ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------
ĐỖ THỊ LAN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ Ý
NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số
: 60.22.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Hạnh
Hà Nội – 2015
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................. 4
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................. 4
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................ 5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................... 9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 9
5. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ......................................... 9
6. Đóng góp mới của luận văn ............................................................. 10
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ............................................................ 10
8. Kết cấu của đề tài ........................................................................... 10
NỘI DUNG ........................................................................................ 11
2.2.3 Giáo dục nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ
chuyên môn ........................................................................................ 56
2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, phương pháp giáo dục ....... 63
2.3.1 Học đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế, học tập phải
kết hợp với lao động. .......................................................................... 64
2.3.2 Phải kết hợp phương pháp học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người,
học suốt đời, coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại ............... 66
2.3.3 Kết hợp các hình thức giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội ... 68
CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀO ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY .................................................................................. 73
3.1 Yêu cầu và nội dung chủ yếu của công cuộc đổi mới toàn diện
giáo dục Việt Nam hiện nay .............................................................. 73
3.1.1 Những yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam
hiện nay .............................................................................................. 73
3.1.2 Nội dung của công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục Việt Nam hiện
nay ..................................................................................................... 78
2
3.2 Một số ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục vào công cuộc đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay ................... 90
3.2.1 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm “Học đi đôi với hành”, “Lý
luận đi đôi với thực tiễn” trong việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng
nhu cầu thực tiễn ................................................................................ 90
3.2.2 Ý nghĩa của việc vận dụng quan điểm “Tự học” của Hồ Chí Minh
đối với công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay .................... 96
KẾT LUẬN ..................................................................................... 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................ 106
nền giáo dục và đào tạo Việt Nam, trong đó xác định:
4
"Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện
đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "Phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc
đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân" [9]
Để đảm bảo sự nghiệp đổi mới thành công, Đảng ta tiếp tục khẳng
định nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và phổ biến rộng rãi tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục nói riêng , vận dụng
những tư tưởng lý luận đó một cách sáng tạo vào thực hiện công cuộc đổi mới
toàn diện nền giáo dục đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đất nước.
Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo
dục là một việc làm cần thiết nhằm đảm bảo sự nghiệp đổi mới thành công,
đồng thời trang bị cho chúng ta những tư tưởng, lý luận đúng đắn, tiến bộ của
một nhà giáo dục, một nhà văn hóa lớn của thế giới, qua đó giúp mọi người
rút ra những giá trị, liên hệ với tình hình thực tiễn, và vận dụng vào công cuộc
đổi mới toàn diện nền giáo dục. Vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và ý nghĩa của nó đối với đổi mới giáo dục ở
nước ta hiện nay” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận án, luận văn viết về tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vai trò của nó trong sự nghiệp phát triển
đất nước. Nhìn chung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục được tiếp cận và tìm
hiểu ở nhiều góc độ khác nhau.
Trong phạm vi của đề tài mà ta có thể thống kê ra đây một số công
trình nghiên cứu sau:
* Nhóm những tác phẩm của Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục:
Nội dung cuốn sách trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người cũng như của đất nước. Đồng thời cuốn sách
6
phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nêu bật tầm quan
trọng của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào việc nâng cao
chất lượng đào tạo đại học hiện nay. Từ việc phân tích một số vấn đề trong
công tác đào tạo đại học hiện nay như: chất lượng sinh viên, đội ngũ giảng
viên, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, các tác giả đã
đề xuất các giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nâng
cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay.
Liên quan đến nội dung của đề tài cũng đã có những luận văn, luận án
nghiên cứu khá rộng và sâu sắc:
Luận văn thạc sỹ của Hoàng Thị Tuyết Thanh (2010) “Tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào xây dựng xã hội học tập ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay”. Tác giả đã đưa ra quan niệm của Hồ Chí Minh về
giáo dục và cho thấy được tính tất yếu trong việc vận dụng quan điểm đó vào
xã hội học tập ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Luận văn thạc sỹ của Ninh Thị Ánh Hồng (2014) “Tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục con người mới”. Luận văn đã nêu lên được quan điểm của
Hồ Chí Minh về giáo dục con người mới cũng như vận dụng những quan
niệm đó vào việc giáo dục con người Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra còn rất nhiều những bài báo, bài viết đăng trên tạp chí như bài
viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với việc phát triển nền giáo dục Việt
Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” của PGS.TS Nguyễn Thị Nga
trên tạp chí Triết học số 12 năm 2010. Tác giả đã phận tích một cách khái
quát tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về giáo dục trên những khía cạnh như
Tuy vậy, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và chỉ ra
được ý nghĩa của nó đối với đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay vẫn chưa có
công trình nào nghiên cứu, tiếp cận dưới góc độ của khoa học triết học. Song
những tư liệu trên là tài liệu quý giá để tác giả tham khảo trong quá trình viết
luận văn.
8
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Làm rõ nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục, từ đó chỉ ra ý
nghĩa của việc vận dụng tư tưởng này đối với đổi mới giáo dục ở nước ta hiện
nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Khái lược những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.
Làm rõ nội dung tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục.
Chỉ ra một số ý nghĩa của việc vận dụng những tư tưởng này đối với
đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thông qua các tác phẩm
của Hồ Chí Minh và công cuộc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay do
Đảng Cộng Sản Việt Nam khởi xướng và chỉ đạo thực hiện.
5. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ
GIÁO DỤC
1.1 Cơ sở thực tiễn của việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục
1.1.1 Thực trạng Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX
Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ
năm 1858 thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam. Sau
khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực
dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột
nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa.
Về kinh tế - xã hội: Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương
trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
(1914-1918), tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông
Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh.
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình
kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình
thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới.
Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì các quan hệ kinh tế của chế
độ phong kiến. Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến
để thu lợi nhuận siêu ngạch. Chính vì thế, nước Việt Nam không thể phát
triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế
Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào kinh tế
Pháp.
Về chính trị, Pháp tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy
đàn áp nặng nề. Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị
11
12
mật, đề ngày 1-3-1899, một tên thống sứ Bắc kỳ đã nói với tên toàn quyền
Đông Dương rằng: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ
rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại
dột” [47;10]
Hồ Chí Minh trong nhiều tác phẩm của mình đã nhiều lần vạch rõ bản
chất tội ác cũng như lên án chính sách ngu dân của thực dân Pháp:
“Trong vài phút, tôi không thể vạch được hết những sự tàn bạo mà bọn
tư bản ăn cướp đã gây ra ở Đông Dương. Nhà tù nhiều hơn trường học và lúc
nào cũng chật ních. Bất kỳ người bản xứ nào có tư tưởng xã hội chủ nghĩa
cũng đều bị bắt và có khi bị giết mà không cần xét xử…Chúng tôi không có
quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp và lập
hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền sống hoặc đi du lịch ở nước
ngoài, chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm vì chúng tôi không có
quyền tự do học tập” [18; 34, 35]
“May mắn thay! tuy chúng tôi thiếu trường học, nhưng nước Pháp đã
ban cho chúng tôi rất nhiều nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện và ty rượu
“Để có thể đánh lừa dư luận bên chính quốc và yên ổn bóc lột người
bản xứ, bọn cá mập của văn minh không những làm cho người Việt Nam ngu
độn bằng rượu cồn và thuốc phiện, lại còn thi hành một chính sách ngu dân
triệt để [19; 106]
“Lúc đó có một nghìn năm trăm ty rượu và thuốc phiện cho một nghìn
làng trong khi chỉ có mười trường học cũng cho bấy nhiêu làng. [18; 38]
Người viết tiếp:
“Ở Đông Dương nhân dân đòi trường học vì số trường học thiếu một
cách nhơ nhuốc. Mỗi năm cứ đến ngày khai trường, cha mẹ phải đến gõ mọi
cửa, xin xỏ mọi kẻ có thế lực, có khi chịu trả gấp đôi tiền ăn học, thế mà cũng
14
ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi. Có học lịch sử nước Pháp đi nữa thì
người ta không hề đả động đến chương nói về cách mạng. Người ta cấm học
sinh đọc tác phẩm của Huy-gô, Rút-xô, Mông-tét-xki-ơ. Nói tóm lại trường
học thật là tương xứng với chế độ đã khai sinh ra nó” [18; 424, 425].
Chính vì thực dân sợ những tư tưởng tiến bộ, nên chúng không muốn
cho thanh niên Việt Nam đi du học ở nước ngoài, kể cả ở nước Pháp:
“Người Việt Nam nào có ý định đi du học nước ngoài thì sẽ bị coi như
một người nổi loạn, một người chống Pháp, có tội lớn, người ta hãm hại
người đó và cả gia đình họ. An-be Xa-rô, nguyên toàn quyền Đông Dương,
nay là Bộ trưởng bộ thuộc địa, đã nói rõ chính sách bao vây tinh thần ấy
bằng những lời lẽ sau đây: “Để cho lớp thượng lưu trí thức được đào tạo ở
nước ngoài thoát khỏi vòng kiêm tỏa của chúng ta, chịu ảnh hưởng văn hóa
và chính trị của nước khác, thì thật là một điều nguy hiểm vô cùng. Những
người trí thức đó trở về nước đã đưa hết tài năng của họ để tuyên truyền vận
động chống lại chúng ta là những người bảo hộ đã ngăn cấm không cho họ
học tập” [19; 426].
Để hạn chế việc thanh niên nước ta sang Pháp học tập, bọn thực dân đã
đặt ra nhiều điều lệ khe khắt, như điều 500b trong nghị đinh ngày 20-6-1921
về học chính ở Đông Dương mà Hồ Chí Minh đã vạch ra trong “Bản án chế
độ thực dân Pháp”:
“Người bản xứ nào vô luận là dân thuộc địa hay dân bảo hộ, muốn
sang chính quốc tiếp tục học tập đều phải được ông toàn quyền cho phép”
[19; 108].
Mà được phép của toàn quyền có phải là một việc dễ dàng đâu.
“Nếu vì trường hợp đặc biệt, một thanh niên nào được phép sang học ở
bên Pháp thì chính phủ Pháp cố đưa du học sinh Việt Nam vào học ở những
phái, thong ngôn và viên chức nhỏ đủ số cần thiết để phục vụ cho bọn xâm
16
lược – người ta đã gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm
hơn cả sự dốt nát nữa” [18; 424].
Như vậy qua những lời lẽ sắc bén và dẫn chứng cụ thể, Hồ Chí Minh đã
bóc trần được phần nào bản chất tội ác của thực dân Pháp và cho chúng ta
thấy được ý đồ thâm độc của chúng. Để rồi kết luận được rút ra là, chính
quyền Pháp muốn:
“Làm cho dân ngu để trị, đó là chính sách mà các nhà cầm quyền ở các
thuộc địa của chúng ta ưa dùng nhất” [19; 108].
1.1.2 Thực trạng giáo dục Việt Nam sau Cách Mạng Tháng Tám
Cách Mạng Tháng Tám là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong lịch sử
cách mạng Việt Nam. Từ thân phận bị áp bức, nô lệ, nhân dân Việt nam vụt
đứng lên làm chủ cuộc đời mình và xây dựng một xã hội của mình.
Sau ngày Cách mạng thành công, chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó có nền giáo dục hết sức lạc hậu với
90% dân số mù chữ, huyện lớn mới có trường tiểu học, vài tỉnh mới có một
trường trung học cơ sở, cả nước có 5 năm trường trung học phổ thông toàn
cấp và cả Đông Dương mới có một trường đại học với vài trăm sinh viên. Do
vậy, bên cạnh việc tiến hành chiến dịch chống nạn mù chữ, Chính phủ Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa phải bắt tay ngay vào việc xây dựng nền giáo dục
mới của một nước độc lập và dân chủ.
Ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là: đại chúng, dân tộc và
khoa học, theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ. Tính dân tộc,
có ý nghĩa là nội dung giáo dục phải giáo dục lịch sử dân tộc, giáo dục tinh
thần yêu dân tộc, tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc. Đó là cơ sở của toàn bộ
nội dung giáo dục, thực tế dân tộc là cơ bản của nền giáo dục nhằm đào tạo
do chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức và hệ thống giáo dục cũ
được hồi phục ở vùng tạm bị chiếm, do chính quyền thực dân và Bảo Đại
quản lý.
18
Trong vùng tự do, từ ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (1912-1946), hoạt động của ngành giáo dục đã có những biến động to lớn, sâu
sắc để thích ứng với cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong chỉ thị Toàn dân
kháng chiến, Trung ương Đảng chỉ rõ kháng chiến phải toàn diện, trong đó
văn hóa, giáo dục là một lĩnh vực quan trọng. Trong tác phẩm “Kháng chiến
nhất định thắng lợi”, Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng đã nhấn mạnh rằng
kháng chiến về mặt văn hoá có hai nhiệm vụ: một là đánh đổ văn hoá ngu
dân, nô dịch, xâm lược của thực dân Pháp; hai là xây dựng nền văn hoá mới
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên ba nguyên tắc: dân tộc - khoa học
- đại chúng, coi "văn hoá, giáo dục cũng là một mặt trận đấu tranh của nhân
dân ta".
Tháng 4 - 1947, Hội nghị cán bộ Trung ương Đảng xác định chú
trọng mở mang giáo dục kháng chiến, chương trình học phải thiết thực, nhằm
mục đích đào tạo nhân tài, cần dùng cho kháng chiến trước hết, về tất cả các
ngành y tế, canh nông, quân giới cũng như thương mại, ngoại giao. Học sinh
phải vừa học vừa tham gia sản xuất để tự túc một phần nào, tiếp tục phát triển
bình dân học vụ; chú ý mở trường ở các vùng quốc dân thiểu số.
Từ giữa năm 1947, phần lớn các trường học sau khi sơ tán đến các
vùng tự do, vùng căn cứ du kích, đã đi vào hoạt động. Các trường cao đẳng
kinh tế, kỹ thuật ở Huế chủ yếu chuyển ra vùng Hà Tĩnh, Nghệ An, các
trường ở Hà Nội, ở Liên khu III một số lên Việt Bắc, một số vào Thanh
Hóa… Nhằm đưa sự nghiệp giáo dục đi vào ổn định và có bước phát triển
mới trong hoàn cảnh kháng chiến, tháng 1-1948, Trung ương Đảng đã họp hội
nghị giáo giới chấn chỉnh và mở mang việc học trong thời chiến, định chương
quan, chủ quan, nhiều giáo viên, học sinh phải ở lại vùng địch kiểm soát và
dạy, học theo chương trình, nội dung cũ. Đến đầu năm 1948, với âm mưu "lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", thực dân
Pháp đã ra sức bình định vùng tạm bị chiếm, gây nhiều khó khăn cho việc học
20
tập của nhân dân, nhất là vùng thôn quê, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu
số. Tuy vậy, sau khi thực dân Pháp lập lại chính quyền tay sai, “trao trả độc
lập” cho Việt Nam do chính quyền Bảo Đại làm đại diện, hệ thống trường lớp
các cấp học được củng cố, tái giảng. Hệ thống trường, lớp tiểu học được tái
lập, duy trì ở nhiều địa phương. Một số tỉnh có trường trung học. Các đô thị
lớn như Hà Nội, Nam Định, Huế, Sài Gòn có một số trường đại học, cao
đẳng, trung học. Năm 1949, Hà Nội có Trường Albert Sarraut, cho trẻ con
Pháp và một số ít trẻ con Việt Nam; Trường Chu Văn An cho học sinh Việt
Nam, trường nữ học Trưng Vương cho nữ học sinh, và 4-5 trường tiểu học..
Trường tư thục có Trí Tri, Dũng Lạc, Hồng Bàng, Thăng Long, có hai ban
Tiểu học và Trung học. Có 2 ngành học: Sơ học cấp tốc, 9 tháng cho học sinh
từ 5 đến 18 tuổi và Tráng niên giáo dục, 4 tháng cho người trên 18 tuổi. Ngoài
ra còn có Trường Đại học Y khoa… Nam Định có 3 trường ở thành phố:
Trường công (Ecole Muncipale), 450 học sinh; Lê Bảo Tịnh, 69 học sinh;
Sacré Coeur, 200 học sinh. Huế do Nha học chính và văn hóa Trung phần
quản lý, có trường Khải Định, Đồng Khánh. Tây Nguyên do Phòng học vụ,
sau đổi thành Ty Thanh tra tiểu học kiêm bình dân học vụ Tây Nguyên quản
lý. Đắc Lắc, Gia Lai mỗi tỉnh có 1 trường tiểu học, Kontum có 3 trường ở
Komplong, Daglây, Cheo Reo. Các trường đại học, cao đẳng chủ yếu dành
cho con em tầng lớp trên và những người khá giả. Đại đa số con em nhân dân
lao động không được đi học, nếu có thì cũng chỉ hết bậc Tiểu học. Những
người đến trường đều phải tiếp thu nền giáo dục thực dân, phục vụ cho cuộc
Ngày 9-1-1950 trở thành ngày học sinh, sinh viên toàn quốc.
Tóm lại, sau Cách Mạng Tháng Tám, do những biến động của lịch
sử, chính trị mà giáo dục Việt Nam vẫn bị phân chia, chưa có sự thống nhất
về mục tiêu, nội dung và phương pháp. Tuy vậy, những cố gắng của chính
phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa về lĩnh vực giáo dục lúc bấy giờ cũng góp
22
phần tạo nên nền tảng cho sự ra đời của những tư tưởng giáo dục của Hồ Chí
Minh sau này.
1.2 Tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục
1.2.1 Truyền thống giáo dục Việt Nam
Trước khi ra nước ngoài tiếp xúc với văn minh thế giới, Hồ Chí Minh đã
được quê hương và gia đình trang bị cho một vốn văn hóa dân tộc khá vững
vàng, tạo cho Người một bản lĩnh để tiếp thu có chọn lọc những giá trị chân
chính của văn hóa nhân loại, để “hòa mà không đồng”.
Do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo đối với Việt Nam mà nền giáo
dục truyền thống cũng mang đậm màu sắc nho học.
Giáo dục thời này được chia làm hai loại: giáo dục để đào tạo người ra
làm quan và dạy học trong làng xã: dạy nhân, lễ, nghĩa. Tư tưởng giáo dục
Nho học này đã thấm đẫm vào bao thế hệ Nho sĩ ở Việt Nam thời bấy giờ.
Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được học, được dạy dỗ trực tiếp từ ông cha của
mình là cụ Hoàng Đường và ông Nguyễn Sinh Sắc, những nhà Nho nổi tiếng
của đất Nam Đàn, Nghệ Tĩnh thời đó. Hồ Chí Minh được học chữ Hán và
tiếng tăm đồn đại về sự thông minh trác việt đã lan tỏa khắp vùng Nghệ Tĩnh
nói chung. Không những vậy, Người còn được người cha Nguyễn Sinh Sắc,
trong khi dạy chữ đã chú trọng giáo dục lòng thương người, thương nước gắn
với thương nòi, yêu nhân dân lao động. Cho nên một điểm nổi bật xuyên suốt
Như vậy có thể nói Hồ Chí Minh do những ảnh hưởng nhất định từ nền
giáo dục truyền thống và những tư tưởng duy tân thời bấy giờ nên đã bắt đầu
có những nhận thức đổi mới, tiến bộ về công tác giáo dục, tạo tiền đề cho việc
hình thành những tư tưởng của người về nền văn hóa giáo dục mới sau này.
1.2.2 Tư tưởng giáo dục Phương Đông – Phương Tây cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX
* Tư tưởng giáo dục Phương Đông
24