TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 16

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
  
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN TRIẾT HỌC
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Lê Bình Phương Luân
Sinh viên thực hiện:
Võ Huệ Minh
Huế, tháng 5 năm 2014
Lời Cảm Ơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy, cô giáo
trong Khoa Lý luận Chính trị - Trường Đại học
Khoa học Huế đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt
những năm học vừa qua.
Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất
tới thầy giáo ThS. Lê Bình Phương Luân - người
đã tận tình hướng dân và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2014
Sinh viên: Võ Huệ Minh
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trung Quốc là một trung tâm văn minh lớn của nhân loại và cũng là cái nôi
đầu tiên của lịch sử loài người. Trung Quốc có nền triết học từ rất sớm và đạt đến
trình độ cao, góp vào dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng nhân loại, với nhiều
phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học. Trung Quốc còn là
nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh
Châu Á cũng như toàn thế giới. Trong số các học thuyết triết học lớn đó phải kể
đến trường phái triết học Nho giáo do Khổng Tử sáng lập. Nét đặc thù của triết
học Trung Quốc thời kỳ này là tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có xu hướng đi
sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội. Tư tưởng
giáo dục của Khổng Tử không chỉ có ảnh hưởng đối với Trung Quốc mà còn các
nước khu vực, trong đó có Việt Nam.
Ngay sau khi cách mạng tháng 8-1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã ký ngay sắc lệnh thành lập “Bình dân học vụ”, kêu gọi mọi người dân tham
gia học tập để xóa nạn mù chữ. Người xác định trong ba thứ giặc, giặc đói, giặc
ngoại xâm thì giặc dốt là nguy hiểm nhất, nếu không tiêu diệt được giặc dốt thì
nguy cơ mất nước ngày càng cao.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Muốn xây dựng thành công
CNXH phải có con người XHCN” [25; 310], đó là những con người có tri thức và
tầm hiểu biết cao, có lòng nhiệt huyết, sức sáng tạo lớn. Văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ X viết: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH đất nước” [7; 94-95]. Nó
được xem là động lực của sự phát triển xã hội. Muốn vậy, phải đào tạo ra những
con người có tri thức, có trình độ, năng lực, có tài đức, vừa “hồng”, vừa
“chuyên”, đảm đương trách nhiệm, gánh vác công việc của đất nước trong thời
kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Do đó, đẩy mạnh công tác giáo dục - đào tạo
trong điều kiện đất nước bước vào thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế có vị trí
vô cùng quan trọng.

điều kiện nước ta hiện nay nhưng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nhiều
ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2
Với những nhận định bước đầu đó, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục
của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khổng Tử - nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà chính trị lỗi lạc của Trung
Quốc cổ đại, được tôn vinh là Vạn thế sư biểu. Là người sáng lập ra Nho giáo,
một trong những trường phái triết học lớn của Trung Quốc. Từ xưa cho đến nay
rất nhiều tác giả đã tìm hiểu và nghiên cứu về ông cũng như tư tưởng của ông,
trong đó có tư tưởng giáo dục.
Có thể nêu lên một số tác phẩm tiêu biểu sau:
- “Khổng Tử” của Lý Tường Hải, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.
- “Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn học, Hà Nội, 1995.
- “Nho giáo họ Khổng” của Nguyễn Hiến Lê, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1992.
- “Khổng Phu Tử và Luận ngữ” của Phạm Văn Khoái, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nôi, 2004.
- “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, Hà Nội, 2001.
- “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1993.
- “Nho học ở Việt Nam - giáo dục và thi cử” của Nguyễn Thế Long, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1995.
- “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người” của TS. Nguyễn Thị
Nga - TS. Hồ Trọng Hoài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
- “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con
người” của TS. Nguyễn Thị Tuyết Mai, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.
Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các tạp chí Triết học, giáo dục lý
luận như :
- Về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, Tạp chí triết học, số 3, Lê Ngọc
Anh, 1999.

+ Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
+ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục.
- Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp chung là phép biện chứng duy vật mác xít.
4
+ Đồng thời sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp,
logic và lịch sử, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn….
5. Đóng góp của khóa luận
- Góp phần hệ thống hóa, làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo
dục của Khổng Tử; ý nghĩa của nó đối với công tác giáo dục ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
- Làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Triết học và những ai
quan tâm đến lĩnh vực này.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận gồm có 2 chương, 5 tiết.
Chương 1. Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử.
Chương 2. Ý nghĩa tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đối với sự nghiệp giáo
dục ở Việt Nam hiện nay.
5
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
1.1. Cơ sở hình thành tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
1.1.1. Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
Như chúng ta đã biết, sự xuất hiện của mỗi học thuyết, tư tưởng không phải
một cách ngẫu nhiên hay từ hư vô, mà luôn có cơ sở khách quan của nó. Một
trong những cơ sở khách quan quan trọng mà từ đó mỗi học thuyết, tư tưởng ra

cơ sở đó hình thành.
Đồ sắt ra đời không chỉ thúc đẩy nền nông nghiệp Trung Quốc phát triển
mà còn thúc đẩy nền thủ công nghiệp phát triển. Đồ sắt được sử dụng phổ biến
làm cho sự phân công lao động trong sản xuất thủ công nghiệp đạt tới trình độ
cao hơn, chuyên nghiệp hơn, thúc đẩy một loạt các ngành nghề thủ công nghiệp
phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề mộc, nghề làm gốm…
Sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công nghiệp đã có ý nghĩa tích
cực trong việc giải phóng sức lao động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông.
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp
ngày càng phát triển hơn trước, hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động và
sự xuất hiện nhiều đô thị trở thành trung tâm thương mại.Tiền tệ đã xuất hiện. Do
nhờ buôn bán mà giàu có, trong xã hội hình thành một lớp thương nhân ngày
càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống… Tầng lớp này thường kết
giao với các bậc chư hầu, công khanh đại phu, tìm cách leo lên giành quyền lực
với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời.
Về chính trị - xã hội, những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu đẫn đến những
biến đổi về mặt chính trị trong thời Xuân Thu. Nếu như trong thời Tây Chu chế
độ tông pháp, “phong hầu, kiến địa” vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý
nghĩa về mặt chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho
nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời gian dài, thì đến thời Xuân Thu,
chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, các quan hệ kinh tế, chính
trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày
càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước. Nhiều nước
7
chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đã đưa ra khẩu
hiệu “tôn vương bài di”, nhưng thực chất là mưu cầu lợi ích cá nhân, mở rộng
thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, trang giành địa vị bá chủ thiên hạ đã
đua nhau xuất binh đánh nhau suốt mấy trăm năm. Thời Xuân Thu có khoảng
242 năm nhưng đã xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Đầu thời Tây Chu có
hàng ngàn nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước. Trong đó

tộc thị tộc cũ của nhà Chu đang nắm chính quyền.
- Mâu thuẫn giữa tầng lớp sản xuất nhỏ, thợ thủ công, thương nhân với giai
cấp quý tộc thị tộc Chu.
- Mâu thuẫn nông dân công xã thuộc các tộc bị nhà Chu nô dịch với nhà
Chu và tầng lớp mới lên đang ra sức bóc lột, tận dụng hết sức lao động của họ.
Đó là những mâu thuẫn của thời kỳ lịch sử đang đòi hỏi giải thể chế độ nô
lệ thị tộc, tiến nhập vào xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ
gia trưởng (còn gọi là Tông pháp), xây dựng nhà nước của giai cấp quốc dân, giải
phóng lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển.
Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kỳ Xuân Thu - Chiến
Quốc đã đặt ra cho các nhà tư tưởng những câu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị,
luân lý đạo đức, pháp luật, quân sự,… đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có những
tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những câu trả lời, đưa ra những giải pháp giải
quyết những vấn đề thực tiễn xã hội lúc bấy giờ. Trong nước xuất hiện những
trung tâm (như Tắc Hạ của nước Tề), những tụ điểm (như nhà Mạnh Thường
Quân) mà ở đó “kẻ xử sĩ bàn ngang” hay “bàn việc nước”. Nhìn chung họ đều
đứng trên lập trường của giai cấp mình, tầng lớp mình mà phê phán (để cải tổ hay
để lật đổ) trật tự xã hội cũ, xây dựng (trong tư tưởng) xã hội tương lai và tranh
luận, phê phán, đả kích lẫn nhau. Lịch sử gọi là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm
nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) [31; 24-27]. Vì vậy,
trong thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học thuyết lớn.
Chính thời kỳ “Bách gia tranh minh” đó hình thành nên trường phái triết học lớn
trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc và trường phái triết học Nho gia do Khổng Tử
là người sáng lập là một trong những trường phái triết học lớn thời kỳ này.
Trường phái triết học đã có ảnh hưởng sâu sắc không chỉ thời đó mà cả một thời
kỳ lịch sử lâu dài sau này.
9
1.1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử
Khổng Tử (551 - 479 tr.CN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ra ở tại Ấp
Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông,

Trung đô). Thời gian này chính sự của ông được rất nhiều nơi sử dụng làm pháp
độ. Chẳng bao lâu ông được phong làm Đại Tư Khấu, rồi Nhiếp tướng bộ coi
việc in, ấn định luật lệ, phép tắc trong nước. Trong bốn năm nhận chức, Khổng
Tử đã thẳng tay trừng trị loạn quan, nịnh quan trong triều, đem lại cho nước Lỗ
cảnh “ban đêm ngủ không phải đóng cửa, ban ngày ra đường không ai nhặt của
rơi, luân thường đạo lý được coi trọng”. Song vua nước Lỗ đam mê tửu sắc, đàn
hát, ca múa, xa hoa, bỏ bê việc triều chính, ông can ngăn không được mới xin từ
chức. Từ đó, ông đi chu du các nước chư hầu như: Tề, Vệ, Tần, Sở, Tống. Đến
68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, ở nhà dạy học và làm sách để truyền đạo cho
muôn đời.
Cuộc đời Khổng Tử là những bước thăng trầm, vất vả, dù cho ông là người
uyên thâm, tài cao đức rộng, muốn mang đạo của mình ra giúp đời, nhưng không
một ông vua nào nhìn thấy để trọng dụng một con người đầy tài năng đức độ này
cả. Trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, Khổng Tử đã tổng kết lại cuộc đời
của mình như sau: “Ta 15 tuổi để chí vào việc học đạo; 30 tuổi biết tự lập tức
khắc kỷ phục lễ cư theo điều lễ mà làm; 40 tuổi không nghi hoặc nữa, tức có trí
đức nên hiểu rõ ba đức: nhân, lễ, nghĩa; năm 50 tuổi biết mệnh trời, biết được
việc nào sức người làm được, việc nào sức người không làm được; 60 tuổi đã
biết theo mệnh trời; 70 tuổi theo lòng muốn của mình mà không vượt ra ngoài
khuôn khổ đạo lý, không phải suy nghĩ gắng sức mà hành động tự nhiên hợp đạo
lý” [16; 39].
Sau 14 năm lang thang, phiêu bạt qua nhiều nước tìm bậc minh quân nhưng
không thành giống như “con chó lạc mất chủ” [10; 15] - như cách nói của ông -
Khổng Tử lại quay về tiếp tục sự nghiệp“trồng người”. Tuy có mấy lần ông ra
làm quan nhưng dạy học vẫn là sự nghiệp lớn mà Khổng Tử theo suốt cuộc đời.
Với tấm lòng tâm huyết của người thầy, Khổng Tử lấy giáo dục làm tối trọng đại.
Ông đã hết lòng vì học trò, luôn mang tư tưởng “dạy không biết chán, học không
biết mỏi”, nên Khổng Tử đã đào tạo nên một lớp thế hệ học trò xuất sắc, trong đó
nổi bật có 72 người hiền tài. Học trò của ông nhiều thành phần, nhiều người đến
từ nơi rất xa, “có đủ con nhà quý tộc, trung lưu, bình dân, có người làm quan Tể,

Từ mục đích đó, Khổng Tử tập trung vào việc đào tạo người quân tử. Nếu
giáo dục được Khổng Tử xem là phương tiện chính góp phần cải biến xã hội từ
loạn thành trị, thì người quân tử là nhân tố cốt lõi, là động lực dẫn dắt xã hội đến
thịnh trị. Chính vì vậy, ông dành tâm huyết của mình cho việc đào tạo người
quân tử. Trần Trọng Kim cho rằng: “Đã nói rằng đạo của Khổng Tử là đạo
người quân tử cốt dạy người ta cho thành người có đức hạnh hoàn toàn và có
nhân phẩm tôn quý, cho nên bao nhiêu những sự dạy dỗ, học tập của Khổng
giáo đều chứa cả vào sự gây thành người quân tử” [13; 99].
Nhằm mục đích trên, Khổng Tử luôn hướng học trò vào mục đích làm
người cai trị. Khổng Tử cho rằng: mục đích của học giả đời xưa là học để có tri
thức, để sửa mình, còn mục đích của học giả đời nay là học để có địa vị và danh
phận trong xã hội, tức là học để làm quan, để dẫn dắt xã hội tới thịnh trị: “Người
đời xưa vì mình mà học đạo; người đời nay vì người mà học đạo” (Cổ chi học
giả vị kỷ; kim chi học giả vị nhơn) [15; 226-227]. Tư tưởng “Học dĩ ứng dụng”,
tức là học để ứng dụng có ích cho quốc gia xã hội, luôn là mục đích cao nhất của
người học. Nếu học mà không ứng dụng được, không thể đưa tài học để giúp
nước thì việc học đó chẳng há vô ích, học phải có mục đích rõ ràng ứng dụng
trong cuộc sống. Học để phân định phải trái, thực hư, điều gì thấy còn nghi ngờ,
còn khuyết thì đừng nói; điều gì thấy ít kinh nghiệm, còn khuyết đã thì không
nên làm; cẩn thận trong lời nói, trong việc làm thì ít lỗi, ít ăn năn. Học phải có gì
13
ích dụng nếu không thì cũng chẳng để làm gì. Khổng Tử dạy rằng: “Đọc ba
trăm thiên Kinh Thi, giao cho việc chính trị mà làm không nên, sai đi sứ bốn
phương mà không biết ứng đối như vậy học nhiều để làm gì ?” [16; 214].
Nếu người học chỉ có khư khư ôm lấy cái đạo học ấy mà không đem ra ứng
dụng thực hành thì sao có thể gọi là thực học được. Vì vậy, học đạo để hành đạo
là yêu cầu thiết thân đối với người giáo dục.
Tư tưởng học để làm chính sự, làm quan để biến xã hội từ “loạn thành trị”
của Khổng Tử được các học trò rất thấm nhuần. Tử Lộ, một học trò của ông cho
rằng: “người có học, có tài đức mà không ra làm quan là không hợp đạo nghĩa.

Cuộc đời của Khổng Tử là một tấm gương ham học cầu tiến. Thể hiện rõ rệt
một phẩm cách tinh thần cứng cỏi, truy cầu không mệt mỏi, Khổng Tử đã nhiều
lần nhấn mạnh rằng: “không phải ta sinh ra đã có am hiểu tri thức, chẳng qua là
15
ta đam mê các tri thức văn hóa của bậc thánh hiền cổ xưa nên cố gắng tầm học”
[16; 129]. Khổng Tử là người có chí hướng cao xa, mong muốn được đem sự
hiểu biết của mình ra giúp dân cứu nước, nhưng chí nguyện không thành công,
đành quay về dạy học truyền bá tư tưởng thông qua học trò của mình, với hi
vọng học trò lĩnh hội và thực hiện được phần nào tư tưởng của ông.
Theo Khổng Tử, học để “Tu thân - tề gia - trị quốc - bình thiên hạ” và đây
cũng chính là con đường đi của người quân tử. Và trong đó tu thân là nhiệm vụ
quan trọng nhất của mỗi người. Người quân tử muốn trở thành người có ích cho
xã hội, xây dựng một xã hội tốt đẹp, hòa đồng, thì trước hết phải tu thân. Ở đời tu
thân là quan trọng nhất, không tự tu thân thì không thể giúp đời được không làm
tròn bổn phận của mình với thiên hạ được“Những vị vua, những vị thánh thửa
xưa muốn cho đức của mình tỏa sáng, trước hết phải lo sửa trị nước mình; muốn
sửa, trị nước mình trước hết phải lo sửa mình; muốn sửa trị nhà mình trước hết
phải tu tập lấy mình bằng cách thấu suốt đạo trời đất để giữ cho lòng ngay
thẳng” [3; 80].
Việc tu thân không chỉ của người quân tử, mà là việc của tất cả mọi người.
Đây chính là mục đích sâu xa trong mục đích giáo dục, để xây dựng một xã hội trật
tự, một đất nước thanh bình của Khổng Tử. Vì vậy trong quá trình dạy học, ông luôn
khuyên học trò rèn luyện được như người quân tử với những phẩm chất sau:
1. Khi nhìn phải nhìn cho minh bạch, nhìn đúng vấn đề
16
2. Khi nghe phải nghe cho rõ ràng, nghe lời người trung thành
3. Nói về hình thức sắc mặt phải ôn hòa
4. Nói năng phải trung thực
5. Tướng mạo phải trang nghiêm
6. Làm việc trọng sự kính nể

Tử, lấy hai chữ chí thiện làm cực điểm, chí thiện tức là nhân. Từ đầu chí cuối chỉ
có một mối, chỉ lấy theo thiên lý làm gốc, dùng hiếu đễ, lễ nhạc mà khiến người
ta tiến đến bậc nhân” [13; 103], để trở thành bậc nhân, bậc thánh con người phải
hiểu đạo lý ở đời. Khổng Tử cho là cái đạo ấy có cái vui, cái thú và ông đã cực tả
18
lòng hâm mộ nhiệt thành đạo lý trong sự học ở câu nói: “Triêu văn đạo tịch tử
khả hỹ” - Buổi sáng được nghe mà hiểu đạo, buổi tối chết cũng thỏa [16; 76].
Tóm lại, mục đích giáo dục của Khổng Tử là nhằm đào tạo ra cho xã hội
con người có đủ “đức”- “tài”, đem tài trí và sức lực của mình ra giúp đời, dám
xả thân vì nghĩa lớn, vì sự bình yên cho xã hội, cho thiên hạ. Con người mà tài
đức song toàn Khổng Tử hướng đến là bậc quân tử có nhân cách cao thượng, tâm
địa rất thánh hiền sống vì điều nghĩa. Như vậy, xuất phát từ việc coi giáo dục là
một phương tiện chính trị hữu hiệu nhất nhằm ổn định trật tự xã hội, mục đích
của nền giáo dục Khổng Tử không thể không gắn liền và góp phần thực hiện
những mục tiêu chính trị. Có thể nói, trước yêu cầu của xã hội, Khổng Tử đã
“chính trị hóa” giáo dục một cách sâu sắc, trong đó, mục đích giáo dục con
người và mục đích phục hưng xã hội là thống nhất, không tách rời nhau. Những
mục đích này đã chi phối đến việc lựa chọn đối tượng giáo dục của Khổng Tử.
1.2.2. Đối tượng giáo dục
Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân
lầm than cơ cực, chiến tranh liên miên giữa các nước chư hầu, xuất hiện thêm
nhiều giai cấp tầng lớp mới trong xã hội. Trước xu thế biến đổi của thời đại,
nhưng Khổng Tử đã có những khuyng hướng tiến bộ trong chủ trương giáo hóa
con người đó là “Hữu giáo vô loại” [16; 298], có nghĩa là mọi người trong xã
hội đều có quyền được học, được giáo dục, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo,
chủng tộc, thiện ác, sang hèn, thông minh hay đần độn và được giáo dục là quyền
19
lợi của tất cả mọi người. Khi được giáo dục con người trở về với tính thiện, sẽ
hiểu được đạo, hành đạo và đạt đạo. Đây là tư tưởng có tính đột phá trong một xã
hội còn nhiều quan điểm bảo thủ, phải đặt tư tưởng Khổng Tử vào thời điểm lịch

Với tư tưởng “hữu giáo vô loại”, học trò của Khổng Tử đến từ nhiều tầng
lớp khác nhau trong xã hội. Trong số các học trò của ông, vừa có con em quý tộc
như Tử Du, Tử Tiên, Nam Cung Kinh Thúc ; lại có cả bình dân gia cảnh bần
hàn, xuất thân hèn kém như Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiêm, Nhiễm Cầu, Nhiễm
Ung ; vừa có những người buôn bán như Tử Cống, Tử Trương ; vừa có con nhà
lao động như Tăng Sâm; vừa có người trước đây là hạng bất thiện như Nhan Trác
Du, hay “cuồng phong” như Sầm Trương, Mục Bì
21

Trích đoạn Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử với nền giáo dục Việt Nam trong lịch sử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status