1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ TÂM HIẾU BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V.I. LÊNIN VÀ
SỰ VẬN DỤNG NÓ VÀO VIỆC XÂY DỰNG KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội- 2012 3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7. Kết cấu của luận văn
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V. I. LÊNIN VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Hoàn cảnh ra đời chính sách kinh tế mới của V. I. Lênin
1.1.1. Tình hình nước Nga Xô viết trước khi áp dụng chính sách kinh tế mới
1.1.2. Từ chính sách “cộng sản thời chiến” sang chính sách kinh tế mới là một
sự thay đổi về biện pháp xây dựng nước Nga Xô viết của V.I. Lênin
1.2. Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính
sách kinh tế mới của V.I. Lênin
1. 2.1. Khái niệm kinh tế và khái niệm chính trị
1.2.2. Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế
1.2.3. Chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế
1.3. Khái niệm thị trường, kinh tế thị trường và tính tất yếu xây dựng kinh tế thị
trường ở Việt Nam
1.3.1. Khái niệm thị trường, kinh tế thị trường
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách đây hơn 150 năm, trên cơ sở phân tích sự phủ định biện chứng của chủ
nghĩa Tư bản (CNTB), C. Mác và Ph. Ănghen đã nêu lên những lý luận cơ bản về
CNXH. Đó là chế độ xã hội do nhân dân lao động làm chủ, không còn áp bức, bất
công. Những quan điểm của C. Mác và Ph. Ănghen về Chủ nghĩa xã hội (CNXH)
mới chỉ là những khái quát chung nhất về mặt lý luận.
Sau này, V. I. Lênin là người đã đưa những lý luận về CNXH của Mác và
Ănghen vào xây dựng nước Nga Xô viết. Cách mạng tháng Mười Nga thành công và
nước CNXH đầu tiên trên thế giới ra đời. Trước sự bao vây, cấm vận của Đế quốc và
bọn phản động, Lênin đã nhạy bén đổi mới tư duy lý luận về xây dựng CNXH hiện
thực bằng việc thực hiện chính sách kinh tế mới để thay thế chính sách “cộng sản thời
chiến”. Nhờ chính sách kinh tế mới, Lênin đã bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở
nước Nga, trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong chính sách kinh tế mới,
Người đã khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
chính trị. Người nhấn mạnh chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế và chính trị
không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế. Nguyên lý đó chỉ rõ rằng đường
lối, chính sách phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế, đó là sự thể hiện nổi
bật nhất sự phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng, giữa lý luận và thực
tiễn. Chỉ như vậy, chính trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ được
vai trò của chính trị.
Mặc dù chính sách kinh tế mới của Lênin chỉ được thực hiện trong một thời gian
ngắn (từ năm 1921 đến năm 1928) nhưng chính sách kinh tế mới nói chung, mối quan
hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị nói riêng mà Lênin đưa ra có ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong xây dựng CNXH hiện thực. Tác dụng đó không chỉ ở nước Nga Xô
viết mà ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam dường
như đang trở lại với những tư tưởng của Lênin trong chính sách kinh tế mới.
Sau 25 năm đổi mới, thực tiễn trong nước và quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc,
đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phải vừa giữ vững ổn định chính trị, vừa phát
triển kinh tế một cách bền vững. Để làm được điều đó, Đảng phải luôn quan tâm và
giải quyết một cách sáng suốt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, phải
kinh tế mới của V.I. Lênin và cuộc sống đổi mới ở Việt Nam” và “Tính biện chứng
trong chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi
mới hiện nay ở Việt Nam”. TS Phạm Ngọc Dũng với “Chính sách kinh tế mới của
Lênin và sự vận dụng phát triển ở Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới”
Các đề tài trên đã có những đóng góp rất lớn trong việc nhận thức quan điểm
của Lênin về việc xây dựng kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đã góp phần vào
phân tích sâu sắc những nội dung trong chính sách kinh tế mới. Từ đó, các đề tài này
đã cho thấy được những giá trị trong chính sách kinh tế mới mà Việt Nam có thể kế
thừa để đổi mới đất nước. Các công trình này đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận
của đường lối đổi mới và xây dựng đất nước của Đảng ta.
7
Các nhà nghiên cứu chủ yếu nghiên cứu những nội dung có tính chất tổng hợp
trong chính sách kinh tế mới. Đặc biệt trong cuốn sách “Tính biện chứng trong chính
sách kinh tế mới của V.I. Lênin và ý nghĩa của nó đối với công cuộc đổi mới đất nước
hiện nay ở Việt Nam” của PGS. TS Nguyễn Ngọc Thành đã nghiên cứu một cách chi
tiết nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh
tế mới. Nhưng PGS chưa nghiên cứu một cách cụ thể sự vận dụng mối quan hệ này ở
Việt Nam. Ngoài ra, có một số học giả cũng nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và chính trị ở Việt Nam như Lê Văn Phụng với “Xử lý mối quan hệ chính trị
với kinh tế trong đổi mới”, Trần Đình Nghiêm “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị”, Vũ Văn Phúc “Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế”, luận
án Tiến sĩ của Lưu Thị Bích Thu “ Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay” có đề cập tới mối quan hệ biện chứng giữa
kinh tế và chính trị ở Việt Nam nhưng lại đề cập rất khái quát quan điểm của Lênin
về mối quan hệ này.
Bởi vậy, trong luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu nội dung mối
quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới của Lênin
và sự vận dụng nó vào Việt Nam hiện nay.
phương pháp phân tích- tổng hợp, logic- lịch sử, so sánh, đối chiếu và một số phương
pháp khác.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lý luận: Luận văn đã làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và
chính trị trong chính sách kinh tế mới của Lênin, chỉ ra đó là cơ sở lý luận để Đảng ta
thực hiện một số nội dung đổi mới.
- Về mặt thực tiễn: Hoàn thành luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
những người nghiên cứu về triết học Mác- Lênin, chính sách trong thời kỳ đổi mới
của Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khả, luận văn được kết
cấu với 2 chương, 6 tiết.
9
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
Chương 1: MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH
TRỊ TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI CỦA V. I. LÊNIN VÀ LÝ LUẬN
CHUNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Hoàn cảnh ra đời chính sách kinh tế mới của V. I. Lênin
1.1.1. Tình hình nước Nga Xô viết trước khi áp dụng chính sách kinh tế mới
Cách mạng tháng Mười nổ ra và một đất nước CNXH đầu tiên trong lịch sử đã
ra đời ở nước Nga- Xô viết; đã biến những lý luận về CNXH của Mác- Ănghen thành
hiện thực. Tuy nhiên, một đất nước còn non trẻ, lại là một nước Xã hội chủ nghĩa
(XHCN) đầu tiên trên thế giới nên luôn phải đương đầu với những chống phá từ bên
trong và bên ngoài. Bởi vậy, từ khi cách mạng tháng Mười thành công vang khắp
năm châu, từ 1914 đến đầu năm 1921, trải qua 7 năm tồn tại, nước Nga Xô viết bị tàn
phá nặng nề và lâm vào khủng hoàng trầm trọng. Đó là do hai nguyên nhân chủ yếu
là chiến tranh và thực hiện chính sách “cộng sản thời chiến”.
Nguyên nhân thứ nhất: Sự tàn phá nặng nề của chiến tranh.
dựng lại cơ sở hạ tầng cũng như chăm lo đời sống vật chất của nhân dân. Lúc đó, cả
nước Nga như một chiến trường và mọi người dân là những người chiến sỹ. Đó là
thời kỳ vô cùng khó khăn và túng quẫn. Người ta chỉ có thể nghĩ làm sao để sống, để
qua khỏi cuộc chiến tranh này, để chiến thắng một cách anh dũng, bảo vệ thành quả
cách mạng chứ chưa thể nghĩ tới làm kinh tế như thế nào. Lênin đã nhấn mạnh “nước
Nga ra khỏi chiến tranh trong một tình cảnh giống như một người đã bị đánh gần chết,
trong 7 năm trời, nó bị đánh khắp mình mẩy và may mà nó vẫn có thể chống nạng mà
đi được” [60,81]. Trong các nước bị lôi cuốn vào cuộc chiến tranh đế quốc, không có
một nước nào phải chịu đau khổ bằng nước Nga. Trong đó, cuộc nội chiến đã làm
nước Nga bị tàn phá và hoang tàn nhiều hơn, tai hại hơn cuộc chiến tranh với nước
ngoài. Do vậy, Lênin khẳng định chiến tranh “ là nguồn gốc chủ yếu gây ra những
khó khăn mà chúng ta đang phải chịu đựng lúc này, lúc mà một lần nữa, vấn đề chủ
chốt, vấn đề cơ bản của cách mạng lại là vấn đề quân sự, vấn đề chiến đấu…nhân dân
đã bị chiến tranh làm cho mệt mỏi và hơn bao giờ hết chiến tranh đã làm cho họ kiệt
quệ hoàn toàn…là nguồn gốc chính của những khó khăn to lớn mà chúng ta đang
phải chịu đựng”[54,17]. Thời kỳ này có thể nhấn mạnh là thời kỳ biểu hiện mối quan
hệ chặt chẽ giữa chính trị và quân sự và nhiệm vụ của thời kỳ này cũng là chính trị và
quân sự.
Nguyên nhân thứ hai: Những hạn chế của chính sách “cộng sản thời chiến”
được bộc lộ một cách rõ ràng sau chiến tranh.
Trong 7 năm chiến tranh, để giúp nước Nga vừa có thể đương đầu chống lại
thù trong, giặc ngoài, vừa xây dựng đất nước, Lênin đã dùng đến chính sách “cộng
sản thời chiến”, một chính sách mà ngay cái tên của nó đã toát lên toàn bộ ý nghĩa:
đây là chính sách của những người cộng sản nhằm bảo vệ đất nước trong thời chiến.
Nội dung của chính sách “cộng sản thời chiến” nổi bật bao gồm việc thực hiện
chế độ trưng thu lương thực thừa. Chính sách này buộc những người nông dân phải
11
nộp tất cả sản phẩm thừa, đôi khi cả sản phẩm nông nghiệp cần thiết của họ cho Nhà
nghiệp tài chính tiên tiến nhất.
Việc thực thi chính sách “cộng sản thời chiến” cũng nhận được sự đồng thuận
trong dân chúng rất cao. Cần nhấn mạnh rằng việc chán ghét chiến tranh, mong muốn
12
sớm chấm dứt cuộc chiến tranh này đã tạo nên một sự phản kháng ác liệt của các giai
cấp trong các lĩnh vực của đời sống khác nhau, từ kinh tế đến chính trị và quân sự, đã
thúc đẩy chính sách “cộng sản thời chiến” được thực thi nhanh hơn, tương ứng với nó
là có những biện pháp cách mạng kiên quyết trong những hoàn cảnh đặc biệt. Chính
lòng nhiệt tình sôi sục của quần chúng nhân dân đã đẩy việc thực hiện chính sách
“cộng sản thời chiến” lên cao trào. Lúc đó “ được cao trào nhiệt tình lôi cuốn, chúng
ta, những người đã từng thức tỉnh nhiệt tình của nhân dân, - trước hết là về mặt chính
trị, rồi sau về mặt quân sự, - chúng ta đã tính là có thể dựa vào nhiệt tình đó mà trực
tiếp thực hiện những nhiệm vụ kinh tế cũng to tát như những nhiệm vụ chính trị
chung, như những nhiệm vụ quân sự” [61,189]. Lúc đó, hầu như mọi người dân đều
khẳng định rằng bằng lòng nhiệt tình cách mạng thì điều gì cũng có thể làm được,
muốn làm gì là có thể làm ngay được. Lúc đó, tất cả đều mong muốn có thể trực tiếp
xây dựng nhà nước theo kiểu CSCN.
Chính bởi vậy mà nhân dân, nhất là người nông dân, đã chấp nhận những
chính sách có phần kỷ luật, nghiêm ngặt của chính quyền Xô viết, ngay cả chế độ
trưng thu lương thực thừa. Bởi họ mong mỏi được kết thúc chiến tranh, muốn sao cho
mức sống tối thiểu của họ được cải thiện nhanh chóng. Do đó, có thể khẳng định,
chính sách “cộng sản thời chiến” được đẩy nhanh, làm mạnh trước hết từ bên dưới.
Chính lòng nhiệt tình cách mạng của nhân dân đã khiến mọi người cho rằng:
“…tưởng có thể dùng pháp lệnh của nhà nước vô sản để tổ chức theo kiểu cộng sản
chủ nghĩa trong một nước tiểu nông…Đời sống thực tế đã vạch rõ sai lầm của chúng
ta” [61, 189]. Bản thân Lênin, khi đó, đã nhận thấy những nguy cơ tiềm ẩn từ lòng
nhiệt tình đó. Người đã nhiều lần kêu gọi “ không huỷ bỏ (tạm thời) tiền tệ và không
ngăn cấm những sự giao dịch mua bán cá biệt giữa các hộ cá biệt” [53,93], “ không
mọi người dân đều chấp nhận và với lòng nhiệt tình cách mạng cao nên lợi ích riêng
tư, lợi ích cá nhân bị xếp sau lợi ích toàn dân. Bản thân Lênin sau này cũng nhấn
mạnh nhiều lần rằng chính sách “cộng sản thời chiến” chỉ là biện pháp tình thế, chính
sách tạm thời và “ trong hoàn cảnh nội chiến chúng ta phải dùng những biện pháp của
thời chiến. Tuy nhiên, nếu từ đó chúng ta rút ra kết luận rằng những biện pháp và
quan hệ đó là duy nhất có thể áp dụng được thì thật là một sai lầm lớn vô
cùng”[60,35].
Sau chiến tranh, việc tiếp tục chính sách “cộng sản thời chiến” cộng với sự tàn
phá nghiêm trọng của chiến tranh, nước Nga Xô viết lâm vào cuộc khủng hoảng trầm
trọng, tình trạng suy thoái đã rơi vào vực thẳm. Đời sống của tầng lớp nhân dân càng
thêm điêu đứng, khổn khó tới mức không sao chịu nổi nữa.
Thực chất cuộc khủng hoảng ở nước Nga Xô viết đã bắt đầu xuất hiện từ đầu
năm 1920 nhưng phải tới sau chiến tranh, khi tất cả bắt tay xây dựng lại đất nước,
biểu hiện này mới dần xuất hiện rõ rệt và nhận biết rõ hơn. Cần phải khẳng định một
điều là ngay sau chiến tranh 11/ 1920, Lênin cũng bắt tay vào xây dựng lại kinh tế,
nhận thức lại tình hình kinh tế để có những biện pháp, bước đi phù hợp, Người không
hề có ý định kéo dài chính sách “cộng sản thời chiến”, hay coi đó là chính sách để
14
xây dựng đất nước đi lên CNCS. Bởi vậy, đến tháng 3/ 1921 tức là sau cuộc chiến
tranh cuối cùng hơn 3 tháng, Lênin và chính quyền Xô viết đã chuyển từ chính sách
“cộng sản thời chiến” sang chính sách kinh tế mới. Và lúc này, chính sách “cộng sản
thời chiến” đã hoàn thành vai trò lịch sử của nó sau khi đảm bảo thắng lợi trước bọn
bạch vệ và bọn đế quốc can thiệp. Nó chính là cái nạng giúp cho nhân dân và chính
quyền Xô viết thoát ra khỏi cuộc chiến tranh và “ không cần chống nạng mà cũng có
thể thoát ra khỏi tình trạng đó thì thật không hiểu gì hết!”[60,81].
Tuy nhiên, có một điều rằng, khi thực thi chính sách cũ nhiều người đã nghĩ đó
là một biện pháp xây dựng đất nước đi lên CNXH. Chính chính sách ấy đã giúp nước
Nga chiến thắng trong cuộc chiến tranh khốc liệt nhưng lại làm cho những người dân
chính sách cũ, dù sai lầm đó trong chính sách cũ là không thể tránh khỏi nhưng trong
thời kỳ mới cần phải sửa chữa nó. Thừa nhận những sai lầm để làm tốt hơn, chu đáo
hơn, thận trọng hơn và có hệ thống hơn trong những chính sách sau. Lênin còn nhấn
mạnh: “ Nếu chúng ta cho rằng thừa nhận một thất bại cũng giống như bỏ một vị trí, sẽ
gây ra tâm trạng chán nản và làm nhụt chí đấu tranh, thì phải nói rằng những nhà cách
mạng như thế không đáng giá một xu” [61,255]. Việc tiếp sau của việc thừa nhận sai
lầm trong tư duy đó là việc phải từ đó chuyển sang phương thức khác để phát triển,
theo Lênin đó là phương thức “ bao vây” tức là sử dụng chính sách kinh tế mới.
Giai đoạn “xung phong” là giai đoạn từ khoảng đầu năm 1918 cho đến mùa
xuân 1921. Đây là thời kỳ mà chính quyền Xô viết dùng con đường ngắn nhất, nhanh
nhất, trực tiếp nhất để thực hiện việc sản xuất và phân phối theo nguyên tắc XHCN.
Với Lênin, khi nhận định lại chính sách cũ là sai lầm hay không sai lầm, Người đã
khẳng định: “Đương nhiên giờ đây, khi chúng ta nhìn vào triển vọng của sự phát triển
lịch sử mà đánh giá các sự kiện, chúng ta không thể không thấy rằng sắc lệnh ấy là
ngây thơ và - xét về một mặt nào đó- là sai lầm"[61,251]. Nhưng nó cũng không hoàn
toàn sai lầm vì “ nhà nước, tức là giai cấp vô sản, đã thử chuyển sang những quan hệ
xã hội mới bằng cách có thể nói là hết sức tìm cách thích ứng với những quan hệ xã
hội tồn tại khi ấy, hết sức tìm cách tiến hành từ từ và không quá mạnh” [61,252].
Lênin biết rõ xây dựng nước Nga hồi đó như thế nào. Vì Người đã nhận thức rõ tình
hình kinh tế của nước Nga Xô viết khi đó là chế độ ruộng đất lạc hậu nhất cùng với
tình trạng nông thôn dốt nát nhất và một bên là chủ nghĩa tư bản công nghiệp và tài
chính tiên tiến nhất. Khi đó, ở nước nga, người nông dân chiếm 82,4% dân số, sản
phẩm nông nghiệp chiếm 51,4% tổng sản phẩm quốc dân. Hơn ai hết, Lênin hiểu cần
đưa ra chính sách phù hợp với kinh tế như thế nào để phát triển. Tuy nhiên, chính
quyền Xô viết non trẻ đã nhận một lời tuyên chiến của kẻ thù. Chúng muốn xem
chính quyền non trẻ ấy có thể đứng vững được bao lâu. Và lúc đó chỉ có thể giải
quyết bằng một cuộc chiến tranh và cuộc chiến tranh này vì là một cuộc nội chiến nên
vô cùng tàn khốc và “ cuộc đấu tranh càng trở nên khó khăn thì càng ít có khả năng
thực hiện một bước quá độ thận trọng được” [61,253] và phải dùng những biện pháp
đấu tranh hết sức gắt gao, tàn khốc, quyết liệt. Đây chính là biện pháp “ xung phong”,
vì vậy, nó là chính sách mới nhưng có những cái phải lùi hơn so với chính sách cũ.
Lênin đã cho rằng cái chính sách kinh tế mà người ta gọi là “mới”, mới so với chính
sách kinh tế của ta trước kia. Nhưng về thực chất, trong chính sách đó có nhiều cái cũ
hơn chính sách kinh tế trước kia của ta. Nó được gọi là mới theo Lênin “ vì nó quay
trở lại đàng sau”[61,350]. Chính chính sách này là một bước lùi của chính quyền Xô-
viết, chưa nên xây dựng trực tiếp CNXH, mà trong nhiều lĩnh vực kinh tế cần phải lùi
về CNTB nhà nước tức là “ từ bỏ biện pháp tấn công chính diện và bắt đầu một cuộc
bao vây lâu dài, không thích thú, khó khăn và gian khổ, đòi hỏi phải rút lui trên hàng
17
loạt vấn đề” [61,255]. Lênin cũng thừa nhận rằng với việc thực hiện chính sách kinh
tế mới là chúng ta dường như lùi bước “ nhưng sau đó lấy đà nhảy một bước mãnh
liệt hơn về phía trước. Chính chỉ với điều kiện như vậy, chúng ta mới đã lùi bước
bằng cách thực hiện hiện chính sách kinh tế mới của chúng ta” [62,350].
Trong chính sách kinh tế mới, Lênin khẳng định chưa thể xoá bỏ thương
nghiệp mà phải phục hồi nó, thực hiện trao đổi thông qua thị trường. Việc phân phối
bằng hiện vật cũng đã chuyển sang phân phối sản phẩm thông qua lưu thông hàng
hoá, sử dụng lại đồng tiền trong lưu thông, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá để từ đó đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp và công nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân…
Chính sách kinh tế mới có nhiều điểm “lùi” hơn so với chính sách “cộng sản
thời chiến”, nó có những thay đổi trong tư duy của Lênin về con đường đi lên CNXH.
Một trong những thành công của Lênin khi áp dụng thành công chính sách kinh tế
mới vào thực tiễn là đã thực sự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính
trị, chuyển từ mối quan hệ giữa chính trị và quân sự trong chính sách cũ sang mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong chính sách kinh tế mới.
1.2. Nội dung mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong
chính sách kinh tế mới của V.I. Lênin
1. 2.1. Khái niệm kinh tế và khái niệm chính trị
Thứ nhất: Khái niệm "kinh tế".
triển của xã hội loài người cho thấy, giai cấp nào chiếm lĩnh được hầu hết tư liệu sản
xuất trong tay, hoặc là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thì giai cấp đó sẽ sản xuất
ra được nhiều sản phẩm cho xã hội hơn, và đồng thời là giai cấp nắm vị trí chi phối
trong việc tổ chức lao động trong xã hội, quản lý xã hội cũng như quyết định việc
phân phối sản phẩm xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, chính việc vi phạm lợi ích vật chất của các giai cấp
sẽ dẫn tới mâu thuẫn giai cấp hay nói chính xác hơn, lợi ích là nguồn gốc sâu xa của
mọi cuộc cách mạng trong xã hội.
Thứ hai: Khái niệm “chính trị”.
Chính trị là lĩnh vực phức tạp nhất của đời sống xã hội có giai cấp. Chính trị
không xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người. Chỉ khi nào xã hội có sự phân
chia thành các giai cấp, có đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được, dẫn tới việc ra
đời nhà nước để nhằm giữ đấu tranh giai cấp trong vòng trật tự. Nhà nước ra đời thì
chính trị cũng xuất hiện. Chính trị là lĩnh vực nhạy bén nhất trong các yếu tố của kiến
trúc thượng tầng. Nó tác động nhanh nhất tới các mặt của đời sống xã hội. Trong các
cuộc đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực tư tưởng
không có vai trò quan trọng bằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị. Bởi cuộc đấu
tranh tranh trên lĩnh vực chính trị sẽ dẫn đến xuất hiện các chính Đảng đại diện cho
các giai cấp, sẽ có bạo lực cách mạng nổ ra không phải chỉ để đòi hỏi quyền lợi về
mặt kinh tế mà là quyền lực chính trị. Nói cách khác, khi có đấu tranh về chính trị tức
sẽ có cuộc cách mạng nổ ra nhằm thay đổi chế độ cũ bằng chế độ mới tiến bộ hơn.
Do đó, nó trở thành một động lực cho sự phát triển xã hội.
19
Chủ nghĩa Mác- Lênin, với quan điểm duy vật về lịch sử, đã xem chính trị là
một hiện tượng đặc biệt của đời sống xã hội, có liên quan tới các đảng phái và Nhà
nước. Nó phản ánh quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, các nhóm xã hội có lợi ích
khác nhau, mâu thuẫn với nhau, trong đó trước hết và căn bản nhất là lợi ích kinh tế.
Theo Lênin chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp; là sự tham gia của nhân
20
ta không thể nhận định về một con người căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối
với bản thân, thì ta cũng không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ
vào ý thức của thời đại ấy. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn
của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa lực lượng sản xuất xã hội và
những quan hệ sản xuất” [45, 15]. Như vậy, muốn xây dựng và phát triển xã hội, xây
dựng nhà nước bền vững thì phải giải quyết những vấn đề liên quan đến sản xuất vật
chất. Ở nơi đó, mâu thuẫn luôn tồn tại và luôn phải giải quyết mâu thuẫn đó nếu
không sẽ dẫn đến sự phá huỷ xã hội.
Từ việc đưa ra quan điểm về đời sống vật chất quyết định đến vấn đề ý thức,
tinh thần của xã hội thì Mác và Ănghen khẳng định vai trò quyết định của kinh tế đối
với đời sống xã hội nói chung, tới hoạt động chính trị của nhà nước nói riêng. Theo
ông tương ứng với những điều kiện vật chất, phương thức sinh hoạt kinh tế, xã hội
nhất định, thì có những hình thức nhà nước, và cả những cá nhân hoạt động chính trị
thích hợp. “ Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan
hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ- tức những quan hệ sản
xuất, những quan hệ này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng
sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế
của xã hội tức là cái cơ sở hình thức trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp
lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện
thực đó. Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã
hội, chính trị và tin thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định tồn
tại của họ, trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [45,14-15]. Kinh tế
là cơ sở mà các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị, tinh thần đều được nảy sinh trên
cơ sở ấy và một khi “ cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ
sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng” [45,15] trong đó có cả chính trị nữa.
Tuy nhiên với tư duy biện chứng, Mác- Ănghen không chỉ thừa nhận sự quyết
định của kinh tế đối với chính trị mà còn nhận thấy sự tác động trở lại của chính trị
đối với sự phát triển kinh tế. Theo các ông thì “ tác động ngược lại của quyền lực nhà
chính trị và quân sự để phục vụ cho kinh tế, lợi ích kinh tế sẽ tạo nên một sự dao
động, một sự phản ứng. Bởi nước Nga vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh nhưng
nguy cơ chiến tranh vẫn chưa hết, nên có quan niệm cho rằng vẫn cần phải xây
dựng lực lượng quân sự vững mạnh để đối phó và ngăn chặn tất cả những nguy
cơ phát triển của CNTB ở trong nước. Với tư tưởng đó, một số người vẫn không
muốn chuyển sang chính sách mới.
Hơn ai hết, Lênin hiểu rằng để có một nền quân sự vững mạnh đương đầu với
những thế lực thù địch, để có một nền chính trị ổn định, các giai cấp đoàn kết, yên tâm
xây dựng CNXH thì cần phải giải quyết vấn đề kinh tế mà cơ bản là lợi ích kinh tế.
Mác, Ănghen ngay thời kỳ xây dựng học thuyết khoa học và cách mạng của
mình đã nhấn mạnh rằng mọi sự biến thiên của lịch sử dù dích dắc đến thế nào thì
cuối cùng vẫn là thấy tính tất yếu kinh tế chi phối sự vận động của lịch sử. Xét đến
cùng, kinh tế là nhân tố quyết định mọi tiến bộ lịch sử. Nó là nhân tố quan trọng và
22
quyết định cuối cùng chứ không phải là nhân tố duy nhất quyết định. Nếu chúng ta
tách rời tư tưởng với lợi ích thì tư tưởng sẽ bị mất “ tín nhiệm”, nghĩa là “ tự nó làm
nhục bản thân nó”.
Từ đó, Lênin đã nhận thấy, nhà nước chuyên chính vô sản sẽ không có tác
dụng gì khi nó rao giảng về CNXH, con đường đi lên CNXH lại trở nên bất lực trong
việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế. Đặc biệt, với Lênin, từ kinh nghiệm thực tiễn
của cách mạng Tháng Mười và những năm đầu xây dựng CNXH của nước Nga Xô-
viết, Người cũng nêu lên những luận đề, nhằm tổng kết sâu sắc về vai trò của kinh tế
và chính trị cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng.
Sự thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau giữa kinh tế và chính trị, đến mức mà
Lênin nhận xét rằng, khi đi vào xây dựng kiến thiết CNXH ở Nga thì nhiệm vụ nổi
bật hàng đầu là phát triển kinh tế. Bởi thế cần phải nhận thức rằng, cái chính trị quan
trọng nhất, có ý nghĩa nhất, lý thú nhất lúc này là làm kinh tế. Theo Lênin, người ta
cần đến kinh tế để khỏi bị chết đói và cần đến chính trị, thứ chính trị đúng đắn và
gia súc hoặc cất giấu chúng và theo họ, cuối cùng là, sản xuất để làm gì nếu người ta
cứ lấy hết sản phẩm thừa. Chỉ cần bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa thì các lực
lượng bạo loạn sẽ giải tán ngay tức khắc. Số người biểu tình không chỉ có nông dân
mà còn có các binh lính giải ngũ, vì trong khi họ chiến đấu ác liệt ngoài chiến trường
thì gia đình họ ở nông thôn lại bị áp lực của chế độ trưng thu lương thực thừa.
Khi giai cấp nông dân không muốn sản xuất cho chính quyền Xô viết thì giai
cấp công nhân không có thực phẩm để sinh hoạt, không đủ nguyên liệu để sản xuất.
Một điều nữa là khi họ không còn nhiệt huyết cho chế độ thì tức là họ, giai cấp nông
dân, không còn tin cậy ở giai cấp cầm quyền thì đó sẽ là lúc giai cấp tư sản đẩy nông
dân chống lại công nhân, đẩy thế lực tiểu tư sản tự phát vô chính phủ chống lại công
nhân. Nếu như vậy, theo Lênin, nó sẽ trực tiếp đưa tới chỗ lật đổ nền chuyên chính vô
sản và tức là khôi phục lại CNTB, khôi phục lại chính quyền tư bản- địa chủ cũ. Đây
chính là mối nguy hiểm chính trị to lớn, rõ ràng mà nguyên nhân sâu xa là do sự
không đáp ứng đầy đủ lợi ích kinh tế.
Lênin đã nhìn thấy được mối nguy hại đó. Chính sự không ổn định về kinh tế,
sự vi phạm lợi ích kinh tế sẽ dẫn tới sự mất ổn định về chính trị. Người đã có lần
tuyên bố trước Đảng cộng sản rằng: “ Các đồng chí hãy coi chừng sự thống trị của
giai cấp công nhân và nền chuyên chính của giai cấp công nhân đang bị đe dọa”
[60,19]. Nhưng khi đó nhiều người đã không nhận thức được điều đó và còn tuyên bố
“đó là một cách doạ dẫm”, “ khủng bố” tinh thần của Lênin. Họ tập trung đi vào
nghiên cứu những vấn đề chi tiết, vụn vặt của cương lĩnh và “làm việc đó ngay cả
trong những điều kiện mất mùa, khủng hoảng, trong những điều kiện bị tàn phá và
phục viên quân đội” [60,20]. Họ hoàn toàn xa rời với cuộc sống thống khổ đến chết
đói không lối thoát của nhân dân, ngoảnh mặt với những mâu thuẫn, căng thẳng đang
nảy sinh và ngày càng nghiêm trọng trong xã hội.
Hai là: Lênin đã nhấn thấy “trong một nước như vậy, cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa chỉ có thể thắng lợi triệt để với hai điều kiện. Điều kiện thứ nhất là có sự
24
công nhân, tức là ưu tiên phát triển nông nghiệp hay công nghiệp, là vấn đề đang đặt
ra hiện nay.
Theo Lênin, những người phái tả đã quên mất rằng 80% dân số của nước Nga
Xô viết là nông dân và nền kinh tế của nước Nga vẫn phụ thuộc phần lớn vào nông
25
nghiệp. Bản thân giai cấp nông dân đã nuôi sống giai cấp công nhân và chính quyền
của họ, đổi lại họ cần chính quyền tạo điều kiện cho họ sản xuất, phát triển. Lênin đã
nhấn mạnh “ Chúng ta phải hiểu rằng trong điều kiện cuộc khủng hoảng của kinh tế
nông dân, chúng ta không thể tồn tại được bằng cách nào khác là dựa vào nền kinh tế
nông dân đó để giúp đỡ thành thị và nông thôn” [60,29] và “ kẻ thù có vũ khí đang
rình chúng ta và để khỏi bị nó quật ngã, chúng ta cần thiết lập những quan hệ đúng
đắn giữa công nhân và nông dân” [59,386].
Đúng như vậy. Giai cấp công nhân muốn tồn tại cần có một mối quan hệ chặt
chẽ với nông dân. Nếu không ngoài việc không được người nông dân cung cấp thực
phẩm, giai cấp công nhân và chính quyền Xô viết còn đối mặt với một điều nguy hại
hơn đó là “nông dân còn đi theo giai cấp tư sản và công nhân còn bị cô lập, thì họ
(giai cấp công nhân) sẽ còn bị đè bẹp. Nếu chúng ta quên điều đó, chúng ta sẽ bị tư
bản đánh bại”[59,386]. Vì sao ư, vì giai cấp nông dân theo Lênin, không phải là
những người XHCN. Cho nên Lênin ví việc đưa ra các kế hoạch xây dựng CNXH
của nước Nga Xô viết trên nền tảng coi nông dân là người XHCN thì không khác gì
việc xây dựng trên cát.
Vì vậy, cần bắt đầu từ nông dân, bắt đầu từ nông nghiệp. Đó là cách thức để
nhà nước Xô viết giữ được chính quyền, phát triển kinh tế, xã hội và đoàn kết được
giai cấp để đấu tranh chống thế lực thù địch. Một điều nữa mà chỉ Lênin và những
người Mác xít thấy được đó là cải thiện đời sống của nông dân cũng chính là cải thiện
đời sống của công nhân. Công nhân phải có lúa mì để sống và có nguyên liệu để sản
xuất. Vậy để có nó thì phải làm thế nào, thì “chỉ có thể tăng thêm sản xuất và thu
hoạch lúa mì, tăng thêm dự trữ và vận tải nhiên liệu bằng cách cải thiện đời sống của