ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------♣-----------------
VŨ NGỌC LANH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2OO8
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------♣-----------------
VŨ NGỌC LANH
CHUYÊN NGÀNH CNDVBC & CNDVLS
MS: 5.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TẾ
2.
TS. HÀ THIÊN SƠN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2OO8
44
2.2. Cải cách kinh tế, ngoại giao và văn hóa giáo dục - những vấn đề cơ
bản trong tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ
2.3. Những đặc điểm cơ bản của tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ
67
131
Chương 3
TƯ TƯỞNG CANH TÂN NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
VỚI SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Những điểm tích cực và hạn chế của tư tưởng canh tân Nguyễn
Trường Tộ
146
3.2. Những bài học lịch sử từ tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ với
sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
169
KẾT LUẬN
197
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
201
gạo trầm trọng, trừ thiên tai mất mùa; thế mà đã có thời kỳ, sản xuất gạo không đủ
cung cấp cho nhu cầu trong nước. Nhờ đổi mới cơ cấu kinh tế, đến nay Việt nam
mỗi năm đã xuất khoảng trên 5 triệu tấn gạo, là nước đứng thứ hai sau Thái Lan
trong việc xuất khẩu gạo. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được
phát huy tác dụng trong điều kiện lịch sử Việt Nam, nó vừa tuân thủ nguyên tắc và
qui luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dắt dẫn, chi phối bởi
2
các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay đất nước ta đã ra khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện, tạo ra những bước
phát triển mới, giúp đất nước ngày càng vững vàng vượt qua những khó khăn, rút
ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và hội nhập vào sự phát triển chung
của thế giới. Hơn nữa cũng thông qua sự nghiệp đổi mới, Đảng ta ngày càng
trưởng thành và có những kinh nghiệm nhất định, đưa ra một hệ thống quan điểm
về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phù hợp với thực tiễn Việt Nam
và bối cảnh quốc tế mới. Tuy nhiên bên cạnh việc tiếp thu, ứng dụng những thành
tựu khoa học hiện đại vào phát triển kinh tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin
và sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ khác trên thế giới, xu hướng
toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đã dẫn tới những thách thức mới đối với đất
nước. Đó là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu; "diễn biến
hòa bình" do các thế lực thù địch gây ra. Trước những thách thức đó, chúng ta
càng phải phát huy vai trò của lịch sử dân tộc do các tiền nhân xây dựng, cùng với
chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa nước ta thoát khỏi nghèo
nàn lạc hậu, đồng thời xây dựng tư tưởng yêu nước vững bền; đó cũng là sự sống
còn có tính lịch sử quan trọng. Để vượt qua giai đoạn khó khăn này, dân tộc ta
phải xây dựng một phong cách tư duy mới, kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước của
cha ông và lý luận của thời đại đưa trình độ nhận thức của người Việt Nam ngang
tiễn đất nước đã đặt ra những nhiệm vụ mới cho công tác nghiên cứu về trào lưu
tư tưởng này. Việc nghiên cứu các tư tưởng canh tân, cải cách ở Việt Nam nửa
cuối thế kỷ XIX, như một quá trình tư tưởng nối tiếp của tư duy dân tộc dưới góc
độ lịch sử tư tưởng, góc độ triết lý cần được tiếp tục, bởi đây là những vấn đề có ý
nghĩa lý luận đòi hỏi có những kiến giải mới, từ đó cho phép chúng ta nhận thức
đúng đắn tư tưởng canh tân ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, và ý nghĩa của
chúng trong việc xây dựng một tư duy mới phù hợp với thời đại hiện nay. Vì vậy,
việc nghiên cứu các tư tưởng canh tân trong lịch sử nói chung, tư tưởng canh tân
của Nguyễn Trường Tộ nửa cuối thế kỷ XIX nói riêng, là nghiên cứu lý luận cơ
bản, một việc làm cần thiết, nhằm góp phần nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam
mà xét cho cùng cũng là nghiên cứu lịch sử triết học Việt Nam.
4
Nước Việt Nam dưới triều Nguyễn, đặc biệt là dưới triều Tự Đức đang trong
tình trạng khủng khoảng nghiêm trọng: kiệt quệ về kinh tế, rối loạn về chính trị xã
hội, suy yếu về quân sự… lại bị giặc ngoại xâm (thực dân Pháp) nhòm ngó, gõ
cửa và mở rộng xâm lược, đã đặt ra vấn đề canh tân, đổi mới đất nước như một
yêu cầu bức thiết – và được xem như một con đường, một phương sách cứu nước
mới. Nguyễn Trường Tộ là một nhà trí thức thức thời, một nhà yêu nước tâm
huyết đã đề nghị một chương trình canh tân bao quát, tiêu biểu nhất lúc bấy giờ.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đảng ta
đã xác định tầm quan trọng của công tác lý luận. Trước thực trạng còn nhiều bất
cập, công tác lý luận nước ta cần phải có sự đổi mới mạnh mẽ, triệt để, nhanh
chóng nhằm vượt qua những thách thức, hội nhập với các nước trong khu vực và
trên thế giới. Chính từ yêu cầu thực tiễn và lý luận đó mà việc nghiên cứu những
quan điểm, tư tưởng triết học nói chung, tư tưởng triết học chính trị nói riêng,
trong kho tàng lịch sử tư tưởng, rút ra bài học kinh nghiệm cho sự nghiệp đổi mới
mới chỉ nhằm mục đích tôn vinh một danh nhân đất Việt, với hệ thống tư tưởng
tiến bộ, còn nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ. Có thể nói, sự tôn vinh tư tưởng
canh tân Nguyễn Trường Tộ, trong giai đoạn đó là phù hợp thực tế lịch sử, thân
thế con người, hoàn cảnh xã hội; phù hợp với nền văn hóa trong ứng xử tình thế
và thời cuộc của dân tộc Việt Nam đang mong muốn thoát khỏi ách cường quyền
đế quốc, phong kiến, đưa đất nước bước vào con đường văn minh, nhưng không
dễ dàng. Chính vì những lý do đó mà, còn nhiều ý kiến khác nhau về con người,
thân thế, sự nghiệp, nhất là về bản chất tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ
trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Hướng nghiên cứu chính của chúng tôi trong luận
án là dựa trên những cứ liệu lịch sử và thực tiễn, bằng phương pháp duy vật lịch
sử, lấy thượng tầng kiến trúc xã hội là triều đình nhà Nguyễn làm nền tảng, hạ
tầng xã hội là nhân dân yêu nước. Trong đó, chú ý vấn đề kinh tế chính trị có tác
động đến con người, thân thế và sự nghiệp Nguyễn Trường Tộ, thể hiện vai trò
khoa học có ý nghĩa tham mưu ở giữa, dân và vua; khi mà vua, triều đình nặng tư
tưởng phong kiến Nho giáo, trí thức không được trọng dụng, quan thì ganh ghét
“những ai khác mình”, dân lầm than cơ cực, trình độ dân chí thấp, còn nghi ngờ
các trào lưu tư tưởng văn minh, văn hóa Phương Tây.
6
Các nhà nghiên cứu theo hướng tôn vinh tư tưởng canh tân Nguyễn Trường
Tộ hồi đầu thế kỷ XX như Lê Thước, Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Nguyễn
Lân, Trần Văn Hà,…đều là những trí thức trong sáng, trung thành với Tổ quốc và
nhân dân, yêu nước thiết tha, tích cực góp phần xây dựng đất nước theo chiều
hướng canh tân, đổi mới.
Phan Bội Châu chính là người đầu tiên đã nhắc đến tên tuổi Nguyễn Trường
Tộ trong cuốn sách “Việt Nam quốc sử khảo”, cùng với Nguyễn Lộ Trạch, Đặng
Huy Trứ,…, ông được coi là người trồng cái mầm khai hóa (tiếp cận văn minh
phương Tây) đầu tiên ở nước ta [20, 214]. Nhưng cũng còn những ý kiến khác
luận văn quan trọng này, tác giả Cao Xuân Huy tập trung phân tích hệ thống tư
tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ, trước tiên là tư tưởng tôn giáo và triết học,
bàn sâu về “thiên đạo quan” và “nhân đạo quan”, về tư tưởng khoa học kỹ thuật,
và tư tưởng xã hội, kinh tế chính trị của Nguyễn Trường Tộ. Với một thái độ
khách quan, giáo sư Cao Xuân Huy đánh giá cao trí tuệ của nhà tư tưởng canh tân
yêu nước Nguyễn Trường Tộ, nhưng đã không bình luận gì về chủ thuyết tạm hòa
của Nguyễn Trường Tộ, thực ra đây là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các quan
điểm chính trị khác nhau.
Năm 1961, nhà xuất bản Giáo dục đã giới thiệu với bạn đọc tác phẩm:
“Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX” của Đặng Huy
Vận và Chương Thâu. Với công trình này các tác giả đã làm toát lên một phương
pháp nghiên cứu thực sự khoa học khi vận dụng xem xét các khía cạnh khác nhau
trong tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ. Các tác giả không chỉ đánh giá về
tầm vĩ mô, tính nhạy bén, vượt trước thời đại… của nhà tư tưởng canh tân này, mà
còn đưa ra những kiến giải về sự ngây thơ trong nhận định bản chất của thực dân
Pháp, sự bảo thủ về chính trị và một số điểm phi thực tế trong đề nghị cải cách của
Nguyễn Trường Tộ. Hai tác giả không né tránh mà nêu thẳng vấn đề, trong điều
kiện lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, nước nhà bị xâm lăng, đã xuất hiện “hai xu
hướng cứu nước: chống Pháp và duy tân”, Nguyễn Trường Tộ duy tân đất nước
nhưng vẫn muốn trung quân, lại “nặng tư tưởng sùng bái vũ khí phương Tây” nên
ông đã chủ trương hòa với Pháp, chỉ có điều chủ trương hòa của ông không hề có
quyền lợi gắn với thực dân Pháp, như phái Dương vụ ở Trung Quốc, hồi năm
1860 [83, 135] và cũng khác với thái độ đầu hàng của triều đình nhà Nguyễn.
8
Năm 1961, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, của Viện sử học mở diễn đàn hội thảo
về các nhân vật lịch sử nổi bật, trong đó có Nguyễn Trường Tộ, nhiều ý kiến khác
nhau về nhân vật Nguyễn Trường Tộ được đề cập và nó phản ánh tính thời thế
Hồ Chí Minh ấn hành 1998 (tái bản 2002). Công trình đã đi sâu vào tiểu sử và di
thảo của Nguyễn Trường Tộ, phát hiện ra những tư liệu mới, làm đầy đủ và sâu
sắc hơn các văn bản và sử liệu trong lĩnh vực này, ví dụ như việc: Nguyễn Trường
Tộ không dưới một lần ra nước ngoài, được tiếp xúc trực tiếp với khoa học kỹ
thuật phương Tây và đã giành nhiều thời gian cho việc khảo sát thực tiễn mới mẻ
ở đó. Công trình này, được đánh giá: về cơ bản, những di thảo của Nguyễn
Trường Tộ hiện có là “đáng tin cậy và khó có thể hy vọng tìm thêm được các tư
liệu bổ sung, do những điều kiện bất khả kháng” [50,16]. Trong lời bạt cuốn sách
“Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo”, Chương Thâu ghi: “Như vậy là sau
gần ba phần tư thế kỷ, kể từ 1925 đến nay chúng ta mới có được một “chân dung”
Nguyễn Trường Tộ tương đối trọn vẹn.”, với những tư liệu ấy, “Từ nay chúng ta
có thể yên tâm đi vào khai thác các di thảo Nguyễn Trường Tộ như những tài liệu
có “thẩm quyền” về khoa học” [16, 582]. Chúng tôi sẽ dựa vào những tài liệu
đáng tin cậy đó để làm sáng tỏ các vấn đề trong luận án này.
Ngoài ra, nhà sử học Hoàng Thanh Đạm, suốt từ 1986 đến 1991, viết nhiều
bài về Nguyễn Trường Tộ, với nhận xét, “các bài viết đó tuy không cung cấp sử
liệu mới, chỉ dựa vào những tư liệu do Chương Thâu và Trương Bá Cần đã sưu
tầm và công bố, nhưng nó bộc lộ nhiệt tình của người nghiên cứu…, với ý thức
lấy tư duy cách tân kiểu Nguyễn Trường Tộ, để góp phần hưởng ứng đường lối
đổi mới của Đảng” [27, 93]. Năm 2001, Hoàng Thanh Đạm viết cuốn: “Nguyễn
Trường Tộ - thời thế và tư duy cách tân” nhằm làm sáng tỏ thêm các vấn đề về
nhà canh tân lỗi lạc này, đặc biệt là lý giải về nghịch lý Việt Nam giữa thế kỷ
XIX: “có những anh hùng chủ chiến được tôn vinh và có một con người chủ hòa
sáng suốt như Nguyễn Trường Tộ” [27, 16].
Năm 1992, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm đã ấn hành kỷ yếu hội thảo khoa
học “Nguyễn Trường Tộ với vấn đề canh tân đất nước”. Trong hội thảo này, các
nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến bàn về tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường
Tộ ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, giáo dục,…với
những góc độ khác nhau. Thông qua hội thảo, các nhà khoa học muốn phê phán
văn, nhà báo, những người thân tín của chế độ Ngô Đình Diệm, đã “mượn” tư
tưởng Nguyễn Trường Tộ để thể hiện mình, trong tờ Văn Đàn và Tinh Việt Văn
11
Đàn, nhưng chủ đích của họ cũng chỉ là để cổ vũ cho một tinh thần “quốc gia”,
bảo vệ cho việc thân với Mỹ là đúng, và cũng nhằm mục đích nói lên “tinh thần
yêu nước muốn tự lực tự cường, thoát khỏi nanh vuốt ngoại bang” [16, 11].
Hướng thứ ba: Trong bối cảnh lịch sử nước ta nửa cuối thế kỷ XIX, không
tránh khỏi những thỏa thuận có lợi cho kẻ thù để giữ thế chủ hòa, vì thế có nhóm
nghiên cứu phê phán, công kích Nguyễn Trường Tộ, nhằm mục đích chia rẽ tư
tưởng kế thừa lịch sử đã được chủ tịch Hồ Chí Minh và các chí sĩ yêu nước tôn
vinh. Hướng nghiên cứu này nổi bật là cuốn sách của hai tác giả Việt kiều ở Mỹ,
Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc, do nhóm Giao điểm xuất bản tháng 4 năm
1998, với nhan đề: “Nguyễn Trường Tộ - thực chất con người và di thảo”. Hai tác
giả cuốn sách tập trung phê phán vấn đề tôn giáo của Nguyễn Trường Tộ, trên ba
khía cạnh: những sai lầm về lý thuyết của đạo Ky tô, về mưu đồ của các thừa sai
Ky tô muốn biến Việt Nam thành nước Chúa, đã tích cực giúp quân viễn chinh
Pháp thôn tính Việt Nam, và đặc biệt là hai tác giả dùng tất cả các cứ liệu phê
phán giáo lý, phê phán các thừa sai Ky tô nhằm mục đích vạch tội Nguyễn Trường
Tộ: là tín đồ Ky tô giáo, đầy tớ của giám mục Gauthier, một tên gián điệp lợi hại
nhất của quân xâm lược Pháp, và cuối cùng khái quát lại: Nguyên Trường Tộ có
mưu đồ phản quốc. Hai tác giả còn vận dụng nhiều sử liệu được cho là “mật” để
kết tội Nguyễn Trường Tộ bán nước. Đối với các kiến nghị làm cho dân giàu nước
mạnh của Nguyễn Trường Tộ hai tác giả cuốn sách, Nguyễn Kha và Trần Chung
Ngọc cũng cho rằng thiếu khách quan.
Có thể nói, cuốn sách của Nguyễn Kha và Trần Chung Ngọc có mục đích phá
vỡ sự thống nhất của lịch sử, đã không nhìn ra “một hạt cát có thể tạo nên ngọc
trai”, họ “không phải vô tình, mà là cố ý chôn vùi một danh nhân đất nước” [27,
đóng góp của ông trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng, đổi mới đất nước ta hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, luận án hướng tới các nghiên cứu sau:
Thứ nhất: Khái quát những biến động lịch sử ở thế kỷ XIX, phân tích dưới
góc độ triết học chính trị tiền đề hình thành tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ.
Thứ hai: Phân tích những cứ liệu lịch sử vạch ra cơ sở triết học, những nội
dung cơ bản trong tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ.
Thứ ba: Phân tích những đặc điểm chính trị trong thực tiễn lịch sử, chắt lọc
những giá trị tích cực, chỉ ra những điểm hạn chế của tư tưởng canh tân Nguyễn
13
Trường Tộ, từ đó đánh giá khái quát, rút ra những bài học lịch sử cho sự nghiệp
đổi mới ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam có một thực tế là văn-sử-triết bất phân. Đó
là một khó khăn khăn không nhỏ trong quá trình nghiên cứu đề tài. Hơn nữa việc
đánh giá tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ còn nhiều ý kiến khác nhau.
Trên tinh thần nhất quán: lịch sử chính trị là một chuỗi liên tục, đối tượng nghiên
cứu của luận án là tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ, nhưng chúng tôi sẽ
không phân tích tất cả các vấn đề, mà tập trung tìm hiểu cơ sở triết học, đi sâu vào
những tư tưởng có ảnh hưởng tới xu hướng chính trị, nhằm tìm ra nội dung có ý
nghĩa đối với sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp của luận án
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra trong đề tài, khi nghiên cứu, trình
bày luận án chúng tôi dựa trên cơ sở thế giới quan duy vật, phương pháp luận
khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chúng
tôi vận dụng những nguyên lý của triết học Mác-Lênin như tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội trong quá trình phát
triển của lịch sử xã hội… làm cơ sở cho những lập luận của mình. Trong đó có sử
những yếu tố mới, mang tính khoa học và tiến bộ vào sự nghiệp đổi mới và phát
triển đất nước ta hiện nay.
- Từ thực tiễn khách quan của thời đại chúng ta, qua phân tích các giá trị lịch
sử của tư tưởng canh tân Nguyễn Trường Tộ, luận án làm rõ những đóng góp của
ông trong lý luận đổi mới tư duy, cũng như quá trình hội nhập kinh tế và toàn cầu
hoá hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết, và
danh mục tài liệu tham khảo.
15
Chương 1
TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CANH TÂN
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
1.1. BIẾN ĐỘNG LỊCH SỬ THẾ KỶ XIX VÀ CƠ SỞ KINH TẾ - XÃ
HỘI
HÌNH
THÀNH
TƯ
TƯỞNG
CANH
ảnh hưởng của thực tiễn thời cuộc đặt ra. Từ cuối thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tư bản
phương Tây đã phát triển thành hệ thống, đứng đầu là Anh, Pháp, Mỹ. Cuối thế kỷ
XVIII, nước Pháp đã có đầy đủ các tiền đề kinh tế - văn hóa - xã hội cho một cuộc
cách mạng tư sản, dưới ngọn cờ tư tưởng của trường phái “khai sáng” với các đại
biểu như Jăng Jắc Rútxô, Điđơrô, Hônbách…Đến giữa thế kỷ XIX, nền kinh tế
Anh “đạt tới mức độ phát triển cao hơn mọi nước khác” [50, 22], sau Anh, nước
Pháp đứng hàng thứ hai trong nền kinh tế thế giới.
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa càng làm tăng nhu
cầu về thuộc địa cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ hàng hóa. Trong thế
kỷ XIX vùng châu Á rộng lớn, đầy tiềm năng đã trở thành mục tiêu của các nước
đế quốc. Cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất (1839-1842), do Anh mở đầu
tấn công vào Trung Quốc, “được xem là sự kiện nổi bật” [50, 22]. Trong thời gian
nửa cuối thế kỷ XIX, Anh xâm lược Ba Tư, bắn phá Kagôsima, đòi Nhật mở cửa
buôn bán, xâm chiếm Niudilân, Malaixia, Mianma, can thiệp vào Xiêm và biến
Ấn Độ thành thuộc địa. Thế lực của Anh ở châu Á là vô cùng to lớn, Mỹ và Pháp
cũng chạy đua xâm lược, mở rộng thuộc địa, tăng cường ảnh hưởng ở khu vực
châu Á. Cuối thế kỷ XIX, Triều Tiên dần dần biến thành nước nửa thuộc địa của
xâm lược Mỹ.
Trong thế kỷ XIX, xã hội phong kiến Trung Quốc có nhiều biến động lớn Triều đình Mãn Thanh bước vào giai đoạn sa sút, cận kề thời điểm sụp đổ. Mặc dù
nửa sau thế kỷ XIX, nhà Thanh vẫn coi Trung Quốc là trung tâm của văn minh
còn các nước khác là Di, Dịch. Họ thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng với bên
ngoài, chuyên chế với bên trong. Tuy nhiên họ cũng không ngăn nổi phong trào
của Hán tộc, không chống nổi sự xâu xé của phương Tây. Cuối cùng, sau hiệp ước
Nam Kinh ngày 29/8/1842, Trung Quốc chấp nhận mở cửa, tự do mậu dịch, giao
thương với nước ngoài, nhường một số địa bàn cho các nước phương Tây: “mở
năm cửa biển là Quảng Châu, Phúc Châu, Ninh Ba, Hạ Môn và Thượng Hải” [50,
24], Hương Cảng thì bị cắt hẳn cho Anh. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XIX,
ở Trung Quốc đã xuất hiện cuộc vận động học tập phương Tây, gọi là “Dương vụ
bản phương Tây xâm lược, bị biến thành thuộc địa, nửa thuộc địa cung cấp
nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho tư bản chính quốc.
18
Trước xu thế bành trướng sang phương Đông của các nước tư bản đế quốc,
nhiệm vụ lịch sử chung của các nước châu Á lúc này là bằng mọi cách phải bảo vệ
độc lập dân tộc. Và các nước, trong đó có Việt Nam cho rằng, phương pháp duy
nhất cần tiến hành để chống lại nguy cơ bị thôn tính là kiên quyết thực hiện chính
sách đóng cửa, hy vọng ngăn chặn được bước chân quân xâm lược. Khi áp dụng
đối sách như vậy, các nước ấy đã không nhận thức được sự khác biệt về chất của
chủ nghĩa tư bản phương Tây so với phương Đông, không thấy rằng biện pháp
này chỉ có tác dụng trong phạm vi của phương thức sản xuất phong kiến, với các
phương tiện giao thông thô sơ và kỹ thuật vũ khí lạc hậu. Trước sức ép ngày càng
tăng của các nước tư bản, Nhật Bản và Thái Lan, do địa lý chính trị khác với Việt
Nam đã có được những thuận lợi trong tiến trình hành động để bảo vệ chủ quyền
theo cách riêng phù hợp với lịch sử của nước họ. Còn các nước châu Á khác, đã
không chống chọi được với sức mạnh của chủ nghĩa thực dân. Đặc biệt là Việt
Nam với vị trí chiến lược quan trọng, điều kiện địa lý thuận lợi, giàu tài nguyên và
lòng tham của giai cấp tư sản phương Tây, đã dẫn tới những biến động sâu sắc về
phương diện chính trị, quân sự... Vấn đề giữ chủ quyền đất nước, quan điểm giữa
những người dân yêu nước có khác nhau, và hết sức mâu thuẫn với triều đình nhà
Nguyễn hèn nhát, trong bối cảnh đó thì Nguyễn Trường Tộ gần như là nạn nhân
của sự bế tắc trong hành động yêu nước của mình.
Trở lại với nhà Nguyễn, sau nhiều năm chinh chiến chống Tây Sơn, Nguyễn
Ánh lên ngôi vào năm 1802, “lực lượng chính góp phần vào thành công đó bao
gồm: giám mục Bá Đa Lộc và các chí nguyện quân người Pháp ủng hộ về mặt
quân sự,…” [98, 50], như vậy vua Gia Long đã có những quan hệ với Ky tô giáo
và tư bản Pháp, nhờ sự giúp đỡ của họ để thắng Tây Sơn. nhưng đó cũng là hành
Trước thực tế của một quốc gia mới trải qua một cuộc nội chiến Nguyễn Ánh
- Quang Trung và xu thế tất yếu của lịch sử, Minh Mạng bế tắc không tìm ra con
đường giành độc lập, trong khi đã lệ thuộc phương Tây một phần, lại chưa đủ
nhận thức để phát hiện quy luật khách quan. Ông nhìn nhận nền văn minh phương
Tây một cách chủ quan, nên tiếp tục duy trì các đối sách cũ kỹ đã thi hành từ thời
Gia Long, thậm chí còn sợ hãi đủ mọi sự đe dọa, nên cố gắng thể hiện quyền lực
chính trị cứng nhắc hơn. Đến thời Thiệu Trị và Tự Đức, sự can thiệp của thực dân
Pháp ngày càng trắng trợn và đến năm 1858, Pháp chính thức xâm lược Việt Nam.
20
Tại sao triều Nguyễn lại không thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
một kiểu tư duy mới có thể thức tỉnh ý thức dân tộc trước sự bành trướng của
Phương Tây? Cùng một vấn đề, đặt ra cho Trung hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt
Nam,…là làm sao bảo vệ độc lập dân tộc và bản sắc dân tộc; chống xâm lược
phương Tây và giữ gìn các giá trị truyền thống trên cơ sở Nho Giáo? Từ nửa cuối
thế kỷ XIX, ở các nước Trung hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, tầng lớp trí thức đứng
trước sự đe dọa và xâm lược phương Tây, đã cố gắng ít ra là trên bình diện tư
tưởng, tìm cách hòa hợp giữa hai yếu tố: sự bảo tồn giá trị truyền thống - nền tảng
đạo lý của xã hội và sự tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây, nhằm tác
dụng có lợi. Lúc bấy giờ, các nước đó xuất hiện những khẩu hiệu tương tự nhau:
Hòa hồn Dương tài (tinh thần Nhật, kỹ thuật Tây Âu), Đông đạo Tây khí (đạo đức
phương Đông, thực hành phương Tây), Trung thể, Tây dụng (thể chất Trung Hoa,
công dụng phương Tây). Những khẩu hiệu chứng tỏ, nhu cầu hòa hợp giữa hai yếu
tố đó, là có tính thực tế nhất định, dẫn đến sự cố gắng thích nghi của con người
với những thay đổi của tình hình, của môi trường và với công cuộc hiện đại hóa
đất nước. Nhưng người ta lại không thấy những câu khẩu hiệu kiểu như vậy trong
Thực lục của triều Nguyễn. Họ đã không vạch ra được một đường lối riêng cho
dân tộc, một khẩu hiệu có thể làm bật dậy sự thức tỉnh chung cho sức đề kháng
khá sâu sắc. Trong số đó, Nguyễn Trường Tộ được coi là nhân vật số một của
khuynh hướng canh tân cuối thế kỷ XIX, nhà yêu nước nhiệt huyết này đã đề nghị
một chương trình canh tân đất nước bao quát nhất, tiêu biểu nhất thời bấy giờ,
nhằm mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, tự lực, tự cường để có thể chiến
thắng được kẻ thù.
Nguyễn Trường Tộ sinh ra, trưởng thành và hoạt động trong khoảng thời gian
giữa thế kỷ XIX. Tiểu sử của ông đã được đề cập trong nhiều công trình, và được
viết khá kỹ trong cuốn “Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo” của Trương
Bá Cần. Hầu hết các tác giả viết về tiểu sử Nguyễn Trường Tộ, đều dựa theo bài
báo của giáo sư Lê Thước “Nguyễn Trường Tộ tiên sinh tiểu sử” đăng trên tờ
Nam Phong số 102, tháng 1-1926, mà cho rằng: Nguyễn Trường Tộ sinh năm
1828 Tây lịch, tức năm Minh Mạng thứ 9 tại làng Bùi Chu, xã Hưng Trung, huyện
Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Nhưng theo Trương Bá Cần, vị linh mục, tiến sĩ sử
học, người có công nhiều nhất trong việc sưu tầm, xác minh về Nguyễn Trường