mối quan hệ giữa sự phát triển kinh tế và việc giải quyết các vấn đề xã hội ở vùng nông thôn các tỉnh bắc trung bộ trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 10

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX là thế kỷ phát triển với một tốc độ vô cùng lớn. Nhân loại
đã từng chứng kiến những thành tựu thần kỳ trong sự PTKT; đồng thời,
cũng đã chứng kiến sự "bùng nổ" của những vấn đề xã hội. Lịch sử đã ghi
nhận những thành tựu đó, đã cảnh báo nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia
phát triển, lẫn những quốc gia kém phát triển trong việc xác lập mô hình
phát triển. Một trong những bài học nổi bật là bài học về giải quyết mối
quan hệ giữa PTKT và phát triển xã hội.
Kết hợp PTKT với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là một nội
dung cơ bản trong đờng lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó một
mặt là kết quả của việc quán triệt đờng lối nhất quán của Đảng: giải phóng
dân tộc phải kết hợp chặt chẽ với giải phóng xã hội và giải phóng con ngời.
Mặt khác, là kết quả của những bài học kinh nghiệm rút ra từ nhiều nớc
phát triển và đang phát triển. Việc thực hiện đờng lối đó đã đem lại những
thành tựu to lớn, kinh tế tăng trởng nhanh, đời sống vật chất của phần lớn
nhân dân đợc cải thiện và đồng thời giải quyết đợc nhiều VĐXH bức xúc,
xác lập và củng cố từng bớc sự ổn định chính trị - xã hội, tạo ra những tiền
đề để đa đất nớc chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao
cấp sang cơ chế thị trờng theo định hớng XHCN, bên cạnh những tác động
tích cực, thì những tác động tiêu cực của kinh tế thị trờng và của sự TTKT
đối với các VĐXH cũng đặt ra gay gắt.
Trớc yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, việc tìm kiếm mô hình và lựa
chọn phơng án phát triển đang là vấn đề đặt ra cho quá trình CNH, HĐH
đất nớc theo định hớng XHCN. Đảng ta đã khẳng định: "TTKT phải gắn
liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bớc đi và trong suốt
1
quá trình phát triển" [28, 113], "kết hợp hài hòa tăng trởng kinh tế với phát
triển xã hội, tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo đợc
chuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội" [28, 33].

đầu đã rút ra những kinh nghiệm. Với những công trình tiêu biểu: Đề tài
KX-07-13 "Về một số động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay"
do GS Lê Hữu Tầng chủ nhiệm; Đề tài KX-04 "CSXH, một số vấn đề lý
luận và thực tiễn", PGS.PTS Bùi Đình Thanh chủ nhiệm; PGS.PTS Hoàng
Chí Bảo (chủ biên) "Một số vấn đề về CSXH ở nớc ta hiện nay" (Nxb
CTQG, H, 1993); GS Phạm Xuân Nam "Đổi mới CSXH luận cứ và giải
pháp" (Nxb CTQG, H, 1997); PGS.PTS Đỗ Nguyên Phơng "Về sự phân
tầng xã hội ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay" (Chơng trình KX 07-05, H,
1994); GS.TS Nguyễn Duy Quý (chủ biên) "Những vấn đề lý luận về
CNXH và con đờng đi lên CNXH ở Việt Nam" (Nxb CTQG, H, 1998);
PGS.PTS Nguyễn Trọng Chuẩn "Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới
CSKT và đổi mới CSXH" (Tạp chí triết học tháng 6-1996); PGS.PTS Nguyễn
Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê "Một số vấn đề về định hớng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam" (Nxb Lao động, H, 1998); PTS Lê Bộ Lĩnh (chủ biên)
"TTKT và công bằng xã hội ở một số nớc châu á và Việt Nam" (Nxb
CTQG, H, 1998); PGS.PTS Lê Văn Sang, PTS Kim Ngọc "TTKT và công
bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn thần kỳ và Việt Nam thời kỳ đổi mới"
(Nxb CTQG, H, 1999) Gần đây nhất, luận án tiến sĩ "Quan hệ giữa tăng
trởng kinh tế và phát triển các quan hệ xã hội lành mạnh ở nớc ta hiện nay"
của tác giả Nguyễn Thị Thanh đã trình bày mối quan hệ giữa TTKT và phát
triển các quan hệ xã hội lành mạnh và bớc đầu đã nêu ra một số phơng hớng
cơ bản để tăng cờng sự kết hợp đó ở nớc ta.
Trên lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, ở nớc ngoài cũng nh ở nớc
ta có nhiều công trình nghiên cứu tùy theo đặc trng của từng ngành khoa
học. Vấn đề đợc nhiều công trình tập trung nghiên cứu: Vai trò của nông
3
nghiệp, nông thôn; CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện CSXH ở
nông thôn; xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm Và đã
đề xuất nhiều giải pháp thiết thực nhằm giải quyết những vấn đề đang đặt
ra ở nông thôn. Đáng chú ý là các công trình "40 năm kinh nghiệm Đài

chủ nghĩa.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Mục đích
Luận án góp phần làm rõ về mặt lý luận mối quan hệ giữa sự PTKT
và việc giải quyết các VĐXH. Trên cơ sở đó và trên cơ sở thực tiễn BTB đ-
ợc khảo sát, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp giữa PTKT và
giải quyết các VĐXH ở vùng nông thôn BTB trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nớc theo mục tiêu: "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh".
3.2. Nhiệm vụ
Luận án tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:
- Làm rõ tính biện chứng giữa PTKT và giải quyết các VĐXH trong
chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân tích thực trạng, xu hớng vận động của mối quan hệ giữa
PTKT và giải quyết các VĐXH trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn BTB.
- Kiến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm kết hợp đúng đắn giữa
5
PTKT và giải quyết các VĐXH ở nông thôn các tỉnh BTB hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa PTKT và giải
quyết các VĐXH và tìm ra những giải pháp chủ yếu để thực hiện mối
quan hệ này trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng nông thôn
các tỉnh BTB, gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận án đợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, t tởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đờng lối của Đảng và Nhà nớc
ta về phát triển kinh tế - xã hội, về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Luận án đợc nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tiễn tình hình

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án gồm 3 chơng với 7
tiết và danh mục các tài liệu tham khảo.
Chơng 1
Biện chứng giữa phát triển kinh tế và giải
quyết các vấn đề xã hội theo định hớng xã hội chủ
7
nghĩa ở nông thôn nớc ta
1.1. biện chứng giữa phát triển kinh tế và giải quyết
các vấn đề xã hội
1.1.1. Phát triển kinh tế - yếu tố quyết định để giải quyết các
vấn đề xã hội
Tăng trởng kinh tế và phát triển kinh tế
Tăng trởng kinh tế (TTKT): Khái niệm tăng trởng (growth) nói
chung đợc dùng để chỉ sự lớn lên, tăng thêm, mở rộng về quy mô của một
hiện tợng hay một "hệ thống" nào đó. Trong tiếng Việt, đôi khi ngời ta còn
dùng khái niệm "tăng", "sự gia tăng" để chỉ sự tăng trởng.
Sự gia tăng về kinh tế, trên thực tế ngời ta thờng hay thay bằng thuật
ngữ tăng trởng kinh tế.
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy khái niệm TTKT có nhiều cách
tiếp cận khác nhau. TTKT là "sự gia tăng sản lợng thực tế của một nền kinh tế
theo thời gian" [81, 74]; là "sự thay đổi về lợng các kích thớc vật chất của sản
xuất và kinh doanh" [56, 29]; là "sự tăng lên của sản lợng hàng hóa và dịch vụ
trong một nớc do sự tăng lên của thu nhập quốc dân và sản phẩm bình quân đầu
ngời" [7, 174]; là "mức tăng quy mô và tốc độ sản phẩm" [70, 200].
Từ những quan điểm khác nhau về TTKT có thể rút ra điểm chung:
TTKT là khái niệm diễn tả động thái của nền kinh tế, chỉ rõ sự biến đổi
ngày càng lớn lên về lợng của nền kinh tế.
8
Nh vậy, có thể coi "TTKT" là "sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy
mô sản lợng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của

nghèo hơn; một sự giảm sút về tỷ phần của nông nghiệp trong GNP và sự
gia tăng tơng ứng tỷ phần trong GNP của công nghiệp, tài chính, xây dựng
và quản lý nhà nớc, một sự gia tăng về giáo dục và kỹ năng của lực lợng
lao động, và những tiến bộ kỹ thuật đáng kể đợc tạo ra trong nền kinh tế"
[30, 28]. Quan điểm này coi PTKT là TTKT kèm theo sự thay đổi về
phân phối và cơ cấu kinh tế theo hớng tiến bộ.
Tập thể các nhà khoa học thuộc trờng Đại học kinh tế quốc dân
trong cuốn "Kinh tế phát triển" do PGS. PTS Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên
đa ra định nghĩa: "PTKT có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến)
về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm
cả sự tăng thêm về quy mô sản lợng (tăng trởng) và sự tiến bộ về cơ cấu
kinh tế - xã hội" [86, 9].
Nh vậy, PTKT là một phạm trù kinh tế - xã hội rộng lớn. Việc đa ra
đợc một định nghĩa chính xác đang còn có sự khác nhau trong quan niệm
của nhiều tác giả. Chúng tôi cho rằng, định nghĩa của các nhà khoa học tr-
ờng Đại học kinh tế quốc dân đã phản ánh đợc nội dung cơ bản của khái
niệm "PTKT":
- Trớc hết, PTKT bao gồm cả sự thay đổi về khối lợng của cải vật
chất, dịch vụ và sự biến đổi tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội.
- Thứ hai: Tăng thêm quy mô sản lợng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế -
10
xã hội là hai mặt có mối quan hệ vừa phụ thuộc vừa độc lập tơng đối của l-
ợng và chất.
- Thứ ba: Sự phát triển là một quy luật tiến hóa, song nó chịu tác động
của nhiều yếu tố, trong đó nhân tố nội tại nền kinh tế có ý nghĩa quyết định.
- Thứ t, PTKT phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trạng thái
thấp lên trạng thái cao hơn cả về số lợng và chất lợng.
Hiện nay, khái niệm PTKT đợc đặt trong mối quan hệ với phát triển
xã hội, bảo vệ môi trờng, hợp thành nội dung của "Phát triển bền vững". Đó
là: "Sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa trên việc sử dụng hợp lý

xã hội và tác động trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế. TTKT là điều
kiện, tiền đề cho phát triển, nhng bản thân nó chỉ là một đại lợng không
hoàn hảo của sự tiến bộ. TTKT có thể thúc đẩy phát triển xã hội nhng tự nó
không dẫn đến tiến bộ xã hội. Bởi vì, khi nói tới tiến bộ xã hội, có nghĩa là
đề cập đến mặt chất lợng của phát triển xã hội, mà điều này lại lệ thuộc vào
chế độ xã hội, vào quan niệm giá trị và hệ thống giá trị. Một nền kinh tế có
tăng trởng, nhng nếu lấy lợi nhuận làm mục tiêu duy nhất, mà xem nhẹ yếu
tố xã hội, thì không thể xem đó là sự tăng trởng mang tính tích cực, tiến bộ.
Về mặt lý thuyết, có thể cho rằng có sự phát triển nhng không có tăng trởng
trong trờng hợp GNP đầu ngời không tăng, nhng thực hiện công bằng xã
hội tốt hơn, giảm bớt những lãng phí để đem lại những nhu cầu có ích cho
nhân dân. Tuy nhiên, trên thực tế, "khó dẫn ra đợc những ví dụ về sự phát
triển nh vậy và thờng thì tăng trởng và phát triển đi đôi với nhau" [32, 8].
Nh vậy, nếu xét từ góc độ triết học thì TTKT và PTKT là hai khái
niệm có điểm giống nhau, nhng không hoàn toàn đồng nhất. Điểm giống
nhau là cả hai đều nói lên sự chuyển dịch năng động, vợt khỏi trạng thái trì trệ,
dẫm chân tại chỗ. Điểm khác nhau là một bên nói lên sự chuyển dịch về số l-
ợng, còn một bên nói lên tính định hớng, chất lợng của sự chuyển dịch đó.
12
Phát triển xã hội
Trong quan điểm duy vật biện chứng, "phát triển là một phạm trù
triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ
đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn" [35, 227].
Chủ nghĩa Mác nghiên cứu vấn đề phát triển một cách khoa học và
toàn diện trên cơ sở kế thừa hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hê-
ghen. Phát triển trong chủ nghĩa Mác đợc hiểu là một trờng hợp đặc biệt
của sự vận động, là thuộc tính phổ biến của vật chất, là nguyên lý phổ biến
và là nguyên tắc nhận thức có vai trò to lớn trong việc giải thích lịch sử, tự
nhiên, xã hội và nhận thức của con ngời.
Dới góc độ triết học mà xem xét, thì trong lĩnh vực xã hội, "sự phát

sống phồn vinh, có chất lợng đợc mỗi cộng đồng chấp nhận.
Tháng 7 năm 1994, ông Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor
đã tuyên bố tám nội dung cơ bản của phạm trù "phát triển xã hội" [50, 3-4].
- Tạo lập năng lực nội sinh thông qua việc khai thác mọi nguồn lực;
cải cách sâu rộng nội dung giáo dục và đào tạo ở mọi cấp; và tuyên truyền,
truyền bá tri thức tới mọi miền của quốc gia cũng nh giữa các quốc gia với nhau.
- Khắc phục có hiệu quả tình trạng nghèo khổ và bảo đảm cho mọi
tầng lớp dân c tham gia vào quá trình phát triển xã hội; tôn trọng quyền con
ngời, xây dựng thái độ khoan dung, phi bạo lực và dân chủ thông qua nền
giáo dục ngay từ cấp học mầm non, thông qua sự hỗ trợ của các tổ chức
công dân cũng nh của các phơng tiện thông tin đại chúng.
- Đặt các nhân tố văn hóa vào cấu trúc và chiến lợc phát triển cân
bằng; chú trọng đúng mức các điều kiện lịch sử, xã hội và văn hóa của từng
quốc gia - Đó là những điều kiện chủ yếu đảm bảo cho một sự phát triển xã
14
hội bền vững.
- Thúc đẩy một cách nhìn mới đối với lao động và việc làm phù hợp
với quan niệm hiện đại về cuộc sống tích cực. Cuộc sống tích cực không chỉ
bao hàm hoạt động sản xuất, mà còn cả những hoạt động công dân, hoạt
động giải trí, hoạt động xã hội, văn hóa, khoa học
- Cải thiện chất lợng cuộc sống của c dân nông thôn thông qua hoạt
động giáo dục, đào tạo, tăng thu nhập, tăng cờng sản xuất, du lịch văn hóa,
du lịch môi trờng, trợ giúp vật chất, cải thiện điều kiện kết cấu hạ tầng, tăng
cờng thông tin
- Xây dựng ý thức bảo vệ môi trờng sinh thái, thúc đẩy sự tham gia
của đông đảo dân c vào việc sử dụng hợp lý và cân bằng các nguồn tài
nguyên phục vụ mục tiêu phát triển xã hội bền vững.
- Khai thác tốt khoa học và công nghệ nh nhân tố tích cực đối với
mục tiêu phát triển xã hội.
- Sử dụng tốt các hệ thống và các thành tựu thông tin hiện đại phục

sự tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, là một tính tất yếu, xét
đến cùng, bao giờ cũng tự vạch ra con đờng đi của nó" [49, 788].
Sự phát triển của xã hội loài ngời là một quá trình tất yếu, khách
quan tuân theo những quy luật nội tại của nó, xu hớng chung của quá trình
phát triển đó đợc quy định bởi sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội. Xã
hội tồn tại và phát triển đợc trớc hết là nhờ sản xuất vật chất. Dù đợc xem xét
trong toàn bộ lịch sử của sự hình thành và phát triển xã hội loài ngời nói
chung, hay đợc xem xét trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của các xã hội
hiện thực nói riêng, thì sản xuất vật chất vẫn luôn luôn đóng vai trò là cơ sở, là
nền tảng của sự tồn tại và phát triển xã hội. Ph. Ăngghen đã viết: "Chúng ta tự
làm nên lịch sử của chúng ta, nhng trớc hết là với những tiền đề và trong
những điều kiện nhất định. Trong số những tiền đề và điều kiện ấy thì chính
16
những điều kiện kinh tế giữ vai trò quyết định cuối cùng" [49, 727]. Và xét
đến cùng, chính "Phơng thức sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá
trình sinh hoạt xã hội và tinh thần nói chung".
Quan điểm duy vật lịch sử luôn luôn nhấn mạnh vai trò hàng đầu
của trình độ phát triển lực lợng sản xuất và năng suất lao động đối với sự
vận động và phát triển của xã hội. C.Mác đã đứng ở tầm cao của sự phát
triển lịch sử để đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển lực lợng sản xuất.
Trớc hết, ông cho rằng, lực lợng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng
nhất trong lịch sử. Sự phát triển của lực lợng sản xuất chẳng những là thớc đo
trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời, mà là tiêu chuẩn để phân biệt các
thời đại trong lịch sử nhân loại. "Những thời đại kinh tế khác nhau không
phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì, mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào, với những t liệu lao động nào" [47, 269]. Hai là, ông cho rằng, nguyên
nhân căn bản nhất khiến quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa sẽ bị thay thế
bằng quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa là do quan hệ sản xuất t bản chủ
nghĩa đã trở thành xiềng xích kìm hãm sự phát triển hơn nữa của lực lợng
sản xuất. Nói một cách khác, chỉ khi nào quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa

hệ giữa PTKT và giải quyết các VĐXH.
Qua đó, có thể nói rằng, một khi đã không thừa nhận tính khách
quan, phổ biến của sự phát triển xã hội là nằm trong sự phát triển của lực l-
ợng sản xuất, mà lại muốn đi tìm ở các lĩnh vực riêng biệt của đời sống xã
18
hội, thì không thể tránh khỏi rơi vào quan điểm chủ quan, phiến diện, thậm
chí duy tâm. Và, do đó sẽ không thấy đợc động lực thực sự của sự phát triển
xã hội. Tuy nhiên, khi khẳng định sự phát triển của lực lợng sản xuất quyết
định tính khách quan, phổ biến của phát triển xã hội, cần nhớ rằng chỉ xét
đến cùng và xét trên phạm vi lịch sử toàn thế giới thì lực lợng sản xuất mới
không những là cội nguồn, là nguyên nhân quyết định sự phát triển của xã
hội loài ngời, mà nó còn tạo thành cơ sở cho sự thống nhất, cũng nh cho
mối liên hệ của lịch sử toàn thế giới.
Ngày nay, do sự tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, loài ngời đang đứng trớc những nguy cơ: chiến tranh
hạt nhân, sự phá hủy môi sinh, nạn cạn kiệt tài nguyên , một số học giả
phơng Tây đã nói đến "sự tận cùng của lịch sử", "sự cáo chung của nhân
loại" Một trong những quan niệm bi quan về sự phát triển xã hội là quan
niệm của một số nhà nghiên cứu lý luận trong nhóm "Câu lạc bộ Rô-ma".
Họ cho rằng, mọi sự phát triển của sản xuất đều dẫn đến khủng hoảng, do
đó, cần phải đa sự phát triển của lực lợng sản xuất xuống mức thấp nhất
bằng con số "không", rằng chỉ cần tái sản xuất giản đơn ra con ngời và của
cải là có thể giúp cho nhân loại thoát khỏi thảm họa của "ngày tận thế".
Ngợc lại, một số học giả khác nh R.Arôn, G.Can, đặc biệt là nhà xã
hội học ngời Mỹ Rôxtâu lại đa ra quan điểm về quyết định luận kỹ thuật,
coi kỹ thuật là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội và lấy sự tiến bộ kỹ
thuật làm tiêu chuẩn hàng đầu của tiến bộ xã hội. Quan điểm này đợc phổ
biến rộng rãi ở nhiều nớc Tây Âu vào những năm 50, 60 với học thuyết về xã
hội "hậu công nghiệp". Xuất phát từ quan điểm này, cùng với việc lợi dụng
quan điểm của C.Mác về vai trò quyết định của lực lợng sản xuất, Brêdinxki

20
do, độc lập cũng không làm gì" [51, 152]. Ngời đòi hỏi, "Chúng ta phải làm
sao thực hiện ngay, 1- Làm cho dân có ăn. 2- Làm cho dân có mặc. 3- Làm
cho dân có chỗ ở" [51, 152]. Vì vậy, Ngời đặc biệt chăm lo PTKT. Ngời chủ
trơng vận động bà con nông dân đi vào làm ăn tập thể, chú trọng xây dựng và
PTKT quốc doanh, giải phóng mọi lực lợng sản xuất, làm cho mọi ngời,
mọi nhà trở nên giàu có, ích quốc lợi dân. "Bác chỉ nói một điểm rất giản
đơn "có thực mới vực đợc đạo" đó là duy vật, đó là gốc của chủ nghĩa Mác -
Lênin" [52, 420].
Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang có sự chuyển biến to lớn. Điều
đó thể hiện vai trò ngày càng tăng của kinh tế đối với đời sống con ngời, ở
mục tiêu PTKT của mọi quốc gia và ở trong tỷ trọng ngày càng lớn của yếu
tố kinh tế trong quan hệ quốc tế. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại đã tạo ra một lợng giá trị cha từng có, một sự thay đổi mà ngời ta
thờng nói đến dới những tên gọi "thời kỳ hậu công nghiệp"; "làn sóng văn
minh thứ ba" Trong hoàn cảnh đó, trên bình diện quốc gia, sự PTKT đã
trở thành mục tiêu chiến lợc số một của mọi quốc gia và hợp tác đã trở
thành một phơng thức thực hiện sự phát triển đó.
Việt Nam là một nớc nghèo, về thu nhập vào loại thấp nhất thế giới,
lại phải trải qua nhiều năm chiến tranh tàn phá, chịu đựng những hậu quả
rất nặng nề. PTKT từ lâu đã trở thành vấn đề cấp bách đối với nớc ta, nhng
do những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử nhất định, PTKT cha đợc giải
quyết đầy đủ, bị rơi vào hàng thứ yếu. Cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội từ
cuối thập kỷ 70 đầu 80 biểu hiện trớc hết ở tình trạng suy thoái kinh tế, sản
21
xuất trì trệ, lạm phát phi mã, đời sống của nhân dân gặp khó khăn, thiếu thốn.
Công cuộc đổi mới bắt đầu từ năm 1986. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã
xác định: "Phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi
hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội
khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH, coi đó là điều kiện

tế phát triển nhanh. Muốn giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, và muốn
động viên đợc tính tích cực của mọi tầng lớp nhân dân, phải có cơ sở vật
chất là PTKT. Muốn tăng cờng sức mạnh quốc phòng để bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ; muốn xóa đói giảm nghèo, giải quyết các TNXH, phát triển văn
hóa, giáo dục, nâng cao dân trí , tất cả đều không thể không dựa vào sức
mạnh của kinh tế. Vì thế nhiệm vụ PTKT với tốc độ cao và ổn định phải đ-
ợc coi là nhiệm vụ trọng tâm.
Một nớc còn ở tình trạng nghèo nàn và lạc hậu nh nớc ta, trớc hết
cần u tiên cho PTKT. Tuy nhiên không phải là sự "u tiên" bằng mọi giá, mà
điều quan trọng là ở chỗ: PTKT không thể không gắn với một chế độ chính
trị mang tính cách mạng, tiến bộ xã hội và tính nhân văn sâu sắc. PTKT
không thể tách rời tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ
môi trờng, CNH phải đi đôi với HĐH. Mục tiêu tối cao của sự nghiệp CNH,
HĐH là phải hớng tới việc nâng cao chất lợng sống cho mỗi thành viên
trong cộng đồng xã hội. Mục tiêu đó chỉ có thể thực hiện đợc khi có sự kết
hợp hài hòa giữa PTKT nhanh với việc cải thiện đời sống nhân dân, đảm
bảo công bằng và bình đẳng xã hội, đồng thời giải quyết tốt các VĐXH,
nâng cao chất lợng môi trờng sống.
Hiện nay, nhiều nớc có mức PTKT cao đang phải đối phó với hàng
loạt VĐXH gay gắt: phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội, thất nghiệp, sự
23
băng hoại về đạo đức, nhân phẩm Thực tiễn đó đã đem lại cho chúng ta
bài học quý báu về sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố kinh tế và nhân
tố xã hội trong quá trình phát triển.
Nhìn một cách tổng thể, một quá trình phát triển phải bao gồm đầy
đủ ba mục đích: Thứ nhất, các giá trị vật chất đợc đa lên u tiên hàng đầu và
trong giá trị vật chất, giá trị kinh tế đợc xem là quan trọng nhất. Thứ hai,
bao gồm các giá trị xã hội, chính trị, văn hóa và những chế định có liên
quan. Thứ ba, liên quan đến giá trị nội tại của con ngời, làm cho con ngời
trở nên ngời hơn, nhân bản hơn. Ba mục đích này không thể tách rời nhau,

sinh những quan hệ giữa con ngời với con ngời, giữa con ngời với cộng đồng
và tất yếu cũng từ đó nẩy sinh những VĐXH dù là dới dạng thô sơ nhất. Theo
các nhà nghiên cứu phơng Tây "vấn đề xã hội" lần đầu tiên đợc đặt ra vào
những năm 30 của thế kỷ 19, nh là một khó khăn căn bản, nan giải của một xã
hội, trong đó sự bền vững bị đe dọa và xã hội lâm vào nguy cơ bị tan rã do
những điều kiện sinh sống của những tác nhân, đồng thời là những nạn nhân
của cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là sự bần cùng hóa những ngời lao động,
gây nên những căng thẳng xã hội, hậu quả của quá trình CNH dã man.
Sau này, khái niệm "vấn đề xã hội" thờng đợc nghiên cứu theo nghĩa
hẹp, tơng đối độc lập với các vấn đề kinh tế, chính trị. Đối với các nhà
nghiên cứu xã hội học: "Có VĐXH khi những thành viên của một cộng đồng
(lớn hay nhỏ) nhận thấy những dấu hiệu hoặc điều kiện có ảnh hởng tác
động hoặc đe dọa đến chất lợng cuộc sống của họ (chất lợng cuộc sống ở
25

Trích đoạn Vài nét về tình hình, đặc điểm các tỉnh Bắc Trung Bộ thực trạng kết hợp phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn bắc trung bộ trong quá trình Vấn đề dân số, lao động và việc làm Vấn đề đói nghèo và phân hóa giàu nghèo Những quan điểm cơ bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status