Đạo đức công chức và vấn đề xây dựng đạo đức công chức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Pdf 22

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Luận án
có trích dẫn, tham khảo nội dung của một số tài liệu tham khảo và kết quả
nghiên cứu là trung thực.
Tác giả luận án
Lê Thị Hằng
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN
6
1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức, đạo đức công vụ, công chức ở nước ta
6
1.2. Những công trình nghiên cứu về đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công
chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta
13
1.3. Những nghiên cứu liên quan đến phương hướng và giải pháp xây dựng đạo đức
công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
22
Kết luận chương1 29
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC VÀ XÂY
DỰNG ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
30
2.1. Khái niệm công chức, đạo đức công chức và xây dựng đạo đức công chức
30
2.2. Tính tất yếu của việc xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị
trường ở nước ta
49
2.3. Những chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo đức công chức Việt Nam

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch,
vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, một
trong những nhiệm vụ trước mắt được Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra là
“Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, có phẩm chất đạo đức tốt,
có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục
vụ nhân dân” [20, tr.143]. Đây được coi là vấn đề mấu chốt nhất, quan trọng
nhất, cốt lõi nhất của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay.
Bởi lẽ trong cấu trúc nhân cách con người nói chung, nhân cách của cán bộ,
công chức, viên chức nói riêng, đạo đức giữ vai trò hết sức quan trọng. Nó
được coi là nhân tố cốt lõi của nhân cách.
3
Thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hóa
nền hành chính, trong thời gian qua đạo đức công chức và vấn đề xây dựng
đạo đức công chức ở nước ta đã đạt được những thành quả nhất định, góp
phần quan trọng vào việc xây dựng nền hành chính nhà nước ngày càng
trong sạch, vững mạnh.
Công cuộc đổi mới đất nước mà Đảng và nhân dân ta thực hiện trong
những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn. Với việc vận hành nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tạo ra sự biến đổi
căn bản về mọi mặt trong đời sống kinh tế – xã hội. Sự biến đổi đời sống vật
chất tất nhiên sẽ dẫn đến sự biến đổi đời sống tinh thần của xã hội, trong đó
có đạo đức và đạo đức công chức của cán bộ trong các cơ quan Nhà nước.
Nếu đạo đức là thành tố cơ bản nhất của nhân cách thì đạo đức công
chức là thành tố cơ bản nhất của nhân cách cán bộ trong các cơ quan Nhà
nước, là đặc trưng cơ bản của đạo đức cách mạng. Đạo đức góp phần nâng
cao hiệu quả công tác, sự tín nhiệm của nhân dân đối với từng người, cũng
như đối với cả đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước, còn đạo đức công chức
góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào chế độ chính trị.

công chức ở nước ta hiện nay.
Thêm vào đó, qua một số vụ án tham nhũng lớn gần đây, khiến chúng
tôi càng trăn trở về vấn đề đạo đức của cán bộ công chức. Để thực hiện có
hiệu quả phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”, một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay là phải khắc phục tình
trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, xây dựng đạo đức, lối sống lành
mạnh trong Đảng viên, cán bộ và nhân dân, không thể để tình trạng vì lợi cá
5
nhân mà bất chấp cả danh dự và lương tâm nghề nghiệp. Cùng với việc xây
dựng một cơ chế thực thi pháp luật nghiêm minh, cũng cần phải ra sức khích
lệ tinh thần yêu mến nghề nghiệp và cương vị công tác của cán bộ công
chức, lấy lương tâm, trách nhiệm, danh dự nghề nghiệp mà làm việc hợp với
lẽ công bằng, phục vụ nhân dân và cống hiến cho xã hội.
Qua thực tiễn của công cuộc cải cách và đổi mới đất nước trong
những năm vừa qua, sự chuyển đổi của cơ chế kinh tế và sự hội nhập kinh tế
quốc tế cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đạo
đức công chức. Vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Đạo đức công chức và vấn đề
xây dựng đạo đức công chức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay” để nghiên cứu, với mong muốn góp thêm ý kiến xây dựng cơ sở
lý luận nhằm hoàn thiện nền đạo đức công chức Việt Nam nói riêng và đạo
đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nước nhà nước nói chung đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở giai đoạn mới.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về đạo đức công chức và
xây dựng đạo đức công chức, luận án phân tích thực trạng của đạo đức công
chức và xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam qua đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp xây dựng đạo
đức công chức trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ của luận án: Để thực hiện được mục đích trên, luận án

Luận án đã đánh giá được thực trạng đạo đức công chức và xây dựng
đạo đức công chức qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
7
hơn nữa hiệu quả xây dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng
dạy chuyên đề về đạo đức công vụ, công chức trong điều kiện kinh tế thị
trường.
Luận án cũng có ý nghĩa khuyến nghị cho việc xây dựng đạo đức
công chức ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
của luận án được chia làm 4 chương 10 tiết
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Những công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài sẽ
được tác giả luận án nghiên cứu, đề cập theo nhóm các vấn đề dưới đây.
1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức và đạo đức công vụ,
công chức ở nước ta
Trong những năm qua, cùng với công cuộc đổi mới phát triển kinh tế
– xã hội của đất nước, vấn đề văn hoá, tư tưởng, đạo đức, đạo đức công chức
cũng được quan tâm cả trên lĩnh vực lý luận lẫn thực tiễn.
Nguyễn Trọng Chuẩn (2001), Kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức,
Triết học, số 9, cho rằng: “Sự thiếu pháp luật, pháp luật không đồng bộ và
những kẽ hở của pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
8
chủ nghĩa vừa mới bước đầu được hình thành là một trong những nguyên

của Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự, Nhà xuất bản Quân đội nhân
dân, xuất bản năm 2006 đã nêu lên những chuẩn mực đạo đức truyền thống
và những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam hiện nay. Các tác giả
cho rằng chuẩn mực đạo đức hiện nay là sự kế thừa những giá trị của những
chuẩn mực đạo đức truyền thống, phát triển chúng lên cho phù hợp với điều
kiện kinh tế thị trường; thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Cuốn sách: ”Đạo đức trong nền công vụ” của Nhà xuất bản Lao động
– Xã hội, do Tô Tử Hạ, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo,… là những
người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực tổ chức và cán bộ của Việt Nam
biên soạn, trên cơ sở các bài viết và tham luận của các đại biểu từ các nước
ASEAN tham dự Hội thảo quốc tế: “Đạo đức trong nền công vụ” tại Hà Nội
vào ngày 30 và 31 tháng 5 năm 2001. Cuốn sách gồm hai phần, trong đó,
phần thứ nhất nói về đạo đức trong nền công vụ. Trong các bài viết, các tác
giả đã nêu một số thực trạng và biện pháp sáng kiến để nâng cao đạo đức
công chức ở đất nước của mình. Bài viết của đại biểu Việt Nam, nhấn mạnh
những nguyên tắc cơ bản xây dựng đạo đức công chức, qua đó nhằm khẳng
định rõ đặc điểm dân tộc và tính giai cấp của vấn đề đạo đức. Đặc biệt trong
tài liệu này các tác giả đã cố gắng đưa ra được quy định về chuẩn mực đạo
đức người công chức trong nền công vụ với năm nguyên tắc cơ bản: về
phẩm chất chính trị; về năng lực quản lý trình độ và khả năng chuyên môn;
về hiệu quả công tác.
Hoàng Quang Đạt (2008), Nghiên cứu khảo sát xây dựng nội dung,
chương trình môn học đạo đức công vụ, công chức, Đề tài khoa học cấp Bộ,
10
Học viện Hành chính. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của môn
học đạo đức công vụ, công chức. Từ đó phân tích thực tiễn đạo đức trong
nền công vụ ở nước ta hiện nay; đề xuất và xây dựng đề cương chi tiết môn
học đạo đức công vụ.
Đỗ Thị Ngọc Lan (2012) “Nghiên cứu so sánh quy định về đạo đức

thống quản lý đạo đức công vụ của Việt Nam, tác giả đã đề cập đến chín vấn
đề cơ bản là: “Xác định giá trị cốt lõi; Làm rõ các nguyên tắc; Cụ thể hóa
các quy tắc ứng xử; Tuyên truyền người dân về quyền của họ và nghĩa vụ
của công chức; Giáo dục đạo đức công vụ cho công chức; Nêu gương của
lãnh đạo; Công khai, minh bạch các thủ tục hành chính có liên quan đến
các cam kết WTO; Gắn kết đạo đức công vụ với phòng, chống tham nhũng;
Kiểm soát hay cam kết?”. Tuy nhiên, như đã xác định trong phần mở đầu,
các tác giả xem đây là một nghiên cứu bước đầu, một bản gợi ý cho các
nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực đạo đức công vụ.
Giáo trình:“Đạo đức công vụ” do PGS.TS. Nguyễn Đăng Thành,
PGS.TS. Võ Kim Sơn chủ biên gồm 7 chương: Chương 1, Một số vấn đề
chung về đạo đức, tác giả đã đưa ra những cách tiếp cận về đạo đức “Đạo
đức là một hình thái ý thức xã hội; đạo đức là một phương thức điều chỉnh
hành vi con người; đạo đức là một hệ thống các giá trị của cá nhân, xã hội
và tổ chức. Đạo đức liên quan đến cách ứng xử, quan hệ con người - con
người; con người - xã hội và cách ứng xử của từng con người cụ thể trong
một xã hội nhất định. Hay đạo đức là những hành động của cá nhân, tổ
chức đối với xã hội, môi trường được chấp nhận chung” và vai trò của đạo
đức trong cuộc sống con người, xã hội có ba yếu tố đó là: “Vai trò điều
chỉnh hành vi cá nhân, con người, giai cấp, xã hội; vai trò giáo dục; vai trò
12
tạo sự nhận thức”. Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến mối quan hệ giữa đạo
đức và các hình thái ý thức xã hội khác; Đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội;
đạo đức tổ chức. Chương 2, Đạo đức người làm việc cho nhà nước và tư
tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức. Tác giả cho rằng, đạo đức người
làm việc cho nhà nước phải trở thành tấm gương; chấp hành nghiêm chỉnh
pháp luật nhà nước; Chấp hành một cách tự giác những nét biểu hiện văn
hóa đạo đức xã hội được xã hội tôn trọng; khi thực thi công việc đòi hỏi phải
tận tâm phục vụ; Chịu sự điều chỉnh riêng bằng những luật công cho chính
họ và cũng do chính họ ban hành ra cả những chuẩn mực về đạo đức. Bên

chức khi tiến hành thực thi công vụ phải tuân thủ những chuẩn mực vừa
mang tính đạo đức xã hội; đạo đức nghề nghiệp với những chuẩn mực quy
định mang tính pháp luật của nhà nước trong các quan hệ giữa con người
với con người, giữa con người với xã hội; giữa con người với các tổ chức
trên cơ sở hướng đến lợi ích chung”. Sau đó tác giả nêu lên pháp luật về đạo
đức công vụ ở Việt Nam. Chương 7, Pháp luật về đạo đức của một số nước
lựa chọn. Đó là: Trung Quốc, Liên Bang Nga, Thái Lan, và đạo đức công vụ
của các nước thuộc khối OECD.
Luận án tiến sỹ “Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước
ta hiện nay”(2012) của tác giả Cao Minh Công. Từ góc độ triết học, luận án
phân tích vấn đề trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức cũng như mối quan
hệ biện chứng giữa chúng. Tác giả đưa ra khái niệm “đạo đức công chức là khái
niệm liên quan đến mức độ hài lòng của nhân dân về hành vi của công chức
trong thực thi công vụ, trên cơ sở các định chế pháp lý ở mỗi giai đoạn nhất
định của lịch sử. Đạo đức công chức là một bộ phận đạo đức của người công
chức bao gồm một hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi, xử sự trong
14
công vụ, nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự của công chức trong thực
thi công vụ”. Đồng thời làm rõ thực trạng trách nhiệm công vụ và đạo đức công
chức ở Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó, luận giải một số giải pháp nhằm
nâng cao trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay.
Trần Văn Phòng (2003), Tiêu chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh
đạo chính trị hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5. Tác giả cho rằng, cán
bộ lãnh đạo chính trị phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu về
đạo đức, có kiến thức về khoa học lãnh đạo quản lý, có lối sống lành mạnh,
phong cách công tác dân chủ: “Đạo đức cách mạng - về bản chất - luôn hàm
chứa nội dung chính trị, là đạo đức chính trị. Có đạo đức cách mạng, người
cán bộ, đảng viên nói chung, người cán bộ lãnh đạo chính trị nói riêng mới
phát huy được vai trò tiên phong của mình; giương cao được ngọn cờ lãnh
đạo của Đảng; có cơ sở để thuyết phục, giáo dục, tập hợp quần chúng thực

hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức công chức, chưa hệ thống hóa
được những chuẩn mực và những nguyên tắc đạo đức công chức được xây
dựng trong điều kiện hiện nay.
Thêm vào đó, qua kinh nghiệm và sáng kiến của một số nước trong
khu vực và trên thế giới đã giải quyết vấn đề đạo đức công vụ như Thái Lan,
Singapor, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản v.v là những nguồn tài liệu
thực tế quý báu để chúng tôi tham khảo.
1.2. Những công trình nghiên cứu về đạo đức công chức và xây
dựng đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta
Trong cuốn sách“Xây dựng đạo đức cán bộ, công chức Việt Nam
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế”,
do Bùi Thế Vĩnh chủ biên, Nxb Thống kê ấn hành năm 2003. Đề tài đã hệ
16
thống hoá những vấn đề cơ bản của đạo đức cán bộ công chức từ những chỉ
dẫn của C.Mác - Ph.Ănghen đến V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng
thời, bước đầu cũng đã đưa ra một số giải pháp xây dựng đạo đức cán bộ
công chức trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên công trình
nghiên cứu đó, phần lớn tập trung làm rõ về mặt phương pháp luận và mô tả
mang tính chất liệt kê thực trạng đạo đức cán bộ công chức vào những năm
2002 về trước, khi đó mức độ đầu tư nước ngoài và giao lưu kinh tế quốc tế
chưa mạnh mẽ như hiện nay, nhất là sau khi nước ta ra nhập WTO. Hoàn
cảnh mới làm nảy sinh nhiều vấn đề về đạo đức trong đội ngũ cán bộ công
chức gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, chẳng hạn, những cán bộ
công chức làm công tác đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện nghĩa vụ
không vô tư, không bảo đảm sự công bằng, bình đẳng nên để cho dân khiếu
kiện với quy mô ngày càng lớn. Hay, cán bộ công chức tiếp nhận đầu tư, giải
quyết mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của các chủ đầu tư nước
ngoài, có người làm thiệt hại cho đất nước để nhân dân ca thán.
Luận văn thạc sỹ “Đạo đức công vụ trong hoạt động quản lý nhà
nước ở Thành phố Hồ Chí Minh”(2010) của tác giả Phan Kiều Thanh

mục tiêu phát triển đất nước trong công cuộc đổi mới. Việt Nam đã là thành viên
của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực, đặc biệt khi trở thành thành viên của Tổ
chức thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007, cải cách hành chính là một yêu
cầu bắt buộc, mà trong đó xây dựng đạo đức công chức như là sự cam kết của
Việt Nam nhằm xây dựng nền hành chính với những chuẩn mực thống nhất, dân
chủ, bảo đảm tính công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và bình đẳng đối với tất cả
các thành viên của các tổ chức này trong quá trình toàn cầu hoá. Đồng thời tác
giả cũng đưa ra những thành tựu của xây dựng đạo đức công chức trong thực thi
18
công vụ tập trung qua một số khía cạnh cơ bản như sau: Cơ chế pháp lý đảm bảo
quyền chính trị của công dân được nhà nước chú trọng xây dựng, hoàn thiện
theo hướng phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân ngày càng đầy đủ
hơn, hiệu quả hơn.
Thể chế hành chính nhà nước trong mối quan hệ với nhân dân thời gian qua
đã góp phần khắc phục tính quan liêu, hách dịch của một bộ phận công chức,
từng bước hướng đến nền công vụ minh bạch, dân chủ, phục vụ nhân dân. Công
chức có đạo đức trong thực thi công vụ, thể hiện lương tâm, trách nhiệm của
mình vì lợi ích chung của xã hội, của nhân dân, ý thức rõ về cái cần phải làm và
mong muốn được làm vì nhân dân, phục vụ nhân dân một cách liêm chính nhất.
Đa số công chức dù làm việc ở những vị trí khác nhau đều có cống hiến nhất
định cho dân tộc, góp phần phục vụ nhân dân. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được điều chỉnh, sắp xếp tinh
gọn, hợp lý hơn. Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính đã điều chỉnh một bước
quan trọng về chức năng, nhiệm vụ. Có sự chuyển biến theo hướng tích cực về
chất lượng và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức có những bước chuyển biến rõ rệt. Thành tựu về cải cách tài
chính công và hiện đại hóa nền hành chính nhà nước. Qua đó tác giả cũng đề cập
đến nguyên nhân của những thành tựu trên: thứ nhất, có được những thành tựu
trên là do sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong tiến trình đổi mới; thứ
hai, là do quyết tâm chính trị và trách nhiệm của người đứng đầu ngày càng có

yêu cầu đạo đức xã hội sẽ tạo ra một hành lang an toàn giúp con người ứng
xử trong hoạt động nghề nghiệp, vừa đảm bảo hiệu quả hoạt động vừa hợp
đạo lý, vừa thực hiện được lợi ích cá nhân, vừa tăng cường lợi ích của xã
hội”. Đây cũng là những gợi mở để xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong
20
điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay: “Nó đòi hỏi sự quan tâm
không chỉ của các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể, mà của cả xã hội.
Đạo đức xã hội phát triển được là phụ thuộc khá nhiều vào sự phát triển
đạo đức nghề nghiệp”.
Cuốn sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa” của TS. Trịnh Duy Huy, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, 2009. Tác giả đã đưa ra các khái niệm kinh tế thị trường như sau:
“Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó các quá
trình kinh tế, quan hệ kinh tế được thực hiện thông qua thị trường, là nền
kinh tế vận động theo các quy luật của thị trường, trong đó quy luật giá trị
giữ vai trò chi phối và được biểu hiện bằng quan hệ cung - cầu trên thị
trường”. Theo tác giả tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức theo
hướng tích cực: “Thứ nhất, khi đã có thói quen tuân thủ các nguyên tắc, các
chuẩn mực đạo đức trong hoạt động kinh tế, con người có xu hướng mở
rộng các nguyên tắc, các chuẩn mực đó sang lĩnh vực hoạt động sống ngoài
kinh tế. Thứ hai, kinh tế thị trường phát triển sẽ làm hình thành nhiều hình
thức hoạt động nghề nghiệp, làm cho nhiều hoạt động trở thành hoạt động
nghề nghiệp. Hoạt động nghề nghiệp là hoạt động chủ yếu, phương thức
sống chủ yếu của con người. Thứ ba, sự phát triển của kinh tế thị trường mà
gắn liền với nó là tăng trưởng kinh tế và tiến bộ của công nghệ tạo ra nhiều
điều kiện cho sự phát triển con người”. Bên cạnh đó tác giả cũng đề cập đến
những tác động tiêu cực đến đạo đức vì:“ thứ nhất, chủ thể kinh tế thị trường
là con người kinh tế, mà con người kinh tế thì cứ có lợi kinh tế là nó hoạt
động. Thứ hai, trong điều kiện kinh tế thị trường, giá trị của con người kinh
tế được đo bằng hiệu quả của hoạt động kinh tế, hoạt động kinh doanh”. Tác

hiện nay. Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tác giả
cuốn sách đã phân tích vai trò, nội dung và yêu cầu về đạo đức của người
cán bộ lãnh đạo chính trị trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay, đồng thời tác giả khẳng định tầm quan trọng của đạo đức người cán bộ
lãnh đạo chính trị hiện nay: “Đạo đức cách mạng của người cán bộ lãnh đạo
chính trị có tác dụng giáo dục, nêu gương cho quần chúng noi theo trong
quá trình xây dựng lối sống mới, xây dựng các quan hệ xã hội mới và là
nhân tố tác động tích cực quyết định trực tiếp trong cuộc đấu tranh chống
tham nhũng và tệ nạn xã hội hiện nay; cũng như vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển xã hội, hoàn thiện con người, mà trước hết nó là mục tiêu và động
lực xây dựng, phát triển hoàn thiện đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trị”. Tác
giả nêu lên thực trạng đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay
dưới tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối
với đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị và một số phẩm chất đạo đức
cách mạng của cán bộ nảy sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
trường: “Lòng trung thành với lý tưởng của Đảng, tính trung thực, tinh thần
dân chủ, lòng yêu nước, tính nguyên tắc, lòng dũng cảm, lòng nhân ái, tính
khiêm tốn”. Mặt khác, tác giả cũng đã xác định một số phương hướng, giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chính trị ở Việt Nam đó là: “Nâng cao phẩm chất người cán bộ lãnh
đạo chính trị gắn liền với việc phát triển kinh tế - xã hội; tạo môi trường
cho sự hình thành và phát triển đạo đức; đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa
trong đảng và trong toàn xã hội; gắn liền với quá trình nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục đạo đức và phát huy tính tự giác, tự rèn luyện đạo đức
của đội ngũ này; đồng thời gắn liền với công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng,
23
đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng”. Tuy nhiên tác giả chưa
nghiên cứu vấn đề đạo đức của cán bộ, công chức, chưa đưa ra những chuẩn
mực đạo đức cần thiết của người cán bộ lãnh đạo chính trị là gì.
Đỗ Lan Hiền (2002), Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát

đức, lối sống; nền kinh tế thị trường tuân theo nguyên tắc trao đổi hàng hóa,
tôn trọng hiệu quả của sản xuất kinh doanh; do ảnh hưởng của tư tưởng coi
trọng lợi ích vật chất trực tiếp của cá nhân hơn nghĩa vụ và trách nhiệm đối
với tập thể, với quốc gia cho nên xuất hiện khuynh hướng coi nhẹ giáo dục
đạo đức truyền thống, coi nhẹ giáo dục và xây dựng đạo đức mới xã hội chủ
nghĩa; mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp nhận những yếu tố tích cực của
cuộc cách mạng khoa học công nghệ, lối sống hiện đại cũng là một điều
kiện làm biến đổi thang giá trị đạo đức của chúng ta; vừa giữ gìn những giá
trị truyền thống của dân tộc, vừa tiếp thu những giá trị mới mẻ của nhân
loại”. Phần ba, Xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý trong nền kinh tế
thị trường phương hướng và giải pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới,
tác giả đưa ra yêu cầu đối với cán bộ quản lý trong cơ chế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đó là: “Người cán bộ phải có tri thức; phải
kiên định lập trường tư tưởng chính trị, tin tưởng vào đường lối, tin vào
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho dù đường chúng ta đi còn lắm
chông gai, thách thức; người cán bộ quản lý không chỉ hiểu đúng nhiệm vụ
chính trị mà còn phải hiểu đúng người, nhất là người dưới quyền mình,
nhằm lôi cuốn, khuyến khích người lao động, khơi dậy tính tích cực và óc
sáng tạo của quần chúng, tất cả vì sự nghiệp chung”. Trên cơ sở đó tác giả
đề cấp đến phương hướng và giải pháp hình thành thang giá trị đạo đức mới:
“ Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải lấy con người làm
25

Trích đoạn Đạo đức công chức Xây dựng đạo đức công chức Sự biến đổi giá trị đạo đức công chức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Những nguyên tắc xây dựng đạo đức công chức Việt Nam ĐẠO ĐỨC CÔNG CHỨ CỞ VIỆT NAM HIỆN NAY
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status