữ “Hiếu đễ", thầy trò Khổng Khâu đã tốn rất nhiều
công phu để định rõ nội dung ý nghĩa của hai chữ ấy, nhất là của chữ “Hiếu”
theo yêu cầu giáo dục của mình. Khổng Tử khẳng định rằng Hiếu kính cha mẹ
tức là phải tôn trọng, kính yêu, phụng dưỡng cha mẹ, làm con phải cảm kích
đối với công ơn sinh thành, nuôi dưỡng giáo dục của cha mẹ, thực hiện trách
nhiệm và nghĩa vụ của người con đối với cha mẹ. Nho giáo cho rằng: “làm
cho cha mẹ được tôn trọng là bậc hiếu cao nhất, không làm nhục cha mẹ là
bậc hiếu thứ hai, có thể nuôi cha mẹ là bậc hiếu cuối cùng" (Hiếu hữu Tam:
Đại hiếu tôn thân, kỳ hiếu phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng) [114, tr.265]. “Đễ”
theo Khổng Tử không những là kính trọng cha mẹ mà còn là kính nhường bậc
huynh trưởng, tức người lớn tuổi hơn mình. Như vậy, việc Khổng Tử gắn liền
nết “Hiếu” với “Đễ” (kính trọng) cho thấy ông rất đề cao cái gốc làm người.
Thông thường, người ta hiểu rằng “Hiếu” là đức của con người, làm
con hết lòng kính yêu cha mẹ khi cha mẹ còn sống, kế thừa ý chí, đạo lý của
18
cha mẹ sau khi cha mẹ qua đời. Nhưng Nho giáo còn coi nhà là gốc của nước,
cũng như nước là gốc của thiên hạ, do đó muốn bình thiên hạ phải biết trị
quốc, muốn trị quốc phải biết tề gia. “Hiếu đễ" không chỉ là đức tốt của con
người làm anh em, làm con trong nhà mà còn luyện cho con người trở thành
hữu đạo, hữu đức trong nước, trong thiên hạ nữa. Trong phạm vi nhà, sợi dây
thiêng liêng đầu tiên buộc chặt con người với người khác sau khi ra đời là tình
nghĩa của người con đối với cha mẹ, nên khi bắt đầu có tình cảm và tư duy,
trẻ con phải bắt đầu học tập để giữ đúng đạo làm con và có đức hiếu. Đồng
thời, trong cuộc sống gia đình có đạo làm con và có đức hiếu với cha mẹ thì
khi lớn lên cũng trở thành người cha Từ. Trong phạm vi nước và thiên hạ,
Trong các việc phải phụng sự thì việc phụng sự cha mẹ là lớn, còn trong
những cái phải giữ gìn thì giữ gìn thân thể mình là căn bản. Chính vì thế,
người con làm việc gì cũng phải thận trọng như “đi trên lớp băng mỏng”,
không được phép làm càn mà hủy hoại thân thể khiến cha mẹ đau lòng.
Trong quan niệm của Khổng Tử, mỗi người đều phải thấy được rằng,
việc nuôi dưỡng, kính trọng cha mẹ, kính nhường bậc huynh trưởng hoàn toàn
không phải và không thể là một hành động nhất thời, bề ngoài, mà đó là một
việc tự giác thực hiện trong một quá trình lâu dài. Như vậy, có thể thấy, với
xuất phát điểm mang yếu tố duy vật nhưng không hề siêu hình, cực đoan,
Khổng Tử yêu cầu người làm con vốn phải có tâm hiếu để thực hành đạo hiếu
như một lẽ tất nhiên trong suốt cuộc đời. Đáng tiếc là các thế hệ nhà Nho về
sau ít chú ý đến yêu cầu này, mà thường nặng về thực hành lễ nghi đối với
cha mẹ theo những quy tắc, chuẩn mực đã có.
Mạnh Tử đã nhất quán và tiếp tục phát triển hàm ý trên của Khổng Tử
trong luận thuyết của mình với việc ông đưa ra năm điều coi là bất hiếu, đó là,
“Tay chân chẳng chịu cử động mà làm bất cứ việc gì để chăm sóc nuôi dưỡng
cha mẹ khi già yếu, đó là điều bất hiếu thứ nhất. Ham mê cờ bạc rượu chè mà
quên mất việc chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ khi già yếu, đó là điều bất hiếu
thứ hai. Chạy theo của cải, chỉ biết lo cho vợ con mà quên mất việc chăm sóc
nuôi dưỡng cha mẹ, đó là điều bất hiếu thứ ba. Thích đàn hát, ham sắc đẹp mà
21
làm những việc để cha mẹ bị nhục nhã , đó là điều bất hiếu thứ tư. Thích đánh
nhau và tranh đấu bạo tợn mà khiến cha mẹ bị tổn thất nguy hại, đó là điều bất
hiếu thứ năm”. Theo đó, việc không nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ được
Mạnh Tử chỉ ra trước hết và coi là điều bất hiếu số một. Bên cạnh đó, mặ dù
không trực tiếp khẳng định về “kính” của vấn đề, nhưng trong sách Mạnh Tử,
Chương 9, vạn chương chương cú thượng, Mạnh Tử cũng Khẳng định: “Cái
Người con có trách nhiệm quý trọng bản thân mình và tiếp nối quá trình sinh
thầnh mà ông cha đã tạo dựng được.
Theo Hiếu kinh, từ hình hài đến tóc, da của con người đều là của cha
me cho, do vậy người con phải có trách nhiệm giữ gìn thân thể mình. Sau này,
khi phát triển quan điểm đó của Khổng Tử, Mạnh Tử trong chương Ly lâu
chương cú thượng, cho rằng: “Trong các việc cần phụng sự thì việc nào là
quan trọng nhất? Việc phụng sự cha mẹ là quan trọng nhất. Trong những việc
phải giữ gìn thì việc nào là quan trọng nhất? Việc giữ gìn thân thể của mình là
quan trọng nhất... Kẻ chẳng biết giữ gìn, lại còn huỷ hoại thân thể mình cho
đến mang bệnh vướng tật , thế mà lại có thể phụng sự cha mẹ chí hiếu, điều
này ta chưa từng được nghe nói bao giờ”. Rõ ràng, hiếu theo nghĩa này khác
hẳn với những câu chuyện “ngu hiếu” như xẻo thịt đùi, khóc mang... mà hậu
Nho về sau thường viện dẫn ra để làm tấm gương hiếu. Bên cạnh đó quan
điểm này cong thể hiện tính nhân văn, tấm lòng của cha mẹ đối với con cái,
bởi Khổng Tử: “Làm cha mẹ chỉ lo sợ con mang bệnh tật mà thôi”. Cha mẹ
không yêu cầu người con thực hành đạo hiếu phải hy sinh tấm thân mình,
càng không cho phép người con tự coi rẻ bản thân. Thân thể là cha mẹ cho
mình, nâng niu chăm bẵm từ tấm bé, người con phải giữ gìn thân thể của
mình, đó là tiền đề không thể thiếu để người con tồn tại và thực hiện đạo hiếu.
Quan niệm của Nho giáo tiên Tần coi giữ gìn thân thể là một nội dung
của đạo hiếu mang yếu tố duy vật cho thấy tính biện chứng sâu săc. Theo
chuỗi biện chứng vô cùng ấy, xuất phát điểm của tồn tại cũng chính là tồn tại
trong qúa trình sinh thành. Chính vì vậy, đạo hiếu quy định người con không
23
chỉ quý phải quý trọng sinh mệnh của mình, mà còn phải có trách nhiệm tiếp
nối sinh mệnh của tổ tiên. Về sau, hàm ý tiếp nối sinh mệnh bằng cách sinh
con nối dõi được tách ra thành một nội dung độc lập. Do đó, giữ gìn thân thể
Khổng Tử trả lời “… cha che lỗi cho con, con che lỗi cho cha, tính ngay
thẳng ngụ trong đó rồi" (phụ vị tử ẩn, tử vị phụ ẩn; trực tại kỳ trung hỹ) [5,
tr.206], tình cha con là phải thương yêu che chở cho nhau. Giả sử, nếu ông Cổ
Tẩu (cha của Vua Thuấn) mà phạm tội giết người, ông Cao Dao làm quan sĩ
nắm giữ binh pháp thì cứ bắt Cổ Tẩu, nhưng "vua Thuấn lúc ấy cũng sẽ coi
thiên hạ như một đôi dép rách, quẳng nó đi để lén cõng cha mình đến một nơi
bãi biển xa xôi, suốt đời vui vẻ mà quên đi thiên hạ". (Thuấn thị khí thiên hạ,
du khí tệ tỹ giã. Thiết phụ nhi đào; Tuân hải tân nhi xử; chung thân hân nhiên
lạc nhi vong thiên hạ) [10, tr.241], nghĩa là khi tình riêng và phép nước xuất
hiện mâu thuẫn thì các thánh sẽ đặt tình riêng lên trước, coi tình nhà cao hơn
phép nước. Đó là lôgic tất yếu xuất phát từ quan niệm coi “nhà là gốc của
nước" mà người quân tử thì coi trọng cái gốc. Nhưng trong sách Hiếu Kinh,
chương 15, Gián tránh (can ngăn) lại nhắc nhở: “Tòng phụ chi lệnh, hựu an
đắc vi hiếu hồ”. Nghĩa là con theo cha chưa chắc đã là hiếu. Vậy phải chăng
tư tưởng của Khổng Tử có mâu thuẫn? Thật ra, tư tưởng của Khổng Tử về
việc đối nhân xử thế rất biện chứng, linh động, mềm dẻo. Hiếu thảo phải tuỳ
từng trường hợp, hoàn cảnh mà thực hiện đạo hiếu theo các quy tắc, chuẩn
mực đã có, chứ không phải nhất nhất vâng theo lời cha. Nói cách khác, các
nhà Nho tiên Tần cho rằng, làm con phải vâng lời cha mẹ theo đúng nguyên
tắc của “kính”, nhưng không yêu cầu thực hành “Hiếu” một cách thụ động,
cứng nhắc một chiều , không phải là cái nhất nhất nghe theo lời cha mẹ, mà
khi cha mẹ có lầm lỗi gì, kẻ làm con phải khuyên can một cách cung kính với
lời lẽ dịu ngọt, dẫu cho cha mẹ không nghe hay trừng phạt, đánh đập cũng
chớ có oán hờn, khi cha mẹ phạm lỗi mà chẳng can gián thì đó là con bất
hiếu, nhưng nếu oán hận bất bình cũng không phải là hiếu vậy Mạnh Tử dạy
các học trò rằng:
25