TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
“LẤY DÂN LÀM GỐC” VÀO XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
HÀ NỘI - 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
“LẤY DÂN LÀM GỐC” VÀO XÂY DỰNG
KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “LẤY DÂN LÀM GỐC”.. 5
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh ........... 5
1.2. Nội dung quan điểm “lấy dân làm gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh ... 16
1.3. Giá trị của quan điểm “lấy dân làm gốc” ....................................................... 29
Chƣơng 2. XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM “LẤY DÂN
LÀM GỐC” CỦA HỒ CHÍ MINH ..................................................................... 31
2.1. Thực trạng của quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta
hiện nay .......................................................................................................................... 31
2.2. Nguyên nhân của thực trạng ............................................................................. 45
2.3. Một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả
của khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay ................................................ 52
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 68
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh vị lãnh tụ thiên tài, người cha vĩ đại của dân tộc Việt
Nam, danh nhân văn hóa thế giới, là tinh hoa của non sông đất nước Việt
Nam. Người đã để lại cho Đảng, nhân dân ta, nhân loại một di sản tinh thần
vô giá, một hệ thống lý luận về nhiều mặt. Tư tưởng của Người là ngọn đèn
soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, không chỉ có giá trị lý luận, thực
tiễn đối với các giai đoạn cách mạng đã qua mà còn có giá trị trường tồn
đối với hành trình đi lên của dân tộc. Trong đó có tư tưởng “lấy dân làm
gốc”- là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình hoạt động cách mạng của Hồ
Chí Minh và đã được Đảng ta vận dụng và trở thành bài học xuyên suốt
trình nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Phong, 2010, Tư tưởng chính trị “dân là
gốc” trong lịch sử dân tộc và sư vận dụng Đảng ta”, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội; Trần Huy Liệu, Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò
của quần chúng nhân dân đến tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012; Hà Văn Huy, Tư tưởng “lấy dân làm
gốc” của Hồ Chí Minh đối với việc phát huy vai trò của quần chúng nhân
dân, Nxb Quân đội nhân dân, 2013.
Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã có nhiều bài viết,
công trình nghiên cứu về quan điểm “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh. Tuy
nhiên, các tác giả vẫn chưa đi sâu vào việc nghiên cứu hoặc mới chỉ tập trung
nghiên cứu từng khía cạnh, nội dung trong tư tưởng “lấy dân làm gốc” của
Người khi vận dụng vào việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta
hiện nay. Để từ đó, đưa ra những định hướng, giải pháp cho việc nâng cao
chất lượng, hiệu quả của khối đại đoàn kết dân tộc.
Vì vậy trên cơ sở mà các nhà khoa học đã nghiên cứu đồng thời cũng là
một sinh viên chuyên ngành tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã lựa chọn đề tài:
2
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc” vào việc xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay”. Tác giả hy vọng sẽ đóng góp
một phần nhỏ bé của mình vào công cuộc tìm hiểu tưởng Hồ Chí Minh về
“lấy dân làm gốc” vào việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện
nay, đặc biệt là khi nước ta đã hội nhập vào WTO.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ nội dung về tư tưởng “lấy dân
làm gốc” của Hồ Chí Minh; đánh giá thực trạng của việc xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay. Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng
gồm 2 chương 6 tiết.
4
Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “LẤY DÂN LÀM GỐC”
1.1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện và sâu
sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá
của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta giành thắng lợi” [4; tr.88].
Bao trùm toàn bộ tư tưởng của Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương
dân với mong muốn là nước nhà được độc lập, nhân dân được tự do, ấm no,
hạnh phúc. Đó chính là những nội dung quan trọng trong tư tưởng “lấy dân
làm gốc”. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh xuất phát từ thực tiễn
lịch sử của cách mạng Việt Nam, cũng như các tư tưởng khác, nó không phải
tự nhiên mà có, không phải hình thành trong ngày một, ngày hai mà đó là một
quá trình lâu dài tìm tòi, xác lập và có sự kế thừa, phát triển, hoàn thiện các tư
tưởng trước đó, gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng phong phú của
Người. Tư tưởng đó cũng là sự kế thừa tư tưởng lấy dân làm gốc trong truyền
thống lịch sử của dân tộc, tiếp thu tư tưởng “Dĩ dân vi bản” của Nho giáo, tư
tưởng Tam dân của Tôn Trung Sơn, đặc biệt là tiếp thu quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân
trong lịch sử cộng với quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Người đã
góp phần hình thành nên tư tưởng của Hồ Chí Minh về “lấy dân làm gốc”.
1.1.1 Kế thừa tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong truyền thống dân tộc
Như vậy, tư tưởng “lấy dân làm gốc” ra đời trên cơ sở tổng kết kinh
nghiệm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nó mang tính quy luật và có ý
nghĩa phổ biến cho nhiều giai đoạn lịch sử còn có giai cấp và đấu tranh giai
cấp. Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển các tư tưởng tư tưởng này lên một
6
tầm cao mới, đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử Tư tưởng cơ bản của Hồ Chí
Minh về vấn đề này và trở thành quan điểm cơ bản trong đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Thứ hai, ảnh hưởng từ tư tưởng “thân dân” của cụ Nguyễn Sinh Sắc.
Tiếp sau truyền thống dân tộc, truyền thống gia đình cũng là một nhân
tố quan trọng giúp cho Hồ Chí Minh sớm hình thành tư tưởng coi trọng dân,
hiểu dân, đánh giá cao vai trò của dân. Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân
sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh, là một người có tư tưởng yêu nước, thương
dân. Với quan niệm học để làm người chứ không phải học để làm quan, vả
lại trong thời kỳ đất nước ta bị thực dân pháp thống trị, làm quan là làm tay
sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào nên sau khi thi đỗ Phó bảng (năm
1901), cụ đã lần lữa ra làm quan nhiều năm. Mãi đến năm 1906, cụ được bổ
nhiệm làm thừa biên Bộ Lễ, phụ trách “công việc trường ấp”. Tiếp xúc với
học trò, cụ thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”,
nghĩa là: Làm quan là làm nô lệ trong đám nô lệ, lại càng nô lệ hơn. Sự tức
chí đó khiến cụ bị triều đình cho là “bất phùng thời”, phải đi khỏi kinh đô để
vào làm tri huyện Bình Khê (Bình Định). Ngồi ghế tri huyện nên cụ thường
giao du với các nhà Nho yêu nước ở địa phương hơn là có mặt ở công
đường, tạo điều kiện cho những nông dân thiếu tiền thuế, những người tham
gia phong trào chống thuế đang bị giam cầm trốn thoát. Cụ rất oán ghét bọn
cường hào bức hiếp nông dân và đứng về phía nông dân chống lại chúng. Tư
tưởng yêu nước, thương dân của người cha đã ảnh hưởng sâu sắc đến thời
tưởng “lấy dân làm gốc” của Khổng - Mạnh.
Đó là thái độ quý trọng dân, thấy được sức mạnh to lớn của dân. Về
điều này được thể thể hiện trong câu nói của Mạnh Tử “dân vi quý, xã tắc thứ
chi, quân vi khinh” (dân là quý, sau mới đến xã tắc, vua thì xem nhẹ) đã
chứng tỏ Nho giáo đề cao vai trò của dân, nhận thấy sức mạnh của dân. Tuân
Tử cũng có câu nói nổi tiếng: “Quân giả chu giả, thứ dân giả thủy giả, thủy
8
tắc tại chu, thủy tắc phúc chu” ( vua là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền,
nước cũng lật thuyền). Từ đó Nho gia thấy được một điểm hết sức quan trọng
là: Dân là gốc nước, gốc nước, nước yên (Kinh Thi) hoặc đường lối được dân
chúng thì được nước, mất dân chúng thì mất nước. [ 18; tr.119 ].
Nho giáo quan tâm đến đời sống của dân và yêu cầu các bậc trị quốc
phải đảm bảo cho người dân có đời sống tối thiểu của họ “ngẩng lên để đủ
phụng dưỡng cha mẹ, cúi xuống để đủ nuôi sống vợ con” [ 18; tr.61]. Muốn
vậy, người dân phải có thu nhập để ổn định cuộc sống. Nếu như nét mặt của
người dân có sắc đói là trách nhiệm của kẻ cầm quyền.
Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực,
phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng.
Hai là, kế thừa tư tưởng “Tam Dân” của Tôn Trung Sơn.
Là người có tổ chức, lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (Trung Quốc) năm
1911,Tôn Trung Sơn đã sáng lập ra Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Ông đã xác
lập một hệ tư tưởng goi là chủ nghĩa Tam Dân. Điểm cốt lõi trong tư tưởng
Tam dân của Tôn Trung Sơn bao gồm: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân
sinh hạnh phúc, và tiến hành chủ nghĩa đó trong hiện thực. Là người lãnh đạo
cuộc đấu tranh chống lại các thế lực đế quốc và bọn quân phiệt thu giang sơn
về một mối, ông chủ trương tập hợp trên 400 dòng họ trong cả nước không
phân biệt giai cấp, chủ trương hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc để tạo
lụa, vải vóc. Ông cũng chú ý đến đời sống vật chất miếng cơm, manh áo của
người dân, theo ông muốn giải quyết vấn đề nhân sinh phải tiến hành cuộc
cách mạng kinh tế - xã hội.
Lý tưởng của chủ nghĩa nhân sinh là một thế giới “đại đồng”. Tạo cơ sỏ
để khơi dậy sự nhiệt tình cách mạng của quần chúng tạo động lực cho sự phấn
đấu của họ. Nội dung của xã hội lý tưởng ấy đã được Tôn Trung Sơn phác
họa những nét đặc trưng về đời sống, về mức sống và quyền sống: mong
muốn nhân dân cả nước đều bình yên, sung sướng không bị khổ sở do tài sản
10
phân phối không hợp lý, thiếu công bằng. Ý tưởng của chủ nghĩa Tam dân là:
“Dân hiểu, dân trị, dân hưởng” là nhân dân cộng hữu quốc gia, công quản
chính trị, cộng hưởng lợi ích. Là một xã hội tốt đẹp mà người Trung Quốc
hằng mơ ước, nhân loại hằng mơ ước.
Hồ Chí Minh đã kế thừa những mặt tích cực của chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Trung Sơn là dân tộc-độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc
đã được Hồ Chí Minh rút gọn trong quốc hiệu của Việt Nam “Độc lập - tự do
- hạnh phúc”. Trong tư tưởng và phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh
đều thấy có dấu ấn sâu đậm của chủ nghĩa Tam dân kết hợp chặt chẽ với chủ
nghĩa Mác - Lênin. Cũng như Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh muốn xây dựng
một xã hội: ai cũng được tự do, ai cũng có cơm ăn, có áo mặc, đươc học hành,
một xã hội mà người dân làm chủ.
Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta thấy trong tư tưởng và
phương pháp cách mạng của Người đều có ấn dấu ấn sâu đậm của chủ nghĩa
Tam dân kết hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã vượt qua được
những hạn chế trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn, Người đã tìm thấy được
sức mạnh to lớn của nhân dân lao động đối với sự nghiệp cách mạng trong khi
Tôn Trung Sơn mới chỉ biết thông cảm với đời sống đau khổ của họ mà
mà quần chúng nhân dân bao gồm những thành phần, tầng lớp và các giai cấp
xã hội khác nhau.
Như vậy, quần chúng nhân dân là một bộ phận có chung lợi ích căn
bản, bao gồm những thành phần, những tần lớp và những giai cấp, liên kết lại
thành tập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức, đảng phái nhằm giải
quyết những vấn đề kinh tế - chính trị - xã hội của một thời đại nhất định.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin khái niệm quần chúng được xác định bởi
các nội dung:
Một là, những người tiến hành sản xuất ra của cải vật chất và các giá trị
tinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân.
12
Hai là, những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc
lột, đối kháng với nhân dân.
Ba là, những giai cấp, tầng lớp xã hội thúc đảy sự tiến bộ xã hội.
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch
sử, vận động biến đổi theo sự phát triển của lịch sử. Khi nói về vai trò của
quần chúng nhân dân, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định: Quần chúng
nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải
phóng xã hội, giải phóng con người chỉ được chứng minh thông sự tiếp thu và
hoạt động của quần chúng nhân dân. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện được
vai trò lãnh đạo của một cá nhân hay một tổ chức nhằm thực hiện mục đích và
lợi ích của mình. Căn cứ vào điều kiện lịch sử và nhiệm vụ đặt ra của mỗi thời
đại mà quần chúng nhân dân bao gồm những thành phần, tầng lớp và các giai
cấp xã hội khác nhau.
Như vậy, quần chúng nhân dân là một bộ phận có chung lợi ích căn
bản, bao gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết
Trinh… nhưng các cuộc khởi nghĩa đó cuối cùng cũng đi đến thất bại vì thiếu
một đường lối cứu nước đúng đắn. Điều đó đã thôi thúc Người ra đi tìm con
đường cứu nước mới giải phóng cho dân tộc, quê hương.
Mặt khác, Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước,
từ nhỏ Người đã sớm tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của Nho giáo về “dân”,
“dĩ dân vi bản”. Lớn lên, Người lại tiếp thu nền văn hóa Tây học khi học tại
trường Quốc Học Huế, được tiếp cận với các khái niệm “tự do, dân chủ”… đã
góp phần hình thành ở Hồ Chí Minh những quan niệm mới mẻ về quần chúng
nhân dân. Người đã sớm nắm bắt được vai trò của quần chúng nhân dân trong
sự nghiệp cách mạng. Đặc biệt là sau khi Người tiếp xúc với ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - Lênin.
14
Lòng yêu nước thương dân ở Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất sớm,
xuất phát từ lòng yêu nước quê hương, sự cảm thông sâu sắc đối với những
người nghèo khổ. Sự cảm phục đối với các bậc tiền bối đã hy sinh đời riêng,
nghĩa cả cho sự nghiệp chung, là sự trân trọng, tự hào đối với truyền thống
lịch sử của dân tộc. Nhưng lòng yêu nước của Người không bó hẹp trong
khuôn khổ truyền thống, vượt qua được giới hạn “trung quân ái quốc”, vượt
qua được giới hạn yêu nước của các bậc cha anh tiến bộ theo trào lưu tư sản
đương thời. Chính trên cơ sở lòng yêu nước, thương dân vô hạn đó, Người dễ
dàng hòa đồng với những tầng lớp lao khổ, với phong trào đấu tranh của công
nhân, nông dân và các dân tộc bị áp bức ở nhiều nước, nhiều khu vực sống.
Cũng như lòng yêu nước của các bậc tiền bối, lòng yêu nước ở Hồ Chí
Minh gắn liền với ý thức trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc, với mong
muốn cứu nước, cứu dân kết hợp với ý chí, nghị lực, bản lĩnh vững vàng đã
hình thành quyết tâm cứu nước không gì lay chuyển được, trở thành “ham
muốn tuột bậc”, mục đích suốt đời của Người nhằm giải phóng dân tộc khỏi
tháng Mười Nga năm 1917.
Trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về “lấy dân làm
gốc”, các yếu tố trên đan xen nhau, tác động theo các chiều hướng khác nhau
và được tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh chọn lọc, kết hợp, vận
dụng ở những mức độ khác nhau. Qúa trình hình thành và phát triển tư tưởng
đó của Hồ Chí Minh là kết quả của sự tác động của những yếu tố chủ quan,
khách quan, năng động, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Vì vậy, tư tưởng “lấy dân
làm gốc” của Hồ Chí Minh vừa mang đậm nét văn hóa truyền thống, vừa
mang tính thời đại sâu sắc, vừa có tính nhân văn, nhân đạo vừa có tính khoa
học, vừa có giá trị lớn lao đối với nước ta trong từng giai đoạn của đất nước.
1.2. Nội dung quan điểm “lấy dân làm gốc” trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về “Dân”, “Nhân dân”
Vượt qua các quan niệm về “dân” trong khuôn khổ truyền thống, Hồ
Chí Minh đã có những quan niệm về “dân”, “nhân dân” hết sức mới mẻ và
16
sáng tạo. Trong tư tưởng của Người không có con người, nhân dân hàm ý mà
bao giờ Người cũng nói đến con người, nhân dân với tính lịch sử cụ thể. Tùy
theo từng thời điểm, gắn liền với từng thời kỳ cách mạng và quan niệm về
“dân”, “nhân dân” có nội dung khác nhau và được xem xét trong mối quan hệ
nhiều chiều.
Nhân dân trước hết là một cộng đồng người, mỗi cá nhân là thành viên
ở trong cộng đồng đó. Cá nhân sẽ không tồn tại được nếu không sống trong
cộng đồng, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng. Người thường sử dụng
cụm từ “con Lạc, cháu Hồng” để chỉ về người dân Việt Nam.
Trong những 20 năm, khái niệm “dân”, “nhân dân” của Hồ Chí Minh
hàm chứa trong đó có “người dân bản xứ”, “người bản xứ bị áp bức” [12;
tr.38], “người da vàng”, “người da đen”, “người lao động bản xứ”, “người bị
trừ gian bán nước, bọn phát xít, thực dân là những ác quỷ mà ta phải kiên
quyết đánh đổ, còn đối với rất cả những người khác ta phải kiên quyết yêu
quý, kính trọng, giúp đỡ” [4; tr.151]. Chữ “Dân” mà Người nói là “Dân ta”,
“dân là chủ”, “dân làm chủ”, là toàn dân Việt Nam không phân biệt trai gái,
giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc sống trên đất nước Việt Nam, chỉ trừ bọn tay sai
cho đế quốc, thực dân, bọn phản bội lợi ích của Tổ quốc, đi ngược với con
đường độc lập dân tộc và chủ ngĩa xã hội.
Về mối quan hệ dân - nước, Hồ Chí Minh đã có quan niệm hết sức tiến
bộ, vượt qua các tư tưởng về Dân đã có trong truyền thống. Đó không phải là
“con dân”, “thần dân”, “dân đen”, cũng không phải là “kẻ tiểu nhân” cũng
không phải là “dân bản” mà là “dân” với đầy đủ quyền và nghĩa vụ của nó, có
dân quyền, nhân quyền tức dân là chủ, dân chủ. Chính vì thế, Hồ Chí Minh
đặt nhân dân ở vị trí tối thượng “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân
dân” [18; tr.276]. Trong quan hệ chính trị, xã hội, Người xác định “địa vị cao
nhất là dân” [6; tr.515], “Mọi quyền hành và lực lượng đều có ở nơi dân” [15;
tr.689]. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm tiến bộ trong truyền thống dân
tộc Việt Nam, những tinh hoa văn hóa của nhân loại.
18
1.2.2 Vị trí, vai trò của nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về quần chúng
nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, trên cơ sở kế thừa
những mặt hạn chế và đưa ra những quan điểm đúng đắn, sáng tạo, mới mẻ về
vị trí, vai trò của “Dân”, “Nhân dân” điều đó được thể hiện là :
Một là, dân là quý nhất, quan trọng hơn hết. Người kế thừa tư tưởng của
Nho gia “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Trên cơ sở đó, Người đưa
ra quan niệm của mình về nhân dân “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân
dân, trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng của nhân dân. Trong xã
đất nước. Người nói: “Nhân dân có quyền làm chủ thì cũng có nghĩa vụ làm
tròn bổn phận của công dân, giữ đúng đạo đức của công dân” [17; tr.542].
Trong bài phát biểu với đoàn đại biểu nhân dân thủ đô Hà Nội (16/10/1954),
Hồ Chủ tịch nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là
đầy tớ của Dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính Phủ, làm
đúng các chính sách của Chính phủ, để Chính phủ làm tròn phận sự mà nhân
dân đã giao phó” [17; tr.368].
Tất nhiên, Hồ Chí Minh không coi “dân”, “nhân dân” là một khối đại
đồng nhất mà là một cộng đồng bao gồm nhiều dân tộc, giai cấp, tầng lớp có
lợi ích chung và lợi ích riêng, có vai trò và thái độ khác nhau đối với sự phát
triển của xã hội và cách mạng. Trong đó, công nhân, nông dân, trí thức là lực
lượng cách mạng to lớn nhất, là nền tảng, là “cốt” của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc. Điều này được thể hiện rõ trong các bài nói, bài viết của Người, trong
Chính cương, Điều lệ và trong các Văn kiện của Đảng do Người chỉ đạo xây
dựng nên. Như trong chính cương của Đảng Lao động Việt Nam ( 2/1951) đã
ghi rõ: “Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là chính quyền
dân chủ nhân dân, nghĩa là công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư
sản trí thức, tư sản dân tộc và các thân sĩ yêu nước tiến bộ; những tầng lớp
nhân dân ấy chuyên chính với đế quốc xâm lược và bọn phản quốc, cho nên
20