VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI
VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1. VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT DÂN TỘC TRÊN THẾ GIỚI HIỆN NAY.
Xung đột dân tộc là một khái niệm với nội hàm rộng, bao hàm cả xung
đột giữa các giai cấp, tầng lớp trong nội bộ dân tộc; cả xung đột giữa các tộc
người trong cùng một dân tộc và cả xung đột giữa các quốc gia dân tộc với
nhau. Xung đột dân tộc là một dạng cao của xung đột xã hội, nó diễn ra trên
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự,
tôn giáo và ý thức hệ… Hình thức các cuộc xung đột sắc tộc, dân tộc rất đa
dạng; như xung đột mâu thuẫn quyền lực chính trị giữa các phe phái; xung đột
về tranh chấp lãnh thổ, biên giới giữa các dân tộc; đối đầu, cạnh tranh quyết
liệt giữa các tôn giáo hoặc giữa các giáo phái; tranh chấp về quyền lợi kinh tế,
quản lý, khai thác tài nguyên; xung đột do phân biệt chủng tộc, đòi ly khai
thành lập nhà nước độc lập... Chính vì vậy nghiên cứu vấn đề xung đột dân
tộc có ý nghĩa quan trọng đối với việc ổn định và phát triển của mỗi quốc gia
dân tộc, cũng như đối với công cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa
bình, độc lập dân tộc, đân chủ và tiến bộ xã hội.
Bước sang thiên niên kỷ mới, thế giới đang đứng trước những vấn đề
hết sức phức tạp, trong đó xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới diễn ra khá
rộng khắp và đe dọa nghiêm trọng độc lập dân tộc, hòa bình, ổn định và an
ninh của nhiều quốc gia và các khu vực trên thế giới. Đánh giá tình hình thế
giới hiện nay, Đảng ta khẳng định: “Trong những năm tới, trên thế giới, hoà
bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn … nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu
tố bất trắc khó lường”(1)… “Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ
1
ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, tr.21.
1
2
hại hàng ngàn người dân vô tội và tạo sự bất ổn nghiêm trong ở khu vực Tây
Á… đó là những vấn đề phức tạp và nhạy cảm ở khu vực châu Á trước đây
cũng như hiện nay.
Ở châu Phi, các cuộc xung đột đẫm máu giữa các bộ tộc người Hu-tu
và người Tút-xi ở U-gan-đa, phong trào Hồi giáo cực đoan ở An-giê-ri, Xuđăng và cuộc chiến tranh giữa Ê-rơ-tê-ri-a và Ê-ti-ô-pi. Còn ở châu Mỹ và
châu Đại dương luôn xảy ra xung đột giữa người gốc Âu với thổ dân bản địa;
vấn đề phân biệt chủng tộc giữa người da đen với người da trắng ở Hoa-kỳ;
xung đột giữa cộng đồng người nói tiếng Pháp với người nói tiếng Anh ở Cana-đa… đã và đang tạo nên nhiều bất ổn cho các châu lục này.
Từ những sự kiện trên cho thấy rằng vấn đề dân tộc, sắc tộc thực sự là
vấn đề phức tạp, căng thẳng gây nên cho các quốc gia những hậu quả hết sức
nặng nề cả về kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội và môi trường; đe doạ hoà
bình, an ninh các khu vực và thế giới. Người ta tính rằng cho đến những năm
cuối của thế kỷ XX, lịch sử loài người đã từng phải hứng chịu khoảng 15.000
cuộc chiến tranh lớn nhỏ, làm khoảng 3 tỷ 650 triệu người chết. Theo bản báo
cáo: “Những cuộc xung đột vũ trang cuối thời kỳ chiến tranh lạnh 1989-1992”
của Viện nghiên cứu quốc tế về hòa bình ở Oslo (Na uy), số lượng các cuộc
chiến tranh nhỏ tăng lên tới 82 cuộc, liên quan ít nhất tới 64 quốc gia, đặc biệt
đẫm máu là ở châu Âu, nơi không có chiến sự kể từ 40 năm trước. Các cuộc
xung đột dân tộc năm 1992 làm chết 70.000 người và năm 1995 con số người
chết không dưới 100.000 người. Cũng theo thông tin của Viện này, năm 1989
có 36 cuộc, năm 1994 có 32 cuộc và năm 1995 có 30 cuộc xung đột xảy ra
trong 25 vùng trên thế giới. Theo một thống kê khác, chỉ trong vong 4 năm
sau chiến tranh lạnh (Tính đến tháng 10 - 1995), trên toàn thế giới có 38 cuộc
3
sức lợi dụng tình hình đó để bán vũ khí, thử nghiệm vũ khí mới, vừa để thực
thi áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, chống phá lực lượng cách mạng, tiến bộ,
lập chính phủ thân Mỹ như cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc, Cô-sô-vô, LiBăng… Đối với một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, chủ nghĩa đế quốc,
đứng đầu là đế quốc Mỹ coi vấn đề dân tộc là mũi tiến công chiến lược, bằng
chiến lược “Diễn biến hòa bình”, tìm mọi cách liên hệ và nuôi dưỡng những
phần tử cực đoan trong các nước XHCN, nhằm chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích
động ly khai, đòi “tự trị” để làm suy yếu, đi đến xóa bỏ hoàn toàn chế độ xã
hội chủ nghĩa trên thế giới.
Thứ ba: Do sự thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới.
Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã tác động lớn đến
vấn đề dân tộc. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thoái trào, lực
lượng dân chủ và tiến bộ trên thế giới mất đi chỗ dựa vững chắc. Các lực
lượng tiến bộ ở các dân tộc hoang mang, mất phương hướng chính trị, tình
đoàn kết quốc tế suy giảm, dẫn đến suy yếu. Đồng thời, các dân tộc thuộc thế
giới thứ ba gặp nhiều khó khăn hơn trước, họ thiếu đi sự giúp đỡ trực tiếp của
Liên Xô của hệ thống XHCN thế giới, thiếu đi trụ cột giữ vững hòa bình, an
ninh thế giới. Các trào lưu dân tộc chủ nghĩa thừa dịp bùng phát mạnh mẽ
khắp nơi.
Thứ tư: Do sai lầm trong giải quyết vấn đề dân tộc, sắc tộc của các
giai cấp cầm quyền.
Có thể nói, sự bùng nổ xung đột, nội chiến dân tộc có nguyên nhân lớn
từ các chính sách sai lầm của Đảng và nhà nước cầm quyền, điều đó đã được
thực tế chứng minh. Ở các quốc gia đa dân tộc giai cấp cầm quyền và nhà
nước đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong giải quyết mối quan hệ dân tộc
(tộc người), cũng như giải quyết các vấn đề quốc gia dân tộc, nhiều quốc gia,
5
thực hiện đồng hóa cưỡng bức, duy trì quan hệ bất bình đẳng dân tộc, phân
lại những hậu quả hết sức to lớn. Không những chỉ ở quốc gia đó, mà còn
ảnh hưởng lớn đến hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế. Trong vài thập kỷ
vừa qua, hàng trăm vạn người đã chết vì chiến tranh xung đột, hàng triệu
dân thường phải chạy tị nạn khắp nơi trong cảnh đói rét khốn cùng, hàng
chục vạn phụ nữ, trẻ em chết đói. Nhất là các cuộc xung đột ở châu Phi, Ban
căng, Áp-ga-ni-xtan, đông Timo, Xéc-bi-a, Cô-sô-vô… Xung đột và nội
chiến gây ra hậu quả nặng nề về kinh tế - xã hội, sự tàn phá các cơ sở kinh tế,
văn hóa, tiềm lực quốc gia bị suy kiệt. Các dân tộc anh em bị đẩy vào cảnh
huynh đệ tương tàn, thù hằn sâu sắc. Quan hệ tộc người, dân tộc bị rạn nứt,
gây hậu quả nghiêm trọng. Mặt khác xung đột dân tộc, sắc tộc phá vỡ sự đoàn
kết quốc tế, làm suy yếu lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, tạo
điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng kích động,
chia rẽ. Các nước đế quốc lợi dụng sự tương tàn của thời kỳ hậu chiến tranh ở
các nước, các khu vực để bòn rút tài nguyên, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu
mới. Nội chiến và xung đột dân tộc, sắc tộc còn để lại hậu quả nghiêm trọng
về môi trường trước mắt cũng như lâu dài. Hàng ngàn tấn hóa chất độc hại,
trăm ngàn tấn vũ khí trút xuống trái đất, điều đó không phải ngay một lúc có
thể khắc phục được, mà phải chi hàng chục tỷ đôla trong thời gian dài mới
giải quyết triệt để.
Tóm lại, còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ xung đột dân tộc, sắc tộc
còn hiện hữu, sự bất đồng về lợi ích và tư tưởng bá chủ, áp đặt giá trị của chủ
nghĩa đế quốc lên các dân tộc là những nguyên nhân sâu xa dẫn đến xung đột
và nội chiến. Xung đột dân tộc, sắc tộc để lại hậu quả to lớn cả về người và
của cho nhân loại. Sức tàn phá của nó nặng nề trên tất cả các lĩnh vực: Kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường. Vì vậy chỉ có đứng vững trên lập
trường GCCN, xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân lao động, vì sự
7
Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai. Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái,
Sán dìu. Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau,
song do các tộc người sống xen kẽ với nhau nên một tộc người thường biết
tiếng của các tộc người khác có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với
nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các tộc người vẫn lưu giữ được bản
sắc văn hoá riêng của mình. Trong số 54 tộc người, có những tộc người vốn
sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thửa ban đầu, có những
tộc người từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Do vị trí nước ta giao lưu hết
sức thuận lợi nên nhiều tộc người ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên
nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống,
rồi định cư trên lãnh thổ nước ta. Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho
đến trước Cách mạng Tháng tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn
chuyển đến nước ta sau năm 1945, đây là những đợt di cư lẻ tẻ, do nhiều
nguyên do khác nhau. Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các
tộc người rất không đều nhau, có tộc người có số dân trên một triệu người
như Tày, Thái... nhưng cũng có tộc người chỉ có vài trăm người như Pu-Péo,
Rơ-măm, Brâu... Trong đó, tộc người Kinh là tộc người đa số, chiếm tỷ lệ lớn
nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn
kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước
và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng
đồng dân tộc Việt Nam.
* Quan hệ dân tộc ở Việt Nam:
9
Việt Nam, với đặc thù là một quốc gia đa tộc người. Quá trình phát
triển cùng với các tộc người bản địa sinh sống làm ăn, thì một số tộc người từ
các vùng khác di cư đến và định cư ở Việt Nam, cùng với nhiều lý do khác
cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân
tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước. Còn các tài
liệu lịch sử cũng cho thấy, người Việt, người Mường là con cháu của người
Lạc Việt, là chủ nhân của nền văn hoá Đông Sơn. Theo nhiều nhà nghiên
cứu, việc tách nhóm Việt - Mường thành các dân tộc là một quá trình lâu
dài, bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên kỷ II sau công nguyên.
Người Tày, Thái, Nùng là những bộ phận của người Tày, Thái cổ, trong quá
trình lịch sử đã tách thành các dân tộc Tày, Thái, Nùng. Người H'mông, Dao
xưa kia có cùng nguồn gốc, sau tách thành các dân tộc H'mông, Dao và Pà
Thẻn. Cũng có những dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử như các dân
tộc La Hủ, Lô Lô, Vân Kiều, Sán Dìu... Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch
sử, có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi gắn bó với
nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác
nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con
trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc nước ta luôn kề vai
sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Mặt khác, nước ta ở khu
vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt,
hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một
nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết
nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ
thống thuỷ lợi (mương, phai), đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất.
Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong
lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn
đạo đức. Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính
11
toàn cầu, càng đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung lòng hợp sức
phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như khắc phục hậu quả do bão lụt, hạn
yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các tộc người thiểu số cư trú chủ
yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số tộc người như Khơ me, Hoa,
một số ít vùng Chăm sống ở đồng bằng. Các tộc người thiểu số có sự tập
trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà
xen kẽ với các tộc người khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản
mường. Cách đây chưa lâu (khoảng bốn, năm chục năm), Tây Nguyên nói
chung, Đắc Lắc nói riêng, hầu hết cư dân vẫn là người bản địa, mỗi tộc người
đều có khu vực cư trú riêng, ranh giới giữa các tộc người, giữa các bản làng
còn rõ ràng thì nay tình hình gần đây đã khác xa và xu hướng này còn tiếp tục
gia tăng. Hiện nay tộc người Kinh cư trú ở Đắc Lắc chiếm tỷ lệ khá lớn; cùng
với người Kinh, các tộc người thiểu số miền Bắc gần đây cũng di chuyển vào
khu vực này ( kể cả di chuyển theo kế hoạch và không kế hoạch) với số lượng
khá lớn. Tới nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một tộc
người cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 tộc người cư trú như Lai Châu, Lào
Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm đồng... Phần lớn các huyện có từ
5 tộc người trở lên cư trú. Nhiều xã, bản có tới 3-4 tộc người cùng sinh sống.
Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các tộc người ở nước ta, tạo điều kiện
để tăng cường hiểu biết nhau, hoà hợp và xích lại gần nhau giữa các tộc
người. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các tộc người chủ yếu dẫn tới
sự giao lưu kinh tế - văn hoá cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Do sống
gần nhau, việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các tộc người khác nhau
ngày càng phổ biến, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hoà hợp giữa các dân
tộc anh em. Cùng với đó thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục của Đảng,
Nhà nước làm cho các tộc người ngày càng hiểu nhau hơn, thông cảm nhau
13
hơn, xóa đi những tự ti mặc cảm hay những hiềm khích có nguyên nhân từ
quá khứ, để cùng đoàn kết làm ăn, sinh sống và xây dựng xã hội mới.
đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ cùng nhau thực hiện thắng
lợi sự nghiệp CNH,HĐH đất nước xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
XHCN”(3). Để thực hiện tốt quan điểm của Đảng, những năm tới cần tập trung
giải quyết tốt một số vấn đề cơ bản sau:
- Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng
nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các tộc người.
- Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng
sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo, làm tốt công tác định canh, định cư và
xây dựng vùng kinh tế mới; gắn phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc
phòng - an ninh.
- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu
trong các dân tộc thiểu số.
- Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức
người dân tộc thiểu số.
- Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa yêu nước,
đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế cho đồng bào dân tộc.
- Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc;
nghiêm cấm việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động
Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr
121.
3
15
trái với pháp luật và trái với chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân
dân, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.