Đề tài triết học " LÝ LUẬN XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HOÀ CỦA TRUNG QUỐC VÀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY " - Pdf 21



 Đề tài triết học LÝ LUẬN XÂY DỰNG XÃ
HỘI HÀI HOÀ CỦA
TRUNG QUỐC VÀ CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
LÝ LUẬN XÂY DỰNG XÃ HỘI HÀI HOÀ CỦA TRUNG QUỐC V
À CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

VŨ VĂN VIÊN(*)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái quát tư tưởng về sự hài

“khi biến đổi, nó đứng im”. Rõ ràng, với những quan niệm trên đây, chúng ta
có thể thấy Hêraclít đã đề cập đến cái hài hoà trong đấu tranh, thống nhất trong
phân đôi, đồng nhất trong khác biệt. Trong lý luận về logos, ông khẳng định
logos là sự thống nhất của mọi hiện hữu. Như vậy, sự thống nhất ở đây là sự
đồng nhất của những cái đa dạng, là sự hài hoà giữa các mặt đối lập. Ông cho
rằng, ngày và đêm, thiện và ác không phải là một, nhưng chúng là những đối
lập nối tiếp nhau tạo ra tính chu kỳ, tính lặp lại. Bản thân tính chu kỳ và sự lặp
lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hài hoà giữa các mặt đối lập. Từ
những phân tích trên đây có thể thấy, ở phương Tây, khái niệm “hài hoà” ra đời
từ rất sớm và nó đã thực sự là một khái niệm quan trọng trong tư tưởng triết học
phương Tây cổ đại.
Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, các nhà tư tưởng Trung Quốc cũng có
những quan niệm khá đặc sắc về “hài hoà”. Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” thể
hiện đậm nét quan niệm về sự hài hoà giữa con người và tự nhiên. Quan niệm
này nhấn mạnh con người phải hoà nhập với thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ tự
nhiên, phải sống hài hoà với tự nhiên. Quan niệm này tồn tại và phát triển
xuyên suốt lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại.
Bên cạnh quan niệm về sự hài hoà giữa con người và tự nhiên, các nhà tư tưởng
Trung Quốc cũng rất quan tâm đến sự hài hoà giữa con người và con người,
giữa con người và xã hội. Họ đã đưa ra nhiều tư tưởng về duy trì sự đoàn kết và
sự ổn định xã hội, đó là các tư tưởng về “xã hội đại đồng”, “thái bình thịnh trị”;
về tình bằng hữu: “bốn biển đều là anh em”, Nhìn chung, theo ý kiến của
nhiều nhà nghiên cứu, khái niệm hài hoà là một trong những khái niệm quan
trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ, trung đại và nó ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của đất nước Trung Quốc. Trong di sản của các nhà tư tưởng
cổ đại Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy tư tưởng biện chứng của Lão Tử có
một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lý luận xây dựng xã hội hài hòa. Tư
tưởng biện chứng của ông xem trọng tính thống nhất (hài hòa) giữa các mặt đối
lập, coi trọng mối quan hệ tương tác, tương sinh mà không bàn đến mâu thuẫn
và giải quyết mâu thuẫn (đấu tranh và đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn). Ông

là một vấn đề lớn cần được đi sâu nghiên cứu để có những kiến giải cụ thể hơn.
Kế thừa các tư tưởng về hài hoà trong lịch sử, vận dụng sáng tạo lý luận phát
triển của chủ nghĩa Mác, trong quá trình cải cách và mở cửa, các nhà lãnh đạo
Trung Quốc đã dần dần xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc
Trung Quốc mà đỉnh cao là lý luận “xây dựng xã hội hài hoà”. Ngày 19 - 9 -
2004, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4, khóa XVI, Đảng Cộng sản Trung
Quốc đã chính thức đề ra mục tiêu chiến lược: “Xây dựng xã hội hài hòa”. Nội
dung cơ bản của lý luận xã hội hài hoà là dân chủ pháp trị, công bằng chính
nghĩa, trật tự ổn định, thành tín hữu ái, tràn đầy sức sống, con người và tự
nhiên có mối quan hệ hài hoà(1).
Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tập trung mọi nỗ lực lãnh đạo
nhân dân xây dựng xã hội hài hoà xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cũng diễn ra
nhiều cuộc thảo luận góp phần làm rõ nhiều nội dung của lý luận xây dựng xã
hội hài hoà. Nói một cách khái quát nhất, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng,
xét từ khía cạnh triết học, xã hội hài hoà là xã hội ở trạng thái tồn tại và phát
triển cân đối, điều hòa giữa các mặt của đời sống xã hội, giữa các cộng đồng
dân cư, giữa con người với tự nhiên, là giai đoạn lý tưởng và hình thức hoàn mỹ
của sự phát triển trong sự thống nhất của các mặt đối lập. Thực tiễn công tác lý
luận những năm qua ở Trung Quốc đã chứng tỏ sức sống của lý luận này và chúng
ta hoàn toàn có thể xem xây dựng xã hội hài hoà chính là mục tiêu nhất quán của
Trung Quốc trong thời gian tới.
Ở Việt Nam, dư âm của lý luận xây dựng xã hội hài hoà cũng không nhỏ. Gần
đây, nhiều nhà lý luận, nhiều nhà khoa học rất chú ý tới lý luận này và cố gắng
liên hệ nó với thực tiễn phát triển của xã hội Việt Nam. Từ quan điểm cá nhân,
chúng tôi nghĩ rằng, xét trên khía cạnh văn hoá truyền thống cũng như con
đường phát triển hiện nay, hai nước chúng ta có những điểm tương đồng sâu
sắc. Vì vậy, việc tham khảo những thành quả lý luận và thực tiễn của mỗi nước
là việc làm cần thiết. Tất nhiên, sức sống của một lý luận - xây dựng xã hội hài
hoà - rồi đây sẽ được thực tiễn kiểm nghiệm, song việc tìm hiểu và thảo luận về
nó luôn là cần thiết. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam

được sự ổn định - ổn định về chính trị, ổn định về xã hội. Chính sự ổn định ấy
là tiền đề cho sự phát triển với nhịp điệu tương đối nhanh và ổn định trong suốt
thời gian dài vừa qua. Đường lối đại đoàn kết dân tộc, hoà hợp dân tộc của Việt
Nam chính là sự đề cao tinh thần đoàn kết - “hài hoà” giữa các cộng đồng, giới
trên lãnh thổ Việt Nam cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước.
Về mục tiêu chung. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã xác định
xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ
và văn minh”. Từ mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam đã từng bước cụ thể hoá
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qua từng bước đi của mình. Trong
quá trình ấy, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng những định
hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu chiến lược trên.
Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Kết hợp các mục
tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa
phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển
kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh
mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế - xã hội”(4). Trong định hướng chiến
lược trên, “sự phát triển hài hoà” giữa các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là
giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, đã được hết sức chú ý, thậm chí trong
sự hài hoà này, các mặt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội gắn liền thành một
chỉnh thể hữu cơ. Với mục tiêu lâu dài và cụ thể trên, chúng ta thấy có sự tương
đồng rất rõ với nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc.
Nội dung xây dựng xã hội hài hoà (đã nhắc ở trên) của Đảng Cộng sản Trung
Quốc đã bộc lộ một cách rõ ràng sự phát triển hài hoà giữa các mặt của đời
sống xã hội “kiên trì lấy con người làm gốc, chỉnh đốn toàn diện, điều chỉnh
thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người và kinh tế xã hội”. Nhiều nhà
khoa học Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung cơ bản của
lý luận xây dựng xã hội hài hoà: “Nội hàm của xã hội hài hoà rất phong phú,
không chỉ là sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm sự tiến bộ của khoa học,
giáo dục, thiết lập pháp chế, xã hội dân chủ và nhân văn, tạo thuận lợi cho sự

nhân là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, chúng ta cần
phải có cái nhìn thực tế, phải xuất phát từ thực tế khách quan để xây dựng lý
luận đổi mới và phát triển của mỗi nước cho phù hợp với thực tiễn cách mạng
trong mỗi giai đoạn cụ thể. Trong điều kiện hiện nay, phải chăng cần nhấn
mạnh khía cạnh thống nhất - sự hài hoà giữa các mặt đối lập - để xây dựng một
xã hội phát triển hài hoà và bền vững.
Thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”, “hoà hợp dân tộc” và sự chọn lựa con
đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản, Nhà nước và
nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi
mới. Tuy chưa có lý luận về xây dựng xã hội hài hoà song với tinh thần trên,
công cuộc đổi mới ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiến tới xây dựng và phát triển trên
thực tế một xã hội hài hoà giữa các mặt của đời sống xã hội: hài hoà giữa giàu
có về vật chất và giàu có về tinh thần, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và tiến
bộ xã hội, hài hoà giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên, hài hoà
giữa các bộ phận, tầng lớp dân cư trong xã hội, Trong bối cảnh như vậy, lý
luận xây dựng xã hội hài hoà của Trung Quốc chắc chắn sẽ có giá trị gợi mở
nhất định đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay.r

(*) Phó giáo sư, tiến sĩ. Trưởng phòng Lôgíc, Viện Triết học, Viện Khoa học xã
hội Việt Nam.
(1) Xem: PGS.TSKH. Lương Đình Hải (chủ biên). Vấn đề sở hữu và phát triển
bền vững. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008, tr.268.
(2) Xem: PGS.TSKH. Lương Đình Hải (chủ biên). Vấn đề sở hữu và phát triển
bền vững Sđd., tr.247.
(3) PGS.TSKH. Lương Đình Hải (chủ biên). Vấn đề sở hữu và phát triển bền
vững. Sđd., tr.271.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.101.
(5) Dẫn theo: PGS.TSKH.Lương Đình Hải (chủ biên). Vấn đề sở hữu và phát
triển bền vững. Sđd., tr.273.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status